Tấm vải thổ cẩm

TGPSG -- Khi thời gian xoay vần, những cơn mưa đầu mùa làm lạnh cả một vùng đồi núi. Sương mù phủ trắng buôn làng. Cảnh những đứa trẻ lạnh cóng trong màn sương khiến nó chạnh lòng. Nhận được từ một người bạn chiếc chăn ấm, nó vội mang xuống tặng một gia đình nghèo trong buôn làng.

Chiếc chăn được dệt bằng bông, ấm áp và mềm mại. Nó mừng rỡ đem niềm vui ấy đến cho một gia đình nhỏ. Trên con đường dốc, nó cố điều khiển chiếc xe máy men theo lối nhỏ để đến ngôi nhà ấy. Gọi là nhà nhưng thực ra chỉ là những mảnh gỗ ghép tạm, lụp xụp. Vừa bước vào, hai đứa bé chạy ra ríu rít chào:

- “Niam să mơi” (chào sơ).

Nó cũng chào lại, cúi xuống cho hai đứa bé vài cái kẹo rồi trao chiếc chăn cho mẹ của chúng là chị Ka Hịu:

- Trời lạnh rồi, mơi (sơ) cho cái chăn đắp cho ấm nhé!

Đôi mắt rưng rưng của người mẹ trẻ cúi xuống:

- Ưn ngai mơi (cảm ơn sơ).

Hỏi thăm gia đình mới biết chồng chị đi làm thuê, còn chị Hịu ở nhà trông hai con và cấy lúa. Chào tạm biệt để ra về, nó chợt nghe tiếng gọi. Quay lại, nó thấy chị Hịu mang ra một chiếc khăn quàng cổ bằng vải thổ cẩm và nói:

- Cho mơi cái khăn này. Con mới dệt đấy. Khăn này quàng ấm lắm.

Rồi chị cẩn thận choàng khăn cho nó:

- Mơi về kẻo sương xuống lạnh lắm đấy!

Trái tim nó như bị bóp nghẹt. Một cảm xúc nghẹn ngào xen lẫn bối rối dâng lên. Nó không dám nhận chiếc khăn ấy. Nhưng rồi nó hiểu rằng, theo phong tục mến khách của người Kơ Ho, khi họ tặng ai điều gì mà bị từ chối, họ sẽ nghĩ rằng mình không được tôn trọng hoặc món quà của mình không đủ tốt. Vì thế, nó nhận lấy chiếc khăn như đón nhận cả tấm lòng của chị Hịu và khẽ hỏi:

- Sao chị Hịu không giữ lại để quàng cho ấm?

Chị mỉm cười:

- Mơi cũng lạnh mà. Với lại tấm khăn này dệt nhanh thôi.

Tấm vải thổ cẩm là vật dụng quen thuộc của phụ nữ vùng sơn cước này. Vải thổ cẩm được dệt thành khăn địu cho trẻ từ 0 đến 2 tuổi để các em luôn được ở bên mẹ. Thổ cẩm còn được may thành áo váy dùng hằng ngày hoặc những bộ trang phục cầu kỳ dành cho các cô gái trong lễ cưới hỏi, cũng như được sử dụng trong những dịp lễ đặc biệt.

Khi đến tuổi trưởng thành, các cô gái đã bắt đầu trồng bông và lên rừng tìm lá cây để nhuộm vải. Theo tục lệ, con gái Kơ Ho phải biết dệt vải trước khi lấy chồng; biết dệt thổ cẩm mới được “kup bao” (bắt chồng). Phụ nữ Kơ Ho dệt thổ cẩm mọi lúc, mọi nơi. Khi đàn ông biết cầm dao đi rừng cũng là lúc phụ nữ biết cầm dưngpong (dụng cụ dệt vải của người Kơ Ho). Dệt thổ cẩm đòi hỏi sự khéo léo của đôi tay và sự tinh anh của đôi mắt.

Nguyên liệu của nghề dệt truyền thống là sợi bông. Trước đây, khi cây bông còn ít, người ta còn sử dụng vỏ cây ngâm, đập rồi se thành sợi để dệt vải. Các loại cây tạo màu đều được lấy từ tự nhiên. Màu xanh được làm từ lá cây tơrung vò nát, ngâm trong ché khoảng một tuần rồi nghiền mịn. Nước lá đông lại thành từng cục nhỏ, được phơi khô. Khi nhuộm, người ta hòa tan chất keo ấy trong nước rồi ngâm sợi khoảng hai ngày. Màu xanh dương lấy từ lá cây chát (chàm be); màu đỏ lấy từ một loại cỏ thuộc họ dền, phơi khô rồi nấu và lọc lấy nước nhuộm; màu vàng lấy từ củ nghệ dại; màu cam được tạo từ hạt quả cari, còn gọi là quả nho... Để màu nhuộm bền hơn, người ta hòa thêm bột vỏ sò và tro củ chuối vào dung dịch nhuộm.

Công cụ và khung dệt thổ cẩm của người Kơ Ho khá đơn giản. Khung dệt chỉ dùng cho một người và không được đặt cố định. Bộ khung được làm từ những thanh gỗ, tre hoặc ống lồ ô. Khi dệt mới căng ra, còn khi không sử dụng thì xếp gọn lại. Nếu không có sản phẩm đang dệt dang dở, thật khó để nhận ra đó là khung dệt của đồng bào.

Hoa văn trên thổ cẩm Kơ Ho khá đơn giản, chủ yếu là hình thoi và hình tam giác kết nối với nhau thành các đường viền, tạo điểm nhấn cho tấm vải. Các hình khối chắc khỏe mang nét đặc trưng riêng của người Kơ Ho. Gam màu chủ đạo thường là màu đen, trắng, xanh; màu đỏ được dùng để trang trí hoa văn. Người Kơ Ho đặc biệt ưa chuộng các gam màu tối, màu trầm, nhất là xanh và xanh đen. Các sản phẩm thổ cẩm của họ nổi tiếng bởi độ bền đẹp và nét đặc trưng riêng biệt.

Sản phẩm thổ cẩm của người Kơ Ho dày dặn nhưng vẫn mềm mại, thoáng mát và dễ sử dụng. Qua từng tấm vải, người phụ nữ Kơ Ho gửi gắm tâm hồn, tình cảm và cảm nhận của mình về thiên nhiên và con người bằng những hoa văn sinh động, gần gũi như bông hoa, hình người, cây nêu, nhà sàn, các hình kỷ hà, muông thú hay những vật dụng quen thuộc trong đời sống hằng ngày. Mỗi họa tiết đều mang một ý nghĩa riêng. Chẳng hạn, hình mắt chim tượng trưng cho cuộc sống gắn bó với núi rừng; hình chiếc chà gạc tượng trưng cho công việc làm nương rẫy...

Trên một khổ vải, phụ nữ Kơ Ho thường tạo hai dải hoa văn chạy dọc hai bên mép vải. Đây là công việc rất khó, đòi hỏi người dệt phải am hiểu bố cục, cách sắp xếp sợi ngang và sợi dọc. Người ta phải quy ước với nhau số lượng từng màu sợi để tạo nên hoa văn mong muốn. Điều này chỉ những người thật sự lành nghề mới làm được.

Tấm vải thổ cẩm của anh chị em vùng cao mang đến một nét văn hóa đặc trưng cho con người nơi đây. Có thể những tấm vải ấy được bày bán ở nhiều cửa hàng lưu niệm hay tiệm vải, nhưng ít ai biết hết các công đoạn để làm nên chúng. Chỉ khi đến, ở lại, tìm hiểu và chứng kiến công việc từ se sợi, nhuộm sợi đến lên khung dệt, sắp xếp từng sợi chỉ để tạo nên đúng hoa văn mong muốn, người ta mới cảm nhận được sự kiên nhẫn và đôi tay khéo léo của những người phụ nữ sơn cước.

Nghề dệt ấy đã được gìn giữ qua bao thế hệ. Tưởng chừng chỉ là một nghề nhỏ bé nơi góc núi xa xôi, nhưng lại gợi nhớ lời ngôn sứ Isaia: “Con như người thợ dệt đang mải dệt đời mình” (Is 38,12). Người thợ dệt ấy dệt đời mình trong tình thương của Yàng (Thiên Chúa). Yàng cho mưa, cho nắng để con người trồng lúa làm rẫy; cho cây bông để có sợi dệt vải; cho quả cà phê chắc hạt; cho cỏ mọc xanh để đàn trâu, đàn bò có thức ăn... Tất cả thiên nhiên như muốn nói lên tình thương của Yàng dành cho những con người vùng núi này, để rồi mỗi người nơi đây đều mang trong mình nét chân chất của núi đồi.

Tuy nhiên, để dệt được một tấm thổ cẩm cần rất nhiều công sức, nên số người còn gắn bó với nghề ngày càng ít. Ngày nay, phần lớn chỉ những người lớn tuổi vẫn còn giữ nghề dệt thổ cẩm thủ công truyền thống.

Trở về cộng đoàn, nó chợt nhớ đến một tư tưởng của cha Henri Nouwen: “Chính Chúa Thánh Thần sẽ đảo ngược mọi suy nghĩ của con người: người chết có sứ mạng với người sống, người da màu có sứ mạng với người da trắng, người nghèo có sứ mạng với người giàu; những người mà thế gian coi là tầm thường, hèn mọn lại được Thiên Chúa chọn để loan báo Tin Mừng”.

Nó cứ nghĩ mình đến để mang chiếc chăn ấm cho gia đình chị Hịu, nhưng chính chị lại trao cho nó sự ấm áp của tình người. Nó cứ nghĩ mình đến vùng đất Tây Nguyên để dạy học, để mang kiến thức cho người dân nơi đây, nhưng chính họ lại dạy nó bài học về thiên nhiên và sự phó thác vào Thiên Chúa. Từ trong cái nghèo, họ dạy nó nhân đức khó nghèo đích thực: sự đơn sơ và hiền hòa.

Đang khi sống giữa buôn làng của anh chị em người Kơ Ho, nó học và hiểu thêm nhiều điều thú vị về văn hóa, công việc và con người nơi đây. Đó như một cơ hội của hy vọng mà Thiên Chúa dành cho nó ngang qua những con người vùng đồi núi này. Nó chỉ ước mong biết để Chúa dệt cuộc đời mình theo thánh ý Ngài, để trở nên một tấm vải ấm áp và hữu ích cho Hội Thánh và cho con người.

Bài: Maria Hồng Hà CMR (TGPSG)

Top