Thánh Phaolô: Hành trình từ Damas đến Roma

Thánh Phaolô: Hành trình từ Damas đến Roma

Thánh Phaolô: Hành trình từ Damas đến Roma

TGPSG / Aleteia -- Chuyện gì đã diễn ra trên đường Damas? Một người đàn ông tên Saul, nổi tiếng hăng hái truy bắt các Kitô hữu tiên khởi, từ lâu đã lên đường để đến thành phố này. Nhưng trước khi tới nơi, số mệnh đã làm đảo lộn cuộc đời ông...

Khởi sự từ Damas

Trước khi được biết đến dưới cái tên Phaolô thành Tarse, rồi trở thành Thánh Phaolô tử đạo, ông Saul - sinh ở thành Tarse, thủ phủ tỉnh Cilicie của Rôma vùng Tiểu Á - đã rất nổi tiếng do tính cách Do thái giáo không khoan nhượnghăng hái bắt bớ các môn đệ đầu tiên của Chúa Giêsu.

Là nhân chứng thích thú trong vụ ném đá đến chết Têphanô - Kitô hữu tử đạo đầu tiên, chính trên đường Damas với sự đồng ý của vị thượng tế, ông Saul đã cam kết sẽ bách hại đến cùng cái đạo mới mà ông xem là dị giáo. (Cv 9,1-2):

"Saul trong lòng lúc nào cũng sôi sục cơn thịnh nộ chết người đối với các môn đệ của Chúa. Ông đến gặp vị thượng tế và xin những bức thư gởi các hội đường Do thái giáo ở Damas, để nhằm mục đích, nếu tìm thấy bất cứ ai đi theo Con Đường của Chúa, ông sẽ xiềng họ lại mà giải về Giêrusalem."

Với tư cách công dân Rôma, sự hiểu biết của ông về thế giới bao trùm cả thế giới Do Thái lẫn Rôma. Mạnh mẽ nhờ sự hiểu biết đó, Saul bắt đầu chuyến đi từ Giêrusalem tới Damas, gần 300 km và phải mất ít nhất 8 ngày đi bộ.

Con đường Damas thăm thẳm

Khi bắt đầu chuyến đi dài ngày này, rất có thể là đi bộ chứ không cưỡi ngựa - mặc dù nhiều danh họa như Caravage đã vẽ ông ngồi trên lưng ngựa - Saul thuộc đường như lòng bàn tay và không lạ gì những tập quán của những vùng ông đi qua. Lớn lên trong một gia đình Biệt phái bảo thủ, Saul đã rất có lý để tự hào rằng đã được hưởng một nền giáo dục tốt và kiến thức sâu rộng về đạo Do Thái - đạo mà ông được đào tạo rất bài bản.

Đường rất dài và hành trình về phương Bắc thật vất vả, khi phải đi qua những ngọn đồi ở Samaria và thung lũng Jezréel trước khi băng qua thung lung sông Giođan màu mỡ. Nhưng chưa hết, vì khi qua khỏi hồ Tibériade, con đường dẫn đến Damas còn dốc lên cao khoảng 680 mét so với mực nước biển...

Cuộc cải đạo bất ngờ

Sách Công vụ Tông Đồ nhấn mạnh rằng, Saul đã sắp đến cuối chuyến đi và gần tới Damas, bỗng một sự kiện bất ngờ xảy ra :

"... Bỗng một luồng ánh sáng từ trời đổ trùm lên ông. Ông ngã nhào xuống đất; ông nghe một tiếng nói với ông: "Saul, Saul, sao ngươi bách hại Ta?". Saul choáng váng không hiểu nên hỏi lại: "Thưa Ngài, Ngài là ai?" Bấy giờ tiếng nói mới tiết lộ với ông: "Ta là Giêsu, người mà ngươi đang bách hại. Đứng dậy mà đi vào thành, sẽ có người nói với ngươi điều ngươi phải làm."

Chúng ta cũng nên lưu ý rằng sự kiện phi thường này không chỉ liên quan đến Saul. Quả vậy, Thánh Kinh xác định rằng mặc dù những người đồng hành với ông không nhìn thấy người đang nói, họ vẫn nghe được tiếng nói với Saul. Sau khi đứng dậy, Saul đã mở mắt nhưng không nhìn thấy gì và với tình trạng mù mắt như vậy, cuối cùng ông cũng đã vào thành Damas nhờ sự giúp đỡ của các bạn...

Phần cuối câu chuyện Thánh Kinh xảy ra trên đường Damas này ai cũng đã biết, Saul, mất thị giác trong vòng 3 ngày, một con số biểu tượng, không ăn không uống cho đến khi một môn đệ tên Anania, được Chúa gởi đến, chữa lành cho ông. Saul, được rửa tội ở Damas, từ nay mang tên Phaolô và là công cụ mà Chúa đã chọn để loan báo Tên Người cho các quốc gia, các vua chúa và con cái Israël…

Thánh Phaolô, người bộ hành không biết mệt của Chúa

Bắt đầu từ khi trở lại đạo Damas, Phaolô thành Tarse đã đi qua biết bao nhiêu con đường. Người bộ hành không biết mệt này quả nhiên đã không tiếc công sức để công bố Lời Chúa trên những vùng đất xa xôi nhất...

Chuyến đi thứ nhất

Để thực hiện chuyến đi truyền giáo đầu tiên vào khỏang những năm 45 đến 49, Phaolô đã xông pha trên bộ và trên biển với lộ trình dài 2000 km. Sách Công Vụ Tông Đồ thuật lại chặng đầu này của sứ vụ dưới sự che chở của Chúa Thánh Thần (Cv 13,4-5) :

"Vậy, được Thánh Thần sai đi, hai ông xuống Xêlêukia, rồi từ đó đáp tàu đi đảo Sýp. Đến Xalamin, hai ông loan báo lời Thiên Chúa trong các hội đường người DoThái. Có ông Gioan Máccô giúp hai ông.”

Hành trình này bắt đầu, giống như trình thuật Thánh Kinh kể lại, từ Antiokia (ngày nay có tên là Antalya ở miền Nam Thổ Nhĩ Kỳ), nơi những vị tiên tri của Đấng Kitô đã hội nhau lại để cùng đến thành Xêlêukia vùng Piérie như chặng đầu tiên của họ; từ đó họ lên thuyền để đến đảo Sýp. Từ đảo này, họ tiến về thành Xalamin, nằm trên bờ sông Pedieos, chỉ cách vài cây số là đến thành phố Famagouste nổi tiếng với những trận đánh trứ danh thời cổ đại. Lúc đó Phaolô, có Barnabê và Gioan-Marcô tháp tùng, bắt đầu loan báo Lời Chúa trong các đền thờ do thái giáo.

Rồi từ cảng Paphos, họ rời đảo Sýp, đi theo đường biển Attalie (ngày nay là Satalie) vùng Pamphylie, phía nam Thổ nhĩ kỳ ngày nay, đ đến thành Pergé, cũng nằm ở phía nam Thổ Nhĩ kỳ cách Antalya khoảng 20 km. Tại tất cả các thành này, Phaolô và các bạn đồng hành không chỉ công bố Lời Chúa, mà còn thực hiện rất nhiều phép lạ, nhờ vậy thu hút được nhiều người theo đạo. Sau chuyến đi dài này, họ lên đường trở lại điểm khởi hành thành Antiokia.

Chuyến đi thứ nhì

Với chuyến đi thứ nhì, Phaolô từ nay có Sila đồng hành, mở rộng chuyến viễn du về phía Tây, trước tiên bằng đường bộ khi từ Antiokia đi theo đường Tarse (quê nhà của Phaolô) đến Derbé, Lystres, Iconium và Antiokia vùng Pisidie. Mục tiêu ban đầu của chuyến đi này là đthêm sức mạnh đức tin cho những anh em đã gặp trong chuyến đi trước. Nhưng chặng đường ấy lại được nối dài thêm do sức mạnh không mệt mỏi của "đứa con sinh non của Chúa", như Phaolô đã tự gọi mình như thế (Cv 16, 4-9):

Khi đi qua các thành, các ông truyền lại cho các anh em những chỉ thị đã được các Tông Đồ và kỳ mục ở Giêrusalem ban bố, để họ tuân giữ.

Vậy các Hội Thánh được vững mạnh trong đức tin và mỗi ngày thêm đông số.

Các ông đi qua miền Phyghia và Galát, vì Thánh Thần ngăn cản không cho các ông rao giảng lời Chúa ở Axia. Khi tới sát ranh giới Myxia, các ông thử vào miền Bithynia, nhưng Thần Khí Đức Giêsu không cho phép.  Các ông bèn đi qua miền Myxia mà xuống Trôa.

Ban đêm, ông Phaolô thấy một thị kiến: một người miền Makêđônia đứng đó, mời ông rằng: "Xin ông sang Makêđônia giúp chúng tôi!"

Như vậy, đây chính là thời điểm các ông đặt chân đến châu Âu với những trạm dừng mang tính quyết định cho công cuộc truyền bá Tin Mừng, đặc biệt là tại Thessalônika với những bức thư danh tiếng, sau đó tới Athènes, cuộc tiếp đón ở thành này không được nồng nhiệt. Tổng cộng, chuyến đi này kéo dài 2 năm, từ năm 50 đến năm 52, qua 3000 km, đương đầu với cuồng phong trên biển và nhiệt độ kinh khủng trên bộ.

Chuyến đi thứ ba

Vì trong lòng vẫn cháy bỏng ước muốn gặp lại những cộng đoàn được thành lập trong những chuyến đi trước, mong củng cố đức tin cho họ, Phaolô bị thôi thúc lại lên đường vào năm 53. Hành trình mà từ nay ông đã nắm rõ từ Xêsarê xứ Giuđêa, sau đó là từ Antiokia, đến khắp vùng Galatia (ngày nay là vùng Ankara), rồi vùng Phrygie cũng nằm trong Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay, trước khi đến Êphêsô (hiện nay có tên là Selcuk) nơi ông sẽ ở lại và đương đầu nhiều khó khăn nơi đền nữ thần Artémis. Trình thuật Thánh Kinh ghi lại (Cv 20,1-3):

Sau khi cuộc náo động chấm dứt, ông Phaolô mời các môn đệ tới, khuyên nhủ họ, rồi chào từ biệt và lên đường đi Makêđônia.  Ông đi qua miền đó, nói nhiều lời khuyên nhủ các anh em, rồi tới Hy Lạp và ở lại đó ba tháng. Vì người Do Thái âm mưu hại ông, nên khi sắp xuống tàu sang miền Xyri, ông quyết định qua ngã Makêđônia mà về.

Phaolô muốn chắc chắn sẽ gặp gỡ từng cộng đoàn được thành lập trước đó và đảm bảo sự hợp nhất của họ.

Chuyến trở về Giêrusalem bao gồm nhiều chặng, mỗi chặng Phaolô muốn chắc chắn sẽ  gặp gỡ những cộng đoàn được thành lập trước đó và đảm bảo sự hợp nhất của họ.

Chuyến đi thứ tư

Phaolô - người du hành không mệt mỏi trên những nẻo đường rao giảng Kinh Thánh - sắp trải qua chuyến đi thứ tư đến thủ đô Rôma của Đế quốc, nơi ông ước ao biết bao được đặt chân đến... Nhưng ông sẽ thực hiện hành trình dài thăm thẳm này với tư cách tù nhân cho tới ngày tử vì đạo. Với tư cách công dân Rôma, Phaolô đã yêu cầu được đích thân hoàng đế xét xử, nên khi ấy ông đã bị giải lên thuyền để trải qua một chuyến hải hành thật ấn tượng khi tàu đi qua bờ biển của những thành phố duyên hải như Phénicie, Syrie, Cilicie, Pamphylie và Lycie trước khi đến được đảo Crète.

Một cơn bão sẽ làm chìm đắm chiếc tàu của ông ở đảo Malte khiến thủy thủ đoàn suýt chết đuối.

Cuối cùng mãi đến năm 61, Phaolô mới lên tới bờ biển Italia, rồi bị binh lính giải đi bộ cho đến khi chấm dứt trong những nhà tù Rôma khét tiếng.

Chuyến đi thứ năm

Sau khi được ra khỏi nhà tù Rôma, Phaolô đến đảo Crète gặp Titus - người cùng đi loan báo Tin Mừng với ông. Phaolô khá quen thuộc với hòn đảo này, ông đã đặt chân lên đó trong hành trình truyền giáo lần thứ tư. Hòn đảo này ban đầu có những người từ Palestine đến cư ngụ. Crète hiện nay là hòn đảo lớn nhất trong số gần 2.000 hòn đảo của Hy Lạp, có tổng diện tích khoảng 3.200 dặm vuông.

Phaolô thấy rằng các tín đồ ở đây không được tổ chức theo sự thúc đẩy của Chúa Thánh Thần. Họ thiếu sự hướng dẫn trong cuộc sống hằng ngày cũng như trong các buổi hội họp. Phaolô và Titô đã đi từ thành phố này sang thành phố khác trên đảo, bổ nhiệm các trưởng lão để hướng dẫn các tín hữu.

Rời đảo Crète, Phaolô đã đi đến Nicopolis, rồi đến Tây Ban Nha (Rm 15,25-28). Có bằng chứng cho thấy có thể Phaolô cũng đã rao giảng Tin Mừng tại vùng đất Anh Quốc.

Vào năm 67, Phaolô bị bắt vào nhà tù ở Rôma một lần nữa. Và vào tháng Năm hoặc tháng Sáu năm sau, Phaolô đã bị chém đầu (khoảng 66 tuổi) dưới thời Hoàng đế Nero, trước khi Nero tự sát vào ngày 9-6-68.

Lê Hưng & Vi Hữu (TGPSG) chuyển ngữ và tổng hợp

Top