Suy niệm ngày lễ Thánh Matthêu: “Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế”

Suy niệm ngày lễ Thánh Matthêu: “Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế”

Tác giả: M.C. Holbrook

PX. Nguyễn Hữu Sang biên dịch

TGPSG/CatholicExchange -- “Khi Đức Giêsu đi ngang qua, Người thấy một người tên là Matthêu đang ngồi tại trạm thu thuế. Người bảo ông: ‘Anh hãy theo tôi!’” (Mt 9,9)

Chúng ta có thể hiểu nhiều hơn về sứ vụ đầu tiên của Đức Giêsu qua việc Người chọn Matthêu làm môn đệ, hơn là qua việc Người chọn bất kỳ môn đệ nào khác. Điều gì khiến việc Đức Giêsu chọn Matthêu lại cho chúng ta thấy rõ đến thế về sứ vụ của Người?

Nhiều năm trước, tôi mời một nhóm bạn gặp nhau tại một quán cà phê để cùng lần chuỗi Mân Côi. Họ là những người bạn thuộc nhiều nhóm khác nhau, nhưng cùng nhau lần chuỗi là điểm chung của tất cả chúng tôi, nên tôi nghĩ chẳng ai bận tâm đến việc tôi mời những ai. Thực ra, tôi biết hai người trong số những người sẽ đến từng quen biết nhau từ nhiều năm trước, nên tôi nghĩ cuộc gặp gỡ ấy hẳn sẽ là một bất ngờ thú vị.

Nhưng không phải vậy. Khi người bạn đến trước nhìn thấy người kia xuất hiện, họ trao đổi với nhau vài lời xã giao. Rồi cô ấy đột ngột nói: “Tôi quên mất là mình còn có việc khác phải làm. Tôi phải đi thôi.” Nhìn nét mặt cô, có thể thấy rõ “việc khác” duy nhất mà cô cấn làm chính là rời khỏi sự hiện diện của người phụ nữ kia. Tôi không biết giữa họ đã xảy ra chuyện gì, nhưng rõ ràng trong lòng người bạn của tôi vẫn còn một vết thương chưa được chữa lành. Vết thương ấy đau đến mức ngay cả việc cùng nhau lần chuỗi Mân Côi cũng không đáng để cô ngồi chung bàn với người kia.

Khi Đức Giêsu chọn Matthêu đi theo Người, Người đã muốn đưa vào nhóm môn đệ của Người một người từng trực tiếp gây tổn hại cho chính những con người đang ngồi cùng bàn với Người.

Qua nhiều thế kỷ, thuật ngữ “người thu thuế” không còn khiến chúng ta cảm thấy sốc như ngày xưa. Nhưng đối với người Do Thái ở thế kỷ I, “người thu thuế” không đồng nghĩa với một người “chỉ đang làm công việc của mình”. Tại sao? Bởi vì cách thức chính quyền Rôma trả công cho những người thu thuế là cho phép họ giữ lại bất cứ khoản tiền nào họ thu được vượt quá số thuế mà người dân phải nộp. Vì thế, những người thu thuế thường có thói quen thu nhiều hơn so với số tiền “hợp lý” mà họ được phép thu, thậm chí nhiều khi số tiền còn vượt quá khả năng chi trả của chính gia đình mà họ thu thuế.

Lòng tham của người thu thuế có thể đẩy một gia đình vốn phải chăm chỉ lao động đến chỗ khánh kiệt về tài chính. Đối với họ, “người thu thuế” đồng nghĩa với “kẻ trộm”. Người thu thuế bị cả giới chức Do Thái lẫn những gia đình nghèo khiếp sợ và khinh ghét. Toàn thể dân chúng Do Thái đều chịu những tác động tiêu cực từ sự đe dọa và áp bức của họ. Và việc Matthêu cũng là một người Do Thái càng khiến những hành động của ông càng đáng ghét hơn. Ông không chỉ bóc lột chính đồng bào mình; ông còn phản bội họ. Có lẽ trong cộng đồng Do Thái thời bấy giờ, khó có ai bị khinh ghét hơn Matthêu. Ông bị xem là hạng người thấp kém nhất.

Trong bối cảnh đó, chúng ta có thể hiểu được sự bất bình trong lòng những người Pharisêu khi Đức Giêsu chọn Matthêu. Ngay cả khi họ có ý định tha thứ cho Matthêu, chắc chắn họ cũng không hiểu việc tha thứ theo cách Đức Giêsu giải thích (“bảy mươi lần bảy”). Hơn nữa, việc tha thứ cần có thời gian. Có một tiến trình mà chúng ta cần trải qua để sự tha thứ dành cho người đã gây tổn thương cho mình có thể trở nên trọn vẹn.

Trước hết, chúng ta phải nhìn nhận rằng mình thực sự đã bị xúc phạm và tổn thương. Sau đó, chúng ta cần cố gắng nhận ra bàn tay của Thiên Chúa trong nỗi đau của mình và tin tưởng rằng Người muốn đem đến một điều tốt đẹp lớn lao hơn cho cuộc đời chúng ta.

Để có thể hôn đôi tay của người đã xúc phạm mình như Thánh Giusephina Bakhita đã làm với những kẻ từng bắt giữ mình, quả thật đòi hỏi một ân sủng đặc biệt. Thế nhưng, dường như Đức Giêsu không cho những người Pharisêu thời gian và ân sủng ấy. Người không giải thích về lý do Người chọn Matthêu, cũng không bắt Matthêu phải nói lời xin lỗi, rồi ôm lấy mọi người để làm hòa, thậm chí không buộc Matthêu phải hoàn trả ngay số tiền ông đã chiếm đoạt trước khi mong đợi những người Pharisêu tha thứ cho ông.

Vậy Đức Giêsu nói gì với những người Pharisêu? Người bảo họ: “Hãy đi.” Đi ư? Tại sao lại là họ phải đi? Chính Matthêu mới là người cần phải đi! Nhưng dĩ nhiên, Đức Giêsu không bảo họ “đi đi, hãy tránh xa khỏi đây”. Người bảo họ hãy đi để “học cho biết ý nghĩa của câu này: Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế”. Nói cách khác, Đức Giêsu mời gọi họ đi vào Đền Thờ của chính tâm hồn mình, để lắng nghe tiếng Chúa Cha nói.

Trong khoảnh khắc tâm hồn họ đang đầy giận dữ và xáo trộn, có lẽ những lời họ cần nghe không phải là những lời Đức Giêsu có thể nói ngay lúc ấy. Những lời này họ sẽ đón nhận tốt hơn khi tâm hồn họ trở nên bình an. Chính nơi đền thờ ấy, họ sẽ hiểu được điều Đức Giêsu đang thực hiện khi Người chọn Matthêu. Chính ở nơi đền thờ ấy, sự oán giận và tức giận của họ đối với Matthêu sẽ được cất đi. Chính ở nơi đền thờ ấy, cuối cùng họ sẽ có thể tha thứ. Chính ở nơi đền thờ ấy, cuối cùng họ sẽ có thể thấy.

Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi

Đức Giêsu không phủ nhận những gì Matthêu đã làm là xấu xa. Thực tế, Người vừa gọi Matthêu là một “người tội lỗi”, thuộc về những người mà Người đến để cứu. Đức Giêsu không hề có ý định giả vờ rằng những gì Matthêu đã làm là không sai; Người cũng không định che giấu, bỏ qua hay làm ngơ trước điều ấy.

Kinh Thánh cho chúng ta biết rất ít về cuộc trò chuyện giữa Đức Giêsu và Matthêu sau khi những người Pharisêu rời đi. Nhưng chúng ta có thể chắc chắn một điều: bất cứ Đức Giêsu đã nói gì với ông, Người chắc chắn không nói: “Không sao đâu.” Cuối cùng, Matthêu đã có thể nhận ra rằng những gì ông đã làm thực sự không phải là điều đúng đắn.

Giờ đây, Matthêu đã trở thành một con người khác. Nhờ ân sủng của Thiên Chúa, sự biến đổi nơi ông cũng diễn ra tức thời, đó là sức mạnh phi thường của cuộc gặp gỡ giữa Matthêu với Chúa. Kinh Thánh kể rằng cuộc gặp gỡ ấy mạnh mẽ đến mức Matthêu “đứng dậy”, rời bỏ ngay trạm thu thuế của mình và đi theo Đức Giêsu.

Theo truyền thống, cuộc gặp gỡ ấy mạnh mẽ đến mức Matthêu không chỉ hoàn trả số tiền ông đã bóc lột từ đồng bào mình, mà còn đền trả gấp bốn lần cho những người mà ông đã gian dối.

Điều gì đã làm cho cuộc gặp gỡ giữa Matthêu và Đức Giêsu trở nên mạnh mẽ đến như vậy, đến nỗi Người không cần phải nói với ông: “Điều anh đã làm là sai” hay “Hãy trả lại những gì anh mắc nợ”?

Khi đứa con sáu tuổi của tôi làm điều gì sai, đó chính là những lời tôi phải nói với nó, bởi vì hoặc là nó chưa biết điều mình làm là sai, hoặc nếu nó đã biết, thì nó cần phải chịu một hình thức sửa dạy tương xứng với lỗi lầm của mình. Nhưng Đức Giêsu không đối xử với Matthêu theo cách ấy. Người đối xử với ông bằng lòng thương xót mà Thiên Chúa mong muốn.

Vậy những lời “Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế” có ý nghĩa gì đối với chúng ta?

Câu nói này cho chúng ta biết điều mà Đức Giêsu muốn những người Pharisêu hiểu được: con đường dẫn đến tư cách môn đệ đích thực và tình yêu dành cho Thiên Chúa không thể chỉ được xây dựng bằng những kỷ luật nghiêm khắc và việc tuân giữ lề luật. Kỷ luật nghiêm khắc và việc tuân giữ lề luật có thể làm nên một người tín hữu đạo đức. Nhưng chỉ có lòng thương xót mới có thể biến đổi tâm hồn con người thành một tâm hồn biết yêu thương bằng chính trái tim của Đức Kitô.

Top