Gia tài của ba mẹ: 10 năm kiên trì và một đời Đức tin
TGPSG -- Nếu ai đó hỏi tình yêu có hình dáng gì, câu trả lời có lẽ là muôn hình vạn trạng. Với ba mẹ tôi – ông Giuse Lê Hoàng Đông và bà Maria Nguyễn Thị Hằng – hành trình gắn kết hơn bốn thập kỷ không bắt đầu bằng một tiếng sét tình yêu, mà khởi đầu từ "oan gia ngõ hẹp" tuổi học trò, để rồi được thử thách qua dâu bể thời cuộc và neo giữ trọn vẹn nhờ Đức tin.
Cuộc "đối đầu" tuổi học trò và giao điểm đứt đoạn
Một buổi sáng tháng 11 năm 1973, tại ngôi trường trung học Chí Linh (thị xã Phước Long thời bấy giờ), cô nữ sinh lớp Sáu - là mẹ tôi thời ấy - mới chuyển đến sau chuyến tỵ nạn lần đầu tiên, đã chạm mặt "kẻ thù không đội trời chung". Nhóm nam sinh của ba tôi ngày ấy cậy hát hay, đàn giỏi, coi nhóm nữ sinh của mẹ là "lũ trẻ ranh". Ngược lại, trong mắt nhóm nhà gái, đám nhà trai đúng là "vấn nạn học đường".
Trận "va chạm" công khai đầu tiên diễn ra khi thầy chủ nhiệm cần bầu lớp phó văn thể mỹ. Nhóm của ba tự tin muốn chiếm thế thượng phong, còn nhóm của mẹ quyết tâm dồn toàn bộ phiếu để bầu cho một bạn nữ hát không hay nhưng rất thích hát. Nhờ "đông dân" hơn, phe mẹ chiến thắng. Ba tôi ngày đó tức điên mà chẳng thể làm gì. Suốt bốn năm cấp hai, họ giằng co nhau từng chút một: mẹ luôn đứng đầu về học tập nhưng bị ba gán cho biệt danh "mọt sách"; ba tỏa sáng trên sân khấu văn nghệ, đào hoa ngút ngàn nhưng trong mắt mẹ chỉ là kẻ "thích ra vẻ".
Năm 1975, miền Nam thay hình đổi dạng. Những biến động thời cuộc khiến gia đình ngoại phải rời Phước Long về thôn Phước Lộc sinh sống. Giao điểm mong manh giữa hai người trẻ đứt đoạn từ đó.
Năm 1977 mẹ tôi học xong lớp 9 rồi đành gác lại ước mơ chữ nghĩa vì hoàn cảnh khó khăn, tay quen dần với cuốc xẻng lao động tập thể. Còn ba tôi, sau khi người mẹ qua đời – gánh nặng gia đình đè lên vai – đã quyết định nhập ngũ để chăm lo cho người anh hiền lành và đàn em thơ dại. Hai người như hai đường thẳng song song, tự gánh vác trách nhiệm riêng, tạm cất đi những mộng mơ cá nhân giữa gian truân.
Mười năm kiên trì và lời thề trước Bàn thờ Chúa
Tháng 3 năm 1980, một cuộc hội ngộ tình cờ đã viết lại số phận. Bạn thân của mẹ chuyển từ thôn Phước Lộc ra mua nhà ở thị trấn Phước Bình, mẹ ra ở cùng cho bạn bớt quạnh quẽ. Đúng lúc đó, người chiến hữu của ba đang tìm cách "cưa cẩm" cô bạn thân này và kéo ba đi cùng đến căn nhà nhỏ ở thị trấn.
Ngày gặp lại, cả hai chẳng còn nhận ra "oan gia" năm nào. Nhưng ngay từ ánh nhìn đầu tiên, ba đã đem lòng thương cô gái có ánh mắt trầm tĩnh. Những buổi tối được tự do hoạt động, điểm đến duy nhất của ba là căn nhà nhỏ ở Phước Bình. Khi thì túi trái cây, khi thì gói bánh kẹo... Ba nuôi béo cô bạn thân của mẹ lúc nào không hay, nhưng người cần gật đầu thì vẫn giữ khoảng cách.
Khi biết anh của mẹ là cấp dưới của mình trong quân ngũ, ba bắt đầu chiến dịch "đột phá từ hậu phương". Ba năng qua lại nhà ngoại, thân thiết đến mức gọi ông ngoại là "bố". Mỗi lần huấn luyện xong, ba lại chạy sang: "Bố ơi, con thèm thịt gà quá!". Ông ngoại miệng thì mắng yêu nhưng tay đã chuẩn bị làm gà cho anh lính trẻ. Thế nhưng, khi ba ngỏ lời muốn tiến tới hôn nhân, cái gật đầu vẫn là điều xa xỉ.
Gia đình ngoại tôi sùng đạo Công giáo nồng nàn. Mẹ từ nhỏ đã được rèn giũa kinh sách, từng ước ao đi tu. Ông bà ngoại e ngại hoàn cảnh của ba, e ngại sức khỏe yếu ớt của mẹ khó lòng sinh con đẻ cái, và trên hết là sự khác biệt về Đức tin.
Năm 1986, sau 5 năm theo đuổi không thành, ba từng thử từ bỏ để đi xem mắt người khác theo lời người quen. Nhưng tình cảm sâu nặng với mẹ khiến những mối quan hệ mới trở nên nhạt nhẽo. Sau 6 tháng, ba trở lại cuộc sống đơn thân, tiếp tục lẳng lặng đi về nhà ngoại ở Phước Lộc, âm thầm chăm sóc mẹ không danh không phận.
Biến cố dồn dập ập đến vào năm 1987. Tháng 4 năm 1987, bà ngoại lâm bệnh nặng rồi qua đời sau nhiều tháng chạy chữa khắp các bệnh viện ở Sài Gòn; chỉ vài tháng sau, vào tháng 8 cùng năm, người cậu út cũng đột ngột bạo bệnh ra đi. Giữa lúc đại gia đình ngoại suy sụp hoàn toàn, một mình ba tôi đứng ra lo toan trọn vẹn từ việc đưa đón bệnh viện đến tang lễ. Sự hy sinh thầm lặng ấy đã làm mẹ xiêu lòng, nhưng ông ngoại vẫn không đồng ý vì sự vô thường của cuộc đời khiến ông càng bám chặt vào Chúa để cầu nguyện, khoảng cách Đức Tin làm ông phải lắc đầu dù thương quý chàng trai chân thành ấy.
Nhờ sự thu xếp diệu kỳ của bề trên, ba tìm người đỡ đầu rồi tự đi học giáo lý, hành trình lạ lẫm đối với người ngoại giáo ấy vậy mà suôn sẻ cách lạ kỳ với ba. Tháng 3 năm 1988, ba chính thức trở thành tân tòng với tên thánh Giuse. Ba lại sang xin cưới, nhưng ông ngoại vẫn lắc đầu. Không nản lòng, ba mẹ kiên trì cùng nhau tham gia các buổi Phụng vụ Lời Chúa và rước lễ hàng tuần (vì giáo xứ lúc đó chưa có Cha sở). Phải đến hai năm sau, sự bền bỉ ấy mới nhận được cái gật đầu của ông ngoại.
Ngày 9-11-1990, tại Nhà thờ Huyện Sỹ (Quận 1, TP.HCM), lễ cưới của ba mẹ được cử hành. Hành trình 10 năm theo đuổi bền bỉ của ba đã khép lại bằng một cái kết ngọt ngào trước sự chứng giám của Chúa.

"Con là con cầu con khấn" và những giông bão thầm lặng
Trước ngày cưới, nhà ngoại từng cảnh báo ba về sức khỏe mỏng manh của mẹ. Ba đã chuẩn bị sẵn tâm lý cho một gia đình nhỏ chỉ có hai người. Nhưng vì thương chồng, mẹ kiên trì đốc thúc ba cùng đọc kinh, cầu nguyện xin một phép màu. Mỗi tuần ba mẹ đều vượt hơn 150km để xuống Sài Gòn đi lễ Chúa Nhật, từ Nhà thờ Đức Bà, đến Nhà thờ Huyện Sỹ, Nhà thờ Fatima Bình Triệu, Nhà thờ Bắc Hà... để sốt sắng dâng lời cầu nguyện xin ơn con cái.
Lời cầu nguyện chân thành đã được nhậm lời. Ngày 27-10-1993, tại Bệnh viện Từ Dũ (TP.HCM), ba mẹ vỡ òa niềm vui khi đón con gái đầu lòng là tôi. Câu nói mà tôi nghe nhiều nhất từ nhỏ chính là: "Con là con cầu con khấn, phải siêng năng đi lễ, chăm chỉ học hành để ơn lành của Chúa được sinh hoa kết quả".

Đến ngày 30-8-1997, mẹ sinh em gái tôi tại nhà riêng của một bác sĩ sản ở thị trấn Phước Bình. Thời điểm này, ba chuyển ngành đi làm xa, cả tháng mới về nhà một lần. Mẹ đi sinh phải nhờ hàng xóm chở đi giúp, đón về lại nhờ một người bác hàng xóm khác. Một mình mẹ quán xuyến việc nhà, chăm hai con nhỏ.
Kỷ niệm đau đáu nhất trong tâm trí tôi là một lần giao mùa, cả ba mẹ con cùng sốt liệt giường. Mẹ thều thào đưa ít tiền lẻ, bảo tôi – khi đó mới 4 tuổi – ra đứng trước hiên đợi hàng xóm đi chợ thì đi nhờ mua giúp chút gì ăn. Nhìn đứa con bé tẹo nài nỉ hàng xóm, mẹ khóc không thành tiếng vì tủi thân. Trong những khoảnh khắc kiệt sức ấy, chính lời cầu nguyện hàng đêm là điểm tựa duy nhất giúp mẹ sốc lại tinh thần.
Ngày mới cưới, mẹ khao khát về Sài Gòn học tiếng Anh, nhưng vì không muốn vợ chồng vừa cưới đã chia hai nơi, mẹ đành một lần nữa gác lại đam mê tri thức.
Năm 1999, khi tôi lên 6 tuổi, trong một lần đi đám cưới ở Sài Gòn, ba bất ngờ mang về tặng mẹ rất nhiều đồ làm bánh: từ khuôn, máy đánh trứng, bơ cho đến sách hướng dẫn. Ba động viên: "Hai vợ chồng mình làm thử cho con ăn". Đêm đó, ba mẹ thức đến 2g sáng. Thành phẩm là chiếc bánh kem bơ to oạch với những “chú sâu” cà rốt ngộ nghĩnh. Nhờ sự tiếp sức kiên trì ấy của ba, mẹ đã bắt đầu một đam mê mới – mở ra cánh cửa cho nghề làm bánh giúp mẹ tự tin hơn trong hành trình làm mẹ.
Đến năm 2001 (khi tôi 8 tuổi, em gái 4 tuổi), mẹ quyết định xuống Sài Gòn học nghề bánh nghiêm túc trong hai tháng. Ba trấn an mẹ: "Em yên tâm đi học, tiền bạc anh lo, con cái anh chăm". Hai tháng ấy là chuỗi ngày ba "vật lộn" vừa làm cha, vừa làm mẹ. Sáng ba gọi hai chị em dậy, lo ăn sáng, chở tôi đến trường rồi đèo theo em gái đến cơ quan. Trưa ba lại đón tôi về, nấu cơm cho hai chị em rồi tiếp tục đi làm với "hai cục tạ" bên mình. Chiều về, ba lại tất bật tắm rửa, dọn dẹp, giặt đồ, lau nhà... Dù mệt mỏi, dù có những lúc "cọc" với hai con nhỏ, nhưng mỗi lần mẹ gọi điện về hỏi thăm, ba đều quả quyết: "Anh lo được hết, em cứ yên tâm học!".
Thế nhưng, hành trình theo nghề làm bánh của mẹ cũng không ít lần sóng gió. Dù ba hết lòng ủng hộ và sẵn sàng phụ giúp những lúc mẹ bận, nhưng tranh cãi vẫn nổ ra, nhất là vào các mùa lễ tết cao điểm. Mẹ mải mê làm đến hai, ba giờ sáng chẳng kịp nghỉ ngơi, còn ba lại quan niệm mùa lễ là thời gian dành trọn cho gia đình.
Ban đầu chỉ là những lời cằn nhằn xót xa, nhưng rồi tích tụ thành những trận cãi vã nảy lửa. Đỉnh điểm là một lần cãi nhau lớn, ba giận dữ sầm cửa bỏ đi trong đêm, để lại mẹ vừa tủi thân gạt nước mắt vừa tiếp tục hoàn thành những mẻ bánh dở dang.
Thế nhưng, dù ba mẹ có lúc bất đồng sâu sắc, dù mệt mỏi hay giận hờn đến đâu, giờ kinh tối trong gia đình tôi chưa bao giờ bị bỏ ngỏ. Lời kinh đêm chính là liều thuốc chữa lành, dập tắt những cái "tôi" để ba mẹ lại nắm tay nhau vượt qua những bất đồng.
Bình an trong Ơn Phục Sinh

Ân sủng của Chúa thể hiện rõ nhất trong những năm tháng cuối đời của ba. Khi căn bệnh tiểu đường ba mang hơn 20 năm trở nặng, biến chứng khiến tay chân ba yếu dần rồi liệt hoàn toàn, các bác sĩ chẩn đoán ba khó sống quá 3 tháng. Nhưng bằng sự chăm sóc tận tụy của mẹ và lời cầu nguyện liên lỷ, 3 tháng ấy đã kéo dài thành 2 năm kỳ diệu.
Những đêm ba khó thở, không thể nằm giường, người phụ nữ nặng chưa đầy 50kg như mẹ lại gồng mình đỡ người chồng hơn 90kg chuyển từ ghế tựa sang võng. Sáng ra, mẹ lại tất bật sắc thuốc, tắm rửa, thay băng vết thương cho ba và nhẫn nại chịu đựng những cơn bực tức vô cớ của người bệnh. Suốt hai năm dốc cạn sức lực ấy, mẹ chưa một lần đổ bệnh – một điều mà chính gia đình tôi cũng coi là phép màu.
Mỗi tuần hai lần (thứ Hai và Chủ Nhật), mẹ xin kiệu Mình Thánh Chúa về tận nhà cho ba. Những đêm ba đau đớn hay ngã gục, luôn có sự nâng đỡ thiêng liêng giúp ba vượt qua bình an. Ba không cầu cho mình khỏe lại, chỉ cầu xin sự bình an theo ý Chúa và xin cho mẹ bớt nhọc nhằn.
Ngày 24-3-2021, ba tôi an nghỉ trong Chúa. Sự ra đi của ba cũng tràn đầy ơn lành: chỉ một tuần sau đó, Phước Bình bước vào đợt giãn cách xã hội vì dịch bệnh COVID-19. Trong những ngày quàn tang, người nhà và các hội đoàn thay phiên đọc kinh cầu nguyện liên tục. Dù gia đình đã chuyển ra thị trấn Phước Bình, nhưng nguyện vọng đưa ba về chôn cất gần ông bà ngoại tại Giáo xứ cũ (thôn Phước Lộc thuộc giáo xứ Phước Quả) đã được Cha xứ thương tình chấp thuận suôn sẻ.
Đã hơn 5 năm trôi qua kể từ ngày ba vắng bóng, trong căn nhà nhỏ, thói quen hướng về bàn thờ ba mỗi ngày vẫn được mẹ và chị em tôi giữ vững. Mẹ vẫn thường kể về những lời dặn dò cuối cùng của ba – tất cả đều dành cho mẹ: dặn mẹ ăn uống, dặn mẹ giữ gìn sức khỏe, dặn tài sản phải tự giữ lấy mà lo cho bản thân.
Lúc còn sống, ba hay đùa rằng mẹ lấy ba là vì "mang ơn". Ba dặn các con sau này chọn người yêu phải chọn người thương mình nhiều hơn. Nhưng nhìn lại cả hành trình dài hy sinh của mẹ, tôi hiểu rằng: nếu không có một tình yêu sâu thẳm, làm sao mẹ có thể đi qua chừng ấy gian truân?
Tình yêu của ba là sự bộc lộ mãnh liệt, kiên trì; còn tình yêu của mẹ lại kín đáo, lắng sâu như dòng sông chảy ngầm. Cả hai mảnh ghép ấy, dưới ánh sáng Đức tin Công giáo, đã tạo nên một mái ấm trọn vẹn. Gia đình tôi tạ ơn Chúa vì sự kiên trì của ba, tạ ơn Chúa vì qua bao thử thách, gia đình vẫn bình yên, dù nhìn có vẻ thiếu nhưng lại đủ đầy trong niềm tin vào Chúa Giêsu Phục Sinh.
Lê Hoàng Bảo Trân (TGPSG)
bài liên quan mới nhất
- Ơn gọi của một sinh viên Y khoa
-
Khói bếp tình yêu -
Cầu nguyện cho người luôn nói con ổn -
Khi yêu thương được góp lại -
Dừng lại với lời kinh Mân Côi -
Tìm một nơi để sống đức tin -
Một ngày nắng đẹp giữa mùa mưa H'Bông -
Chuẩn bị bước vào tháng Mân Côi - Một tràng chuỗi, một lời kinh mỗi ngày -
Chân dung một người lính gầy dựng nước Chúa -
Nguồn nước mát giữa lòng giáo xứ
bài liên quan đọc nhiều
- Một đám cưới ngoại lệ tại Nhà Thờ Đức Bà
-
Những tâm tình bên tượng Thánh Carlo Acutis đầu tiên tại Việt Nam -
Hãy ký thác đường đời cho Chúa -
Người có IQ cao nhất thế giới nói về Thiên Chúa -
"Ngài đã có một tỷ số tuyệt vời" tại Mật nghị -
Giáo lý viên giáo xứ Tam Hải: Bốn mùa Chúa đổ hồng ân -
Nụ hôn của Chúa Giêsu: Bài học từ một cậu bé giúp lễ -
Bài giảng cuối cùng của một vị mục tử -
Chuyến xe định mệnh - Hành trình Đức Tin của anh Giuse Huỳnh -
Gia đình Giáo lý viên