Bốn thái độ người Công giáo cần có đối với người nhập cư

Bốn thái độ người Công giáo cần có đối với người nhập cư

Bốn thái độ người Công giáo cần có đối với người nhập cư

Tác giả: Tom Hoopes

PX. Nguyễn Hữu Sang (TGPSG) biên dịch theo Aleteia

TGPSG/Aleteia -- Tom Hoopes, tác giả cuốn Kinh Mân Côi của Thánh Gioan Phaolô II và người dẫn chương trình The Extraordinary Story, hiện là nhà văn thường trú tại trường Benedictine College ở Atchison, Kansas. Ông đã có cái nhìn thời sự về vấn đề nhập cư với đức tính yêu thương bác ái của một người Công giáo.

Những gì người Công giáo nghĩ về vấn đề nhập cư thì phức tạp - nhưng những gì chúng ta nghĩ về người nhập cư thì lại rất đơn giản.

Tổ tiên Công giáo của chúng ta đã từng phải đấu tranh với các phong trào bài nhập cư như Ku Klux Klan để có chỗ đứng tại Hoa Kỳ. Ngày nay, các giám mục Hoa Kỳ khẳng định rằng chúng ta sẵn sàng đối diện những vấn đề như vậy. Đồng thời, các ngài cũng nhìn nhận tính phức tạp của vấn đề nhập cư khi nói rằng “các quốc gia có trách nhiệm quản lý biên giới của mình và thiết lập một hệ thống nhập cư công bằng và có trật tự”, cũng như cam kết “vận động cho một cuộc cải tổ nhập cư thực chất”.

Chính sách nhập cư của Mỹ rõ ràng đang gặp vấn đề. Thái độ của chúng ta đối với nó đáng lẽ phải là sự phẫn nộ chính đáng của những nhà cải cách. Nhưng thái độ của chúng ta đối với người nhập cư lại là một vấn đề khác.

Sau đây là bốn thái độ chúng ta cần có đối với họ.

Thứ nhất: Như Đức cha Robert Barron đã nói, chúng ta cần có một “thái độ quảng đại”

Thật vậy, Sách Giáo lý Hội Thánh Công giáo dạy rằng các quốc gia thịnh vượng có bổn phận đón nhận những người nhập cư đang tìm kiếm sự an toàn hoặc sinh kế, trong khả năng của mình - và chúng ta là một trong những quốc gia thịnh vượng nhất thế giới.

Vào tháng 11, Đức Giáo hoàng Lêô XIV nhấn mạnh: “Chưa từng có ai nói rằng Hoa Kỳ phải mở cửa biên giới hoàn toàn.” Nhưng chúng ta phải lên tiếng chống lại “sự thiếu tôn trọng nghiêm trọng” đang nhắm vào những người nhập cư “vốn đang sống lương thiện, như nhiều người trong số họ đã sống suốt 10, 15 hay 20 năm qua”.

Một hệ quả nghiêm trọng của các chiến dịch trục xuất hàng loạt - cả hiện nay lẫn dưới các chính quyền trước đây - chính là những gì chúng gây ra cho trái tim chúng ta. Đức Kitô uốn nắn trái tim chúng ta qua Tin Mừng Thánh Mátthêu chương 25 và dụ ngôn Người Samari nhân hậu. Nhưng khi chúng ta lùng bắt con người để gửi họ trở về, chúng ta bắt đầu nhìn những người khác như những vấn đề cần loại bỏ, thay vì họ là những người anh chị em cần được chăm sóc.

Rõ ràng, trách nhiệm cho tình trạng này bắt đầu từ các chính sách biên giới thiếu trách nhiệm - nhưng cũng rõ ràng, giải pháp nên bắt đầu từ các Kitô hữu.

Thứ hai: thái độ biết ơn, bởi vì chúng ta không sinh đủ con cái

Tỷ lệ sinh tại Hoa Kỳ hiện đang ở mức thấp kỷ lục. Số trẻ em sinh ra trên mỗi phụ nữ đã giảm mạnh sau cuộc suy thoái kinh tế năm 2008 và chưa bao giờ phục hồi. Để duy trì dân số ổn định, cần trung bình 2,1 con/phụ nữ - trong khi hiện nay con số này chỉ còn dưới 1,6. Điều đó đưa chúng ta vào nhóm các quốc gia đang đối diện nguy cơ suy giảm dân số, và những hệ quả kinh tế đã bắt đầu lộ rõ.

Chúng ta có hai lựa chọn để ổn định dân số. Lựa chọn thứ nhất là sinh nhiều con hơn. Nhưng như Tim Carney chỉ ra, các yếu tố văn hóa hiện nay khiến điều đó khó có thể xảy ra. Lựa chọn thứ hai là nhập cư.

Trong cuộc khủng hoảng người tị nạn Syria, Đức Giáo hoàng Phanxicô từng nói: “Khi có một khoảng trống, con người sẽ tìm cách lấp đầy. Nếu một quốc gia không có trẻ em, thì người nhập cư sẽ đến và chiếm chỗ. Tôi nghĩ đến tỷ lệ sinh ở Ý, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha. Tôi tin rằng nó gần như bằng không. Vì thế, khi không có trẻ em, sẽ có những khoảng trống.”

Thứ ba: Chúng ta nên có thái độ kính sợ Thiên Chúa trong cách đối xử đối với người nhập cư

Như tôi từng nhắc đến, Sách Giáo lý Hội Thánh Công giáo cảnh báo chúng ta về “bốn tội lỗi kêu thấu trời”, trong đó có “tiếng kêu của người ngoại kiều, của bà góa và trẻ mồ côi”.

Những tội trọng này xuất hiện trong các đoạn Kinh Thánh đen tối nhất của Cựu Ước - từ dấu ấn của Cain, sự hủy diệt thành Xơđôm, cho đến các hình phạt dành cho những kẻ vi phạm Mười Điều Răn. Trong Tân Ước, thánh Giacôbê cũng dùng cách diễn đạt của Cựu Ước để cảnh báo:

“Tiền công của thợ gặt ruộng cho các ông, mà các ông đã gian lận giữ lại, đang kêu thấu; và tiếng kêu của những người gặt đã vọng đến tai Đức Chúa các đạo binh.”

Thiên Chúa là Đấng nhân hậu và hay xót thương, nhưng ngược đãi người nhập cư là một trong những tội lỗi có thể chuốc lấy cơn thịnh nộ của Người.

Thứ tư: Cuối cùng là thái độ truyền giáo đối với người nhập cư

Ngay từ thuở ban đầu, người Mỹ đã lo sợ rằng người nhập cư sẽ không hội nhập - rằng họ sẽ không đón nhận “văn hóa của chúng ta”, dù khái niệm ấy mỗi người hiểu một cách khác nhau. Tuy nhiên, lịch sử cho thấy nỗi sợ này là không có cơ sở. Những người châu Âu đầu tiên định cư tại các vùng của Hoa Kỳ đã định hình văn hóa sâu sắc đến mức, nhiều thế hệ sau, người ta vẫn có thể dự đoán xu hướng chính trị của các vùng ấy.

Trong thực tế, vấn đề thực sự là người nhập cư quá nhanh chóng hòa nhập vào nền văn hóa tiêu dùng của Mỹ - như câu chuyện mà Cha Mike Schmitz kể về một anh hùng đức tin người Trung Quốc đã sa sút đời sống đạo.

Một điều mà Hội Thánh Công giáo luôn làm cho người nhập cư là giúp họ hội nhập theo một cách lành mạnh. Một nghiên cứu về người nhập cư Ý cho thấy sự hiện diện của Hội Thánh làm chậm lại những kiểu hội nhập tiêu cực thông thường, nhưng lại thúc đẩy nhanh việc học nói và đọc tiếng Anh.

Người Công giáo cần nhìn người nhập cư như là “người của chúng ta”, và các giáo xứ cần trải thảm chào đón họ.

bài liên quan mới nhất

bài liên quan đọc nhiều

Top