Khi một Đức Giáo hoàng “Kitô hóa” nhẫn đính hôn và những câu chuyện khác về chiếc nhẫn

Khi một Đức Giáo hoàng “Kitô hóa” nhẫn đính hôn và những câu chuyện khác về chiếc nhẫn

Khi một Đức Giáo hoàng “Kitô hóa” nhẫn đính hôn và những câu chuyện khác về chiếc nhẫn

Tác giả: Alex McKenna

PX. Nguyễn Hữu Sang (TGPSG) bien dịch theo National Catholic Register

TGPSG/NCR -- Lịch sử của nhẫn đính hôn gần như lâu đời ngang với chính lịch sử của chiếc nhẫn. “Mùa cầu hôn” thường diễn ra từ Giáng Sinh đến lễ Thánh Valentine – với ước tính khoảng 6 triệu lời cầu hôn vào ngày 14 tháng 2 - và có một mối liên hệ giữa chiếc nhẫn đính hôn và đức tin Công giáo (cũng như nghi thức hứa hôn).

Những chiếc nhẫn xuất hiện lần đầu trên ngón tay con người vào thời kỳ đồ đồng, khi con người bắt đầu chế tác kim loại và tạo ra những món đồ trang sức nguyên thủy. Theo George Frederick Kunz trong cuốn sách năm 1917 (được phát hành dưới dạng sách điện tử năm 2023) "Rings for the Finger: From the Earliest Known Time to the Present" (Nhẫn trên ngón tay: Từ thời kỳ xa xưa đến nay), người Ai Cập cổ đại đã khởi xướng xu hướng này, sử dụng nhẫn ấn để thể hiện quyền lực và ký tên, đóng dấu các vật dụng gia đình hoặc tài liệu. Như Kunz giải thích trong cuốn sách của mình, lịch sử của nhẫn đính hôn rất phong phú. Chiếc nhẫn đầu tiên được nhắc đến trong Kinh Thánh xuất hiện khi Tổ phụ Giuse nhận được một chiếc nhẫn từ Pharaô như một dấu chỉ của quyền hành.

“Bấy giờ, Pharaô tháo chiếc nhẫn ấn của mình ra và đeo vào ngón tay Giuse. Ông mặc cho Giuse một bộ áo bằng vải lanh mịn và đeo một sợi dây chuyền vàng quanh cổ ông” (St 41,42).

Dấu chỉ đính ước

Truyền thống này được truyền lại cho người Hy Lạp cổ đại, những người đầu tiên sử dụng nhẫn như một dấu hiệu của lễ đính hôn, khắc lên đó những câu nói hoa mỹ như "Dành tặng người không chỉ xuất sắc về đức hạnh và sự khôn ngoan, mà còn cả về trí tuệ", hoặc những lời âu yếm đơn giản hơn vẫn được sử dụng ngày nay - "em yêu".

Theo truyền thống cổ xưa, người Hy Lạp đã truyền lại phong tục làm nhẫn cho người Etruscan, và người Etruscan lại chia sẻ chúng với người La Mã, đế chế của họ đã lan truyền phong tục này đến khắp các vùng văn minh.

Plautus, nhà soạn kịch nổi tiếng người La Mã cổ đại, là người đầu tiên đề cập đến nhẫn tình yêu trong vở hài kịch Miles Gloriosus của ông. Một người đàn ông sẽ tặng nhẫn cho người vợ tương lai của mình - nhẫn sắt để trong nhà và nhẫn vàng để đeo ra bên ngoài - để tượng trưng cho thẩm quyền “kiểm soát” tài sản của ngôi nhà trong tương lai của cô ấy.

Theo truyền thống, cô dâu đeo nhẫn ở ngón áp út vì người La Mã tin rằng đó là nơi có một tĩnh mạch nối thẳng đến tim cô dâu.

Dựa trên những truyền thống ngoại giáo này, Giáo hội Công giáo đã nhanh chóng Kitô hóa việc đeo nhẫn để làm phong phú ý nghĩa thần học của bí tích hôn nhân.

Nhẫn cưới của Đức Maria

Từ rất sớm, những chiếc nhẫn đã hiện diện trong đời sống Kitô hữu, với bằng chứng là chiếc nhẫn cưới của Đức Trinh Nữ Maria hiện được lưu giữ tại thành phố Perugia, nước Ý.

Câu chuyện về chiếc nhẫn cưới của Đức Mẹ Maria, được gọi là Santo Anello, dường như chỉ là truyền thuyết, nhưng một phân tích đá quý của Nhà thờ San Lorenzo đã chứng minh điều ngược lại. Nghiên cứu chỉ ra rằng chiếc nhẫn bằng đá chalcedony này có khả năng đến từ phương Đông và có nguồn gốc từ thế kỷ thứ nhất, phù hợp với truyền thống kể về lịch sử lâu đời của nó từ Đất Thánh đến Ý.

Những người hành hương vẫn đổ xô đến để tôn kính chiếc nhẫn, đặc biệt là việc chạm nhẫn cưới vào thánh tích này.

Nhà văn giáo hội thời kỳ đầu Tertullian là người đầu tiên đề cập đến việc các Kitô hữu đeo nhẫn đính hôn, và Thánh Clement thành Alexandria, nổi tiếng với các tác phẩm và việc lãnh đạo Trường Giáo lý Alexandria, đã lưu ý rằng phụ nữ Kitô giáo nhận được nhẫn đính hôn để thể hiện quyền hành của họ đối với tài sản gia đình.

Cũng như những người ngoại đạo trước đó, việc tặng nhẫn đính hôn tượng trưng cho việc người phụ nữ theo Kitô giáo sắp nắm quyền quản lý tài chính trong gia đình. Nó cũng là một lời tuyên bố long trọng và là động lực về mặt tài chính để chú rể có mặt tại lễ cưới.

Thánh Augustinô còn nhấn mạnh rằng việc không có nhẫn không thể là rào cản cho hôn nhân – cho thấy Hội Thánh luôn đặt bản chất giao ước lên trên hình thức vật chất.

Đức Giáo hoàng Nicholas và những dư âm của Vua Henry VIII

Sau đó, Thánh Isidorô Sevilla xác nhận rằng Kitô hữu tiếp tục đeo nhẫn ở cùng ngón tay như người La Mã, nhưng với ý nghĩa thánh thiêng hơn.

Mãi đến thế kỷ thứ chín, Đức Thánh Giáo hoàng Nicholas I mới đưa chiếc nhẫn đính hôn trở thành tâm điểm chú ý.

Sinh năm 820 sau Công nguyên và được bầu làm giáo hoàng sau khi Đức Benedict III qua đời, khi ngài mới chỉ là một phó tế, Đức Giáo hoàng Nicholas được mệnh danh là "Cả" một phần nhờ vào sự bảo vệ mạnh mẽ của ngài đối với hôn nhân.

Gần 700 năm trước khi Vua Henry VIII đoạn tuyệt với Giáo hội vì ly dị với công chúa Catherine xứ Aragon, thì Vua Lothair II của xứ Lorraine, Pháp, muốn có một người vợ có thể sinh con nối dõi, không giống như người hoàng hậu hiếm muộn của ông. Hai giám mục đã chấp thuận yêu cầu của ông. Hoàng đế Louis II của Đế chế Carolingian cũng đứng về phía Lothair, và khi nghe tin Giáo hoàng Nicholas không tán thành, ông đã lập tức bao vây Rome.

Vị Giáo hoàng bị vây hãm đã không chịu khuất phục, cuối cùng buộc Lothair phải giữ lại người vợ đầu tiên của mình và chấm dứt cuộc vây hãm.

Chính Đức Giáo hoàng Nicholas đã hợp thức hóa việc sử dụng nhẫn đính hôn, rửa tội truyền thống ngoại giáo ấy, và đưa vào đời sống các Kitô hữu.

Trong một bức thư gửi người Bulgaria, ngài viết: “sau khi lễ đính hôn được cử hành… chú rể sẽ kết hôn với cô dâu bằng những lời thề nguyện thông qua ngón tay được đánh dấu bằng chiếc nhẫn của lòng chung thủy…”

Ngày nay, việc cầu hôn vẫn tiếp tục tồn tại, với một số cặp đôi lồng ghép những yếu tố Công giáo rõ nét vào lễ đính hôn của mình.

Chủ đề thánh thể

Telos Art, một công ty trang sức Công giáo có trụ sở tại Phoenix do Jessica Connolly điều hành, đã chế tác một dòng nhẫn đính hôn dựa trên thiết kế của các bình đựng Mình Thánh Chúa.

Nhắc nhở người mua sắm rằng Giáo lý của Giáo hội Công giáo gọi Thánh Thể là “nguồn mạch và đỉnh cao của đức tin chúng ta”, Telos quảng bá chiếc nhẫn như “một lời kêu gọi mỗi ngày để đặt trọng tâm hôn nhân của bạn nơi Chúa Kitô”.

Khôi phục nghi lễ đính hôn

Một hình thức khác để tôn vinh sự đính hôn là lễ đính hôn.

Cha Joseph Murphy, giám đốc Văn phòng Phụng vụ của Tổng Giáo phận Washington, D.C., đã đặt Nghi thức Chúc phúc cho Cặp đôi Đính hôn (thường được biết đến với tên gọi lễ đính hôn) vào bối cảnh lịch sử hiện đại.

“Nghi thức này thừa nhận rằng lễ đính hôn là một việc của cả gia đình, không chỉ riêng cô dâu và chú rể. Có những lựa chọn riêng biệt để tiến hành nghi thức đính hôn, phù hợp với giáo sĩ và cha mẹ hoặc giáo dân. Điểm chung giữa chúng là những lời: ‘Chúa Giêsu Kitô, Đấng yêu thương chúng ta và hiến thân vì chúng ta’”, Cha Murphy nói trong một cuộc phỏng vấn với tờ Register.

Ngài giải thích rằng những lời này “kết nối việc đính hôn với mục đích cuối cùng của nó - tình yêu của Chúa Kitô dành cho cô dâu của Ngài, Giáo hội, đến mức hy sinh mạng sống để nâng Giáo hội lên trong chính thân thể Ngài.”

Nghi thức này nhấn mạnh ân sủng đặc biệt mà cặp đôi đính hôn tìm kiếm để “phát triển trong sự tôn trọng lẫn nhau, yêu thương nhau chân thành hơn và tiến đến việc cử hành hôn nhân thánh một cách trong sạch thông qua sự đồng hành và cầu nguyện cùng nhau một cách thích hợp.”

Cha Murphy cũng giải thích rằng nghi thức này kết nối trực tiếp ba ân sủng được tìm kiếm với cốt lõi của đức tin: yêu thương tha nhân (tình bạn phù hợp) và yêu thương Thiên Chúa (cùng nhau cầu nguyện).

Ngài lưu ý rằng nghi thức đính hôn không xuất hiện trong Rituale Romanum nhưng lại phổ biến trong hầu hết các bản dịch tiếng Anh của cuốn sách này, cho thấy sự thích ứng của nó với nhiều hoàn cảnh văn hóa khác nhau.

Nghi lễ đính hôn kết thúc bằng việc cả hai cùng suy ngẫm về những chuẩn bị trong quá khứ và hướng đến ân sủng của hôn nhân trong tương lai.

“Nguyện xin Thiên Chúa của tình yêu và bình an ở cùng anh chị em, hướng dẫn bước chân anh chị em và củng cố tâm hồn anh chị em trong tình yêu của Người, hôm nay và mãi mãi.”

Top