Sự chuyển hóa của lớp từ ngữ Công giáo vào tiếng Việt toàn dân

Sự chuyển hóa của lớp từ ngữ Công giáo vào tiếng Việt toàn dân

Sự chuyển hóa của lớp từ ngữ Công giáo vào tiếng Việt toàn dân

SỰ CHUYỂN HÓA CỦA LỚP TỪ NGỮ CÔNG GIÁO VÀO TIẾNG VIỆT TOÀN DÂN
(Trên cơ sở ngữ liệu một số tác phẩm văn học hiện đại Việt Nam)

Linh mục Giuse Vũ Văn Khương

WGPHP (06.06.2023) – Bài viết trình bày kết quả nghiên cứu về sự chuyển hóa của một số từ ngữ Công giáo tại Việt Nam vào lớp từ ngữ tiếng Việt toàn dân, qua ngữ liệu của một số tác phẩm văn học hiện đại Việt Nam. Nghiên cứu vừa là tiếng nói về sự tương tác giữa ngôn ngữ - văn hóa Việt với Công giáo, vừa là một “bước thử” cho hướng nghiên cứu tương đối mới trong lĩnh vực ngôn ngữ tôn giáo.

 

1. Công giáo bắt nguồn từ Trung Á, vùng đất Israel và Palestine ngày nay, nhưng ngay từ ra đời đã phát triển mạnh mẽ ở châu Âu, đến độ được coi là thiết lập nên nền văn minh Kitô giáo tại châu lục này. Vì thế, khi vào Việt Nam (đầu thế kỷ XVI), dù mang nguồn gốc châu Á, nhưng tôn giáo này bị gọi là Hoa Lang đạo, với cách hiểu ban đầu là đạo của người Bồ Đào Nha, nhưng sau hiểu theo nghĩa rộng là đạo của người Tây phương. Từ ngữ này phản ảnh sự “xa lạ” phân biệt Tây phương và Đông phương, mà Việt Nam thì thuộc văn hóa Đông phương. Quả vậy, nếu mang những thuộc tính của tôn giáo này đối chiếu với văn hóa bản địa đã được tiếp xúc với Tam Giáo (Nho, Phật, Lão) thì giáo nghĩa của Công giáo hoàn toàn mới mẻ. Đấy là chưa nói đến sự khác biệt ngôn ngữ của các nhà truyền giáo. Vậy, làm thế nào để tôn giáo này được đón nhận? Cần có một quá trình hội nhập giáo nghĩa qua trung gian ngôn ngữ. Nói cách khác, sự tiếp nhận văn hóa và giáo nghĩa Công giáo vào văn hóa bản địa, cũng chính là sự chuyển hóa các từ ngữ Công giáo từ ngôn ngữ của cộng đồng xã hội cá biệt (biệt ngữ) vào trong ngôn ngữ của cộng đồng lớn hơn, thậm chí là ngôn ngữ toàn dân. Cho đến nay, hoạt động chuyển hóa này ít được nghiên cứu đối với các từ ngữ Công giáo tại Việt Nam.

2. Cơ sở lí thuyết

a. Khái niệm biệt ngữ

Theo tác giả cuốn Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt xuất bản năm 1981, biệt ngữ (còn gọi là các tiếng xã hội) bao gồm các đơn vị từ vựng được sử dụng trong phạm vi một tập thể xã hội nhất định. Có hai loại biệt ngữ: Thứ nhất là hệ thống tên gọi chính thức của các sự vật hiện tượng …thực có trong tập thể xã hội đó, chẳng hạn: ngai vàng, tàn, lọng, cung …trong triều đình phong kiến. Những biệt ngữ này có tính toàn dân cao hơn, dễ dàng được toàn thể xã hội sử dụng khi cần thiết; Thứ hai là những tên gọi chồng lấn lên tên gọi chính thức, để sử dụng trong phạm vi tập thể xã hội với mục đích phân biệt tập thể xã hội này với tập thể xã hội khác. Ví dụ: trẫm (tôi, ta), ngự thiện (việc ăn uống của vua) … [Đỗ Hữu Châu (1981): 236-237].

Biệt ngữ đối lập với ngôn ngữ toàn dân. Ngôn ngữ toàn dân là vốn từ chung của tất cả những người nói tiếng Việt không phân biệt địa phương và nhóm xã hội. Trong khi biệt ngữ chỉ là hiện tượng thuộc phạm vi sinh hoạt của một tập thể xã hội.

b. Tính biệt ngữ của lớp từ ngữ Công giáo

Công giáo là một tôn giáo. Tôn giáo thì có hệ thống giáo điều và có tổ chức giáo hội. Thói quen người ta thường phân biệt giáo hội và xã hội, nhưng thực ra, giáo hội cũng là một tập xã hội, nhưng là tập thể xã hội của những người có chung đặc điểm tôn giáo là Công giáo. Tập thể nào thì cũng có nhu cầu giao tiếp giữa các thành viên trong tập thể. Và để giao tiếp, bên cạnh các lớp từ ngữ thông thường như của các cộng đồng ngôn ngữ thông thường, tập thể xã hội có chung đặc điểm tôn giáo này còn mang một lớp từ vựng chuyển tải những khái niệm, sự vật, hiện tượng …liên quan đến phạm vi sinh hoạt tôn giáo của mình, chẳng hạn như: Thiên Chúa, Mình Thánh, Bí tích, Linh mục… Những đơn vị từ vựng này có thể là những tên gọi chính thức của các sự vật, hiện tượng riêng trong Công giáo, ví dụ: giáo xứ, ban hành giáo, mục vụ…; cũng có thể là những tên gọi chồng lấn lên các tên gọi khác để phản ánh cùng một khái niệm, ví dụ: kẻ liệt (tức là “người bệnh, người già trong cơn nguy tử”), việc xác (tức là “việc lao động chân tay”), cứng lòng (tức là thái độ “bướng bỉnh”)….[Đỗ Hữu Châu (1981): 237]. Những đặc điểm này thỏa mãn các tiêu chí biệt ngữ của lớp từ vựng Công giáo.

Tuy nhiên, như các lớp biệt ngữ khác, lớp từ ngữ Công giáo tại Việt Nam, ban đầu xuất hiện trong chu cảnh không gian tôn giáo với tư cách là những biệt ngữ, sau đó đi vào trong sinh hoạt đời thường của người Công giáo, rồi vượt ra khỏi lĩnh vực đời thường đi ngôn ngữ toàn dân, mà trong đó ngôn ngữ văn học nghệ thuật là một ví dụ.

3. Sự chuyển hóa của lớp từ ngữ Công giáo vào trong tiếng Việt toàn dân

3.1. Sự chuyển hóa vào tiếng Việt toàn dân của nhóm từ ngữ Công giáo chỉ hệ thống cấp bậc, chức danh trong Giáo hội Công giáo

Hệ thống cấp bậc trong Giáo hội Công giáo, từ ngữ chuyên môn gọi là hệ thống phẩm trật trong Giáo Hội. Hệ thống phẩm trật Công giáo gồm hai bậc chính là giáo sĩ và giáo dân. Hàng giáo sĩ là những người có chức thánh chia theo ba hạng: Giám mục, Linh mục và Phó tế. Các Linh mục khi được giao quyền coi sóc giáo xứ thì được gọi là Cha chính xứ, hoặc Cha xứ. Phương ngữ Trung và Nam Bộ gọi là Cha chánh xứ, hoặc Cha sở:

Thằng Vui nó vào nhà chung lấy cả năm trăm bạc của tao gửi cha xứ rồi. Cha xứ hỏi nó, nó bảo lấy tiền để làm vốn sang Lào buôn bán. Vậy mợ mày bây giờ nghĩ sao? (NNTA).

Ngày kia tôi cùng cha sở ra đất thánh mà viếng nhà thờ Tử Đạo, vì có ông bà tôi nằm đấy. (TLP).

Trong giao tiếp, thông thường người giáo dân gọi Giáo hoàng, Hồng y và Đức ông theo chức danh kết hợp với kính từ “Đức”, chẳng hạn: Đức giáo hoàng, Đức hồng y, Đức ông; trong khi đó, Giám mục, Linh mục lại được gọi là Đức cha và cha, chứ không gọi theo chức danh, với dụng ý thân mật hơn. Tuy nhiên, nếu trong chu cảnh giao tiếp thân mật, tất cả các chức danh từ Linh mục trở lên đến Giáo hoàng đều có thể được gọi là cha.

Rồi năm tôi lên 9 lên 10, bà nội tôi đã khảo tôi đủ các kinh để đi xưng tội lần đầu với một cha người Tây. (MTTV).

Bậc giáo dân là những tín hữu không có chức thánh, phân biệt với bậc giáo sĩ. Ví dụ: Trừ những việc sưu thuế, tạp dịch là những việc họ cùng chịu chung với dân lương, còn thì giáo dân nhất nhất cái gì cũng theo ước lệ riêng... (TCM).

Trong bậc giáo dân có những người dâng hiến cuộc đời mình cho Chúa, sống đời tu trì, gọi là các tu sĩ. Các tu sĩ nam được gọi là thầy, các tu sĩ nữ thì thường được gọi là  (sơ), dì (dì phước). Ví dụ: Mấy hôm nay, chợp được cơ hội Bính đã đẻ và đẻ con giai và nhà đương lo lắng khốn đốn không biết thu xếp ra sao, phó lý đã lên tỉnh lấy thêm của em năm chục đồng bạc nữa bảo phải mua ngay đứa bé không Bính cho bà xơ mất. (BV).

Để trợ giúp công việc cho các linh mục chính xứ, ở Việt Nam, người ta thiết lập một đoàn thể đặc biệt gọi là Ban hành giáo. Người đứng đầu Ban hành giáo gọi là trùm cả, hay ông trùm(...) Họ ăn họp, khao vọng riêng với nhau, đặt ra những tước vụ riêng. Ông trùm bên họ, cũng như người lí trưởng bên dân. (TCM).

Dưới ông trùm có ông quản giáo lo công việc dạy dỗ trẻ em: Dưới ông trùm, đến ông quản giáo, trông coi việc dạy trẻ học kinh. Sau cùng đến ông sơ, tức là những ông đã đỗ bằng Sơ học yếu lược, và đã nộp lệ và làm rượu trình bằng … (TCM).

Cạnh quản giáo là trưởng giáo, người trợ lí cho trùm họ về nội tự hoặc ngoại tự: (...) Nhưng thôi, từ ngày mai trở đi, sau khi dứt đi khỏi đứa bé và được hàng chục bạc, bố mẹ Bính sẽ vừa hết cả lo sợ ngả vạ vừa được món tiền mừng chân Trưởng giáo và ăn tiêu, sự tính toán ấy thật khôn khéo quá chừng! (BV).

3.2. Sự chuyển hóa vào tiếng Việt toàn dân của nhóm từ ngữ Công giáo chỉ hệ thống các cấp hành chính và đoàn thể trong Giáo hội Công giáo

Giáo Hội Công giáo được tổ chức thống nhất như một nhà nước mang tính chất quốc tế. Nhà nước ấy có tên gọi là Giáo Hội hay Hội Thánh, thủ đô là Tòa thánh Vatican. Trên thực tế, Vatican là một quốc gia được thế giới công nhận:

(...), chỉ còn mỗi cái mê say được sống với những giọt khí huyết của mình nảy nở, và sau đấy về chầu Chúa thì được đủ các phép lề lối Hội thánh, và được hưởng đủ mọi sự đóng góp của hàng giáp, của nhà thờ. (NNTA)

Cấp hành chính nhỏ hơn trong Giáo hội là các giáo tỉnh, giáo phận, giáo hạtgiáo xứ và giáo họ hay họ đạo có thể gọi tắt là họ. Về cấp độ sinh hoạt thì họ đạo giống như một làng của người Việt, không kể số nhân khẩu ít hay nhiều. Ví dụ: Họ đạo Lưu An có tất cả chừng sáu chục suất đinh. Sáu mươi suất đinh tập họp lại với nhau, thành một cái làng nhỏ trong cái làng to. Trừ những việc sưu thuế, tạp dịch là những việc họ cùng chịu chung với dân lương, còn thì giáo dân nhất nhất cái gì cũng theo ước lệ riêng. (TCM).

Nếu một họ đạo lớn thì sẽ có thêm các giáo khu hoặc hàng giáp như là một xóm của làng người Việt: (...) chỉ còn mỗi cái mê say được sống với những giọt khí huyết của mình nảy nở, và sau đấy về chầu Chúa thì được đủ các phép lề lối Hội thánh, và được hưởng đủ mọi sự đóng góp của hàng giáp của nhà thờ. (NNTA).

3.3. Sự chuyển hóa vào tiếng Việt toàn dân của nhóm lớp từ ngữ Công giáo chỉ hệ thống các nghi lễ và sinh hoạt phụng tự Công giáo

Trong sinh hoạt tôn giáo của người Công giáo, bảy bí tích (còn gọi là phép) rất quan trọng. Các bí tích trải dài tiệm tiến trong đời sống người tín hữu. Để trở thành người có đạo, một người phải lãnh nhận Bí tích Thánh Tẩy hay còn gọi là Phép rửa tộiPhép rửa tội ví như việc một người được sinh ra về mặt đạo: Lọt lòng mẹ, tôi đã được ôm đến Nhà thờ chịu phép rửa tội và nhận lấy tên Thánh là Giu minh ghê. (MTTV).

Bí tích Giải tội ban ơn tha tội giúp người tín hữu được chữa lành bệnh tật phần hồn, ví như trong đời sống tự nhiên con người đau ốm thì cần phải chữa bệnh. Người lãnh nhận Bí tích Giải tội gọi là người đi xưng tội, tức xưng cáo các tội mình đã phạm cho Linh mục thay mặt Chúa được quyền tha tội. Ví dụ: Rồi năm tôi lên 9 lên 10, bà nội tôi đã khảo tôi đủ các kinh để đi xưng tội lần đầu với một cha người Tây. (MTTV).

Sau khi xưng tội rồi thì mới được lãnh nhận Bí tích Mình Thánh Chúa, người giáo dân quen gọi là chịu lễ, người lương dân quen gọi là ăn bánh thánh: Cả đêm ấy tới sáng sau, tôi chỉ được xúc miệng chứ không được uống nước, rồi cùng bà tôi đến Nhà thờ đi lễ chịu Mình Thánh Chúa lần đầu. (MTTV).

Lớn hơn, đến khi lập gia đình, hai người nam nữ được lãnh nhận Bí tích Hôn phối để được chính thức là vợ chồng hợp pháp theo luật Giáo Hội: Mà thật, tháng sau, người con gái dì Liễu và tôi đến bàn thờ để chịu phép hôn phối. (TLP).

Trung tâm đời sống phụng tự của người Công giáo là thánh lễ, còn gọi ngắn gọn là lễ hay lễ Mixa: Nhưng rồi dì cũng khuây dần. Dì theo mẹ tôi đi nhà thờ học kinh và “các lễ” cầu cho được rỗi các linh hồn. (DH).

Một số từ ngữ đặc trưng khác diễn tả hoạt động tôn giáo của người Công giáo cũng được tìm thấy trong các tác phẩm văn học khảo sát, như: đọc kinh (cầu nguyện bằng các bài kinh soạn sẵn), nguyện ngắm (cầu nguyện và suy ngắm), lần chuỗi (vừa đọc kinh Kính mừng vừa di chuyển các hạt trong chuỗi, tương ứng mỗi kinh một hạt), làm dấu (nói tắt của kinh Làm dấu thánh giá), hát vãn (lối hát kinh đặc trưng của người Công giáo Việt Nam gần giống như hát chầu văn). Ví dụ: Bính ngẩng đầu bỡ ngỡ nhìn, lắng tai nghe: tiếng đọc kinh đâu đây nhẹ nhàng vang trước gió lạnh, réo rắt và thấm thía.” (BV); Dì với tôi đọc kinh và hát vãn với nhau suốt ngày. (DH).

3.4. Sự chuyển hóa vào tiếng Việt toàn dân của nhóm từ ngữ Công giáo chỉ hệ thống các cơ sở tôn giáo và đồ vật phụng tự Công giáo

Người ta thường chú ý đến sự khác nhau về niềm tin tín ngưỡng và các nghi lễ giữa các tôn giáo. Nhưng tìm hiểu, chúng ta nhận thấy ngay cả các từ ngữ chỉ cơ sở và đồ vật phụng tự giữa các tôn giáo cũng có sự khác nhau, trường hợp có thể giống về tên gọi nhưng lại không có sự trùng khớp về nội hàm ý nghĩa. Dưới đây là một số từ ngữ loại này được đưa vào các tác phẩm văn học để giúp đến gần với người đọc toàn dân:

- Mà thật, tháng sau, người con gái dì Liểu và tôi đến bàn thờ để chịu phép hôn phối. (TLP)

Bàn thờ: Bàn thấp để linh mục dâng lễ, khác với bàn thờ ở các gia đình Việt Nam thường lắp trên cao để đặt lễ vật dâng kính tổ tiên hoặc thần linh.

- Ai xuống Bà Rịa mà có đi qua đất thánh ở trong Cát của làng Phước Lễ. (TLP)

Đất thánh: nghĩa trang chôn cất những người Công giáo qua đời, còn gọi là vườn thánh.

Thấy tôi khóc nhiều quá và dỗ mãi cũng không nín, bà tôi cũng khóc theo: - Mợ Vui – gọi theo tên tục thầy tôi – thằng Vui nó vào nhà chung lấy cả năm trăm bạc của tao gửi cha xứ rồi. (NNTA)

Nhà chung: Danh từ có từ thế kỉ XVII do các cha người Bồ Đào Nha đặt để chỉ nơi sinh sống của một nhóm tu sĩ Công giáo tối thiểu là ba người, dưới sự lãnh đạo của một vị bề trên.

Bà tôi nhìn Chúa Giêsu rầu rĩ mệt lả dang hai cánh tay rỉ máu trên cây thánh giá hồi lâu rồi từ từ cúi xuống hôn mẫu ảnh nhỏ, tròn bằng bạc ở tràng hạt. (NNTA)

Cây thánh giá: Vốn là dụng cụ hình chữ thập dùng để thi hành án tử hình dưới thời đế quốc La Mã. Dụng cụ này gọi là “(cây) thập (tự) giá” (crux). Riêng cây thập tự giá là dụng cụ tử hình Chúa Giêsu thì được gọi là “(cây) thánh giá”; Mẫu ảnhẢnh nhỏ in/khắc hình/tượng Chúa Giêsu hoặc các vị thánh, thường được làm phép để người tín hữu đeo trên mình; Tràng hạt: Dây nối các hạt với nhau để đếm số kính khi đọc kinh Văn Côi. Một tràng thường gồm 50 hạt nhỏ tượng trưng cho 50 kinh Kính Mừng.

3.5. Sự chuyển hóa vào tiếng Việt toàn dân của nhóm từ ngữ Công giáo chỉ hệ thống các danh từ riêng và các khái niệm thần học Công giáo

Thầy Lazarô Phiền (Tên truyện ngắn của Nguyễn Trọng Quản)

Lazarô: Tên một nhân vật được nhắc đến trong dụ ngôn của Đức Giêsu, chép trong Kinh Thánh Tân Ước.

Người Công giáo có tập tục chọn tên một vị thánh cho người được rửa tội gia nhập đạo. Tên này gọi là tên rửa tội hay tên thánh.

Vì có người đoán rằng: Tây qua sẽ binh vực những người theo đạo Da tô mà giết những người chẳng theo đạo ấy. (TLP).

Da Tô hay Gia Tô: Phiên âm Hán Việt của tên gọi Jesu (Giêsu):  /Ye/ âm Hán Việt đọc là Gia,  /Su/ âm Hán Việt đọc là . Cách dùng Gia Tô chỉ do những người ngoài Công giáo sử dụng.

Bà tôi nhìn Chúa Giêsu rầu rĩ mệt lả dang hai cánh tay rỉ máu trên cây thánh giá hồi lâu rồi từ từ cúi xuống hôn mẫu ảnh nhỏ, tròn bằng bạc ở tràng hạt. (NNTA)

Chúa Giêsu: tiếng Do Thái là Yehoshua (יהושע – có nghĩa "Thiên Chúa là Đấng Cứu Độ"), thường gọi tắt là Yeshua (ישוע). Các ngôn ngữ khác thường mượn cách gọi tắt trong sử dụng. Theo niềm tin của người Kitô giáo, Chúa Giêsu là Ngôi Hai Thiên Chúa giáng sinh làm người. Ngài sinh sống và lập đạo tại Israel. Ngày giáng sinh của Chúa Giêsu được đặt làm ngày khởi đầu của kỷ nguyên Công giáo (Công nguyên).

Dì thấy đi đạo cũng vui. Dần dần người ta dạy cho dì biết có một Đức Chúa Lời dựng nên trời đất, muôn vật và loài người ta, Đức Chúa Lời có Ba Ngôi và Ngôi Thứ Hai ra đời lấy tên là GiêsuĐức Chúa Giêsu chịu đóng đanh trên cây thánh giá để chuộc tội cho thiên hạ… (DH)

Đức Chúa Lời: “Lời” hay “Blời” là âm Việt cổ của “Trời”. Đức Chúa Lời là Ngôi Thứ Hai của Thiên Chúa Ba Ngôi. Ngài sinh hạ làm người, lấy tên là Đức Giêsu Kitô.

“Ông thầy thuốc Nguyễn Văn Thinh không là thánh. Ngày mai là ngày ông được ra thề với các quan Tây. Đó là điều kể ra cũng không thú vị gì…” (NTC).

Thánh: Từ ngữ trong Thánh Kinh có nghĩa là tách ra khỏi những gì phàm tục, thuộc về thần linh. Vậy nên, một người được gọi là thánh là không còn vướng bận gì việc thế gian nữa mà hoàn toàn thuộc về Chúa.

“(...) Nó ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bình... (ĐT).

Tình bác ái: dịch từ Caritas tiếng La Tinh, nghĩa là tình yêu thương. Khái niệm tình bác ái gần tương đương với khái niệm lòng từ bi của đạo Phật.

Ông Xuân đến làm gì khuya khoắt thế? Hay là có sự thay đổi ý kiến gì của ông quan thấy Pháp chăng? (NTC)

Quan thầy: Người làm chủ mình. Trong Công giáo, quan thầy là vị thánh mà người tín hữu chọn khi chịu Bí tích Thánh Tẩy gia nhập đạo để vị ấy bào vệ, giúp đỡ và cầu bầu cùng Chúa cho mình.

3.6. Sự chuyển hóa vào tiếng Việt toàn dân của lớp từ ngữ Công giáo chỉ hệ thống các từ ngữ trong sinh hoạt thường ngày

Ông già tôi là người đạo dòng tử tế. (TLP)

Đạo dòng: Người có đạo nhiều đời, còn gọi là đạo gốc

Rồi năm tôi lên 9 lên 10, bà nội tôi đã khảo tôi đủ các kinh để đi xưng tội lần đầu với một cha người Tây. (MTTV).

Khảo kinh: Kiểm tra xem đã thuộc kinh chưa.

Thấy phó lý cũng là người làng và họ hàng giàu có lại không phải là người đi đạo nên bố mẹ Bính càng yên tâm. (BV)

Đi đạo: có (theo) đạo Công giáo.

“(...) Thì cũng như trăm nghìn gia đình chỉ ngoan đạo bề ngoài, gia đình Bính bao năm được người làng khen là êm ấm đáng làm mẫu mực nhưng thực chẳng có lấy một chút gì yên vui, thuận hòa, đạo đức bên trong. (BV)

Ngoan đạo: Có đời sống gương mẫu tuân giữ tốt các giới luật Công giáo.

“(...) Thì Chúa sẽ ban ơn cho tôi giữ đạo nên ở đời này cho ngày sau được lên nước thiên đàng vui vẻ đời đời” (BV)

Giữ đạo: Sống tuân giữ các giới luật Công giáo.

(...) chỉ còn mỗi cái mê say được sống với những giọt khí huyết của mình nảy nở, và sau đấy về chầu Chúa thì được đủ các phép lề lối Hội thánh, và được hưởng đủ mọi sự đóng góp của hàng giáp, của nhà thờ. (NNTA)

Về chầu Chúa: Chết. Người Công giáo quan niệm chết không phải là hết, nhưng là được về với Chúa, được chầu kiến dung nhan Chúa.

Bính cố ngước mắt trông chung quanh và ngoài đường thì không thấy một bóng người. Bính che mặt nghiến chặt hai hàm răng, nghẹn ngào ấp úng: - Giêsu cứu chữa con! (BV)

Giêsu cứu chữa con: Lời nguyện tắt thành như câu cửa miệng của người Công giáo kêu xin Chúa cứu giúp khi gặp khó khăn, hoạn nạn.

Bính xanh mắt lên trông gian buồng âm u giữa buổi trưa mùa thu trong sáng, và ú ớ nói những tiếng nho nhỏ trong cổ họng như một người bị cơn mê bóp nghẹt: - Giêsu ma… Con chết mất! Lạy Chúa con. Không!… Không!… (BV)

Giêsu Ma: Nói tắt của từ ngữ Giêsu Maria Giuse là tên của Chúa Giêsu, Đức mẹ Maria và Thánh Giuse. Người ta thường kêu danh ba Đấng này khi kinh ngạc hoặc gặp khó khăn, hoạn nạn.

4. Kết luận

1) Cũng như các lớp biệt ngữ khác, từ ngữ Công giáo có xu hướng chuyển hóa vào tiếng Việt toàn dân, cộng tác trong việc làm tròn sứ mệnh giao tiếp của tiếng Việt toàn dân, vì đều là một bộ phận của tiếng Việt nói chung.

2) Trong phạm vi nghiên cứu sự chuyển hóa vào tiếng Việt toàn dân của lớp từ ngữ Công giáo tại Việt Nam, chúng tôi nhận thấy có những từ ngữ không thay đổi về ý nghĩa tôn giáo, ví dụ: cha sở, đất thánh, Thiên Chúa, đạo dòng…; nhưng cũng có những từ ngữ thay đổi ý nghĩa trong tôn giáo. Ví dụ: Xưng tội vốn là biệt ngữ Công giáo có nghĩa “người giáo dân kể tội với linh mục trong một nghi thức tôn giáo để được tha tội” khi đi vào từ ngữ toàn dân đã có sự thay đổi về nghĩa thành “tự kể tội với người khác (không phải trong nghi thức tôn giáo và không phải để được tha tội)”, Quan thày từ ý nghĩa “vị thánh mà người tín hữu nhận khi Rửa tội để bảo trợ mình” khi đi vào từ ngữ toàn dân có nghĩa là “người (có thể là người thường mà không cần phải là vị thánh) có khả năng nâng đỡ mình”, Đất hứa từ ý nghĩa “miền đất Canaan mà Thiên Chúa hứa cho dân tộc Do Thái” trong từ ngữ toàn dân có nghĩa là “nơi hoặc điểm đến mơ ước”….

3) Chúng tôi cũng nhận thấy những đặc điểm Việt hóa khi tiếp nhận các từ ngữ nước ngoài trong lớp từ ngữ Công giáo tại Việt Nam, chẳng hạn như tác động đơn âm tiết hóa, giản lược các phụ âm kép, âm tiết hóa các âm tiết phụ âm của tiếng châu Âu… Do giới hạn và phạm vi của bài viết, tác giả mong có dịp nghiên cứu các vấn đề trên, góp phần bổ sung cho mảng nghiên cứu về từ ngữ tôn giáo nói chung và từ ngữ Công giáo nói riêng.

NGỮ LIỆU

1. TLP: Truyện ngắn Thầy Lazarô Phiền của Nguyễn Trọng Quản (đăng trên: http://dienvan.space/van-hoc-nam-bo/thay-lazaro-phien/thay-lazaro-phien/.html).

2. MTTV: Truyện ngắn Một tuổi thơ văn Nguyên Hồng, Nxb. Kim Đồng, 2016.

3. NNTA: Hồi kí Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng, Nxb. Văn Học, 2016.

4. BV: Tiểu thuyết Bỉ Vỏ của Nguyên Hồng, Nxb. Văn Học, 2010.

5. TCM: Truyện ngắn Tư cách mõ của Nam Cao, in trong “Tuy ển tập Nam Cao”, Nxb. Văn Học, tái bản năm 1996.

6. DH: Truyện ngắn Dì Hảo Nam Cao, in trong “Tuyển tập Nam Cao”, Nxb. Văn Học, tái bản năm 1996.

7. NTC: Truyện ngắn Nỗi truân chuyên của khách má hồng của Nam Cao, in trong “Tuyển tập Nam Cao”, Nxb. Văn Học, tái bản năm 1996.

8. ĐT: Truyện ngắn Đời Thừa của Nam Cao, in trong “Tuyển tập Nam Cao”, Nxb. Văn Học, tái bản năm 1996.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Lê Đình Bảng (2010), Văn học Công giáo Việt Nam - những chặng đường, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội.

2. Các sách kinh nguyện của các giáo phận Hải Phòng, Bùi Chu, Thái Bình, Bắc Ninh, Lạng Sơn (xuất bản nhiều thời kì khác nhau).

3. Đỗ Hữu Châu (1981), Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb Giáo DụcHà Nội.

4. Mai Ngọc Chừ; Vũ Đức Nghiệu & Hoàng Trọng Phiến (1997), Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt. Nxb Giáo dục, Hà Nội.

5. Crystal, David (1966), “Language and religion”. In: Sheppard, Lancelot (Ed.): Twentieth century Catholicism. New York: Howthorn Books.

6. Nguyễn Thiện Giáp (1998), Từ vựng học tiếng Việt, Nxb Giáo Dục, Hà Nội.

7. Hội đồng giám mục Việt Nam (2011), Từ điển Công giáo 500 mục từ, Nxb Tôn Giáo, Hà Nội.

8. Nguyễn Văn Khang (2012), Ngôn ngữ học xã hội, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội.

9. Roland Jacques (2007), Những người Bồ Đào Nha tiên phong trong lĩnh vực Việt ngữ học – cho đến năm 1650, Nxb KHXH, Hà Nội.

 

Nguồn: gphaiphong.org

bài liên quan mới nhất

bài liên quan đọc nhiều

Top