Đời sống Thánh hiến trong Thế giới Kỹ thuật số: Hướng tới sự hiểu biết sâu sắc hơn về một số chuyển biến Mô hình trong Môi trường Nhân sinh

Đời sống Thánh hiến trong Thế giới Kỹ thuật số: Hướng tới sự hiểu biết sâu sắc hơn về một số chuyển biến Mô hình trong Môi trường Nhân sinh

Đời sống Thánh hiến trong Thế giới Kỹ thuật số: Hướng tới sự hiểu biết sâu sắc hơn về một số chuyển biến Mô hình trong Môi trường Nhân sinh

WHĐ (31/01/2026) - Bài viết suy tư về những tác động sâu rộng của môi trường kỹ thuật số đối với đời sống tu trì hôm nay. Từ dữ liệu học thuật và kinh nghiệm thực tiễn, tác giả làm nổi bật các thách đố liên quan đến đời sống cộng đoàn, đào tạo, chiêm niệm và sứ mạng, đồng thời mời gọi người sống đời thánh hiến tìm kiếm sự quân bình khôn ngoan giữa hiện diện trực tuyến và ngoại tuyến.

Tóm tắt

Vì truyền thông kỹ thuật số đã thay đổi mạnh mẽ thế giới trong vài thập niên qua, đặc biệt là sau sự xuất hiện của điện thoại thông minh; đời sống tu trì cũng đang trải nghiệm những ảnh hưởng của nó theo nhiều cách khác nhau. Tuy nhiên, mới chỉ có rất ít nỗ lực nhằm đánh giá thực trạng này về mặt học thuật. Bài viết này là một nỗ lực nhằm hiểu cách phê bình về sự chuyển biến mô hình mà môi trường kỹ thuật số đang mang vào đời sống tu trì và lối sống truyền thống của đời sống này. Dựa trên các dữ liệu hiện có về người bản địa kỹ thuật số (digital natives), bài viết ghi nhận rằng sự tham gia ngày càng nhiều vào môi trường số có thể tỉ lệ nghịch với sức khỏe tâm thần, hành vi trắc ẩn và mức độ gắn bó tôn giáo. Ngoài ra, bài viết còn chỉ ra rằng trong một thế giới của các cộng đồng trực tuyến, lời mời gọi sống đời cộng đoàn tu trì đòi hỏi nơi người tu sĩ một xác tín mạnh mẽ về ơn gọi của bản thân, cũng như những nỗ lực để tìm kiếm sự cân bằng đúng đắn giữa sự hiện diện trực tuyến và đời sống ngoại tuyến. Bài viết cũng nhấn mạnh sự cần thiết của việc duy trì các hoạt động cộng đoàn truyền thống, đồng thời chuyển đổi phương pháp đào tạo nhằm nuôi dưỡng đời sống trong môi trường kỹ thuật số.

Dẫn nhập

1. Từ Truyền thông kỹ thuật số đến Môi trường kỹ thuật số

2. Những người bản địa kỹ thuật số và di dân kỹ thuật số trong cùng một mạng lưới

3. Một số đặc tính của môi trường kỹ thuật số

4. Đời sống cộng đoàn trong thế giới kỹ thuật số

5. Việc đào tạo ứng sinh

6. Hoạt động và chiêm niệm trong đời sống tu trì

7. Sự thay đổi phân bố Kitô hữu

Kết luận

Dẫn nhập

Đời sống tu trì vốn có đặc điểm là tách biệt khỏi thế gian theo một cách nào đó. Tuy nhiên, ngày nay, những người sống đời thánh hiến, đặc biệt là những người đang tích cực dấn thân trong các sứ vụ, thật khó giữ mình hoàn toàn cách ly khỏi môi trường kỹ thuật số mà thế giới đang sống trong đó. Nhiều cộng đoàn thánh hiến tìm thấy những cơ hội trực tuyến để giới thiệu sứ mạng và đời sống của họ cho thế giới biết đến.[2] Thế giới kỹ thuật số đã giúp cho nhiều nhà giảng thuyết dễ dàng và ít tốn kém hơn trong việc tiếp cận khán thính giả của mình, vốn có thể phân tán khắp nơi trên thế giới.[3] Một số nghiên cứu khác cho thấy môi trường kỹ thuật số còn giúp nâng cao động lực và thành quả trong quá trình học tập của con người.[4] Hơn nữa, nhiều tu sĩ đang sử dụng mạng xã hội một cách tích cực để duy trì các mối tương quan lành mạnh và không ngừng làm mới lại cam kết sống đời thánh hiến, bằng việc kết nối với các nguồn và sự hướng dẫn về thiêng liêng, tâm lý và thần học, điều mà họ khó có thể tiếp cận nếu không có sự hỗ trợ của truyền thông kỹ thuật số. Tuy không phủ nhận những lợi ích mà môi trường kỹ thuật số mang lại cho đời sống và sứ vụ thánh hiến, nhưng bài viết này cũng cố gắng xem xét một cách có phê phán cách thức phương tiện truyền thông kỹ thuật số đang thay đổi cuộc sống của con người nói chung và của những người thánh hiến nói riêng. Nhận thức này có thể rất thiết yếu đối với bất kỳ ai đang cố gắng hiểu về đời sống thánh hiến trong thế giới số hóa ngày nay. Trước khi bắt đầu, cần làm rõ những gì không nằm trong phạm vi bàn luận của bài viết này. Do đó, những nội dung sau đây khôngphải là trọng tâm của bài viết:

1. Đây không phải là một cuộc thảo luận về cách loan báo Tin mừng cho thế giới bằng truyền thông kỹ thuật số, cũng không nhằm hướng dẫn cách sử dụng các phương tiện truyền thông để thi hành sứ vụ Kitô giáo. Đây không phải là một bản trình bày về những phần mềm, ứng dụng, công cụ AI hay nền tảng mạng xã hội tốt nhất mà người sống đời thánh hiến có thể sử dụng.

2. Đây cũng không phải là cuộc thảo luận chỉ xoay quanh các ứng sinh mới hay thế hệ trẻ trong đời tu. Những suy tư ở đây liên quan đến mọi người – cả người trẻ lẫn người lớn tuổi – miễn là họ đã chọn đời sống thánh hiến như là ơn gọi của mình

3. Cũng cần hiểu rõ rằng bài viết này không nhằm kêu gọi tránh xa môi trường kỹ thuật số, nhưng là mời gọi sống trong đó và biết tận dụng nó một cách tối đa.

Vì thế, bài viết cố gắng đánh giá những thay đổi mà thế giới kỹ thuật số đã mang lại cho đời sống thánh hiến. Những thảo luận ở đây được khơi nguồn từ dữ liệu và các góc nhìn trong nhiều tài liệu nghiên cứu khác nhau. Bảy điểm dưới đây sẽ trình bày một số khía cạnh then chốt liên quan đến việc sống đời thánh hiến trong thế giới kỹ thuật số ngày nay.

1. Từ Truyền thông kỹ thuật số đến Môi trường kỹ thuật số

Khi nghe đến cụm từ thế giới kỹ thuật số, điều đầu tiên hiện lên trong tâm trí là các phương tiện truyền thông giúp con người giao tiếp với nhau, xem video, nghe nhạc, học tập, v.v. Tuy nhiên, việc hiểu truyền thông (media) chỉ đơn thuần là một kênh chuyển tải dữ liệu, dù là cho giao tiếp, giải trí hay học tập, nay đã trở nên lỗi thời. Hơn cả một kênh truyền tải, truyền thông giờ đây đã trở thành một môi trường mà con người đang sống trong đó.[5] Chính vì vậy, thuật ngữ “truyền thông kỹ thuật số” (digital media) thường được thay thế bằng cụm từ “môi trường kỹ thuật số” (digital environment). Việc hiểu rõ sự chuyển đổi này là hết sức quan trọng để tránh không trở thành nạn nhân theo nhiều cách khác nhau. Khi sống trong một thành phố ồn ào, người ta làm cửa sổ cách âm để dễ ngủ hơn; khi sống ở nơi có nhiều muỗi, người ta làm lưới chắn cho cửa sổ và cửa ra vào. Hiểu được môi trường sống sẽ giúp con người chuẩn bị để sống an toàn trong đó. Tương tự, việc hiểu rằng thế giới kỹ thuật số đã chuyển từ vai trò là kênh giao tiếp đơn thuần sang một môi trường sống là điều thiết yếu để người sống đời thánh hiến có thể sống cách tốt đẹp trong đó.

Tuy nhiên, có một khác biệt lớn giữa môi trường kỹ thuật số và các môi trường như thành phố mà ví dụ vừa nêu. Nếu ai đó không muốn chấp nhận rủi ro khi sống trong một thành phố ô nhiễm, họ có thể chuyển đến sống ở một vùng quê yên bình, không có khói bụi. Nhưng với môi trường kỹ thuật số, dù muốn hay không, gần như không thể giữ mình hoàn toàn tách biệt khỏi nó. Nó hiện diện khắp nơi trên thế giới, đặc biệt là với những người sống đời thánh hiến đang thi hành sứ vụ tại nhiều nơi khác nhau. Theo cách này hay cách khác, ai cũng buộc phải sống trong môi trường kỹ thuật số. Vì thế, điều duy nhất có thể làm là áp dụng những bước đi cẩn trọng để sống trong đó cách khôn ngoan và tận dụng hiệu quả những lợi ích mà nó mang lại (tương tự như những tiện nghi của đời sống thành thị so với nông thôn lạc hậu), nhưng không để mình trở thành nạn nhân của những nguy cơ mà nó đặt ra. Do đó, nhận thức then chốt ở đây là: truyền thông kỹ thuật số không còn chỉ là những kênh chuyển tải dữ liệu, mà đã trở thành một môi trường sống của con người.

2. Những người bản địa kỹ thuật số và di dân kỹ thuật số trong cùng một mạng lưới

Dựa trên năm sinh, người ta thường xếp các cá nhân vào những nhóm thế hệ khác nhau. Theo đó, một cách phân loại phổ biến như sau: Thế hệ X (1960–1980), Thế hệ Y (1980–2000), Thế hệ Z (2000–2010), và Thế hệ Alpha (2010 – nay).[6] Thế hệ Z và các thế hệ sau đó thường được xem là người bản địa kỹ thuật số vì họ chưa từng sống trong một thế giới không có Internet hay công nghệ kỹ thuật số. (Đôi khi, cả thế hệ Y cũng được xếp vào nhóm này). Những người sinh trước năm 1980 thường được gọi là người di dân kỹ thuật số (digital immigrants). (Họ đã chuyển từ một thế giới không Internet sang một thế giới Internet). Có nhiều nghiên cứu và bài viết mô tả các đặc điểm của người bản địa kỹ thuật số. Trong số những phát hiện và đặc điểm khác nhau đó, bài viết này trình bày năm đặc điểm có thể hữu ích cho cuộc thảo luận về đời sống tu trì. Mối quan tâm khi trình bày những đặc điểm này ở đây là có thể nhiều đặc điểm trong số đó, theo cách này hay cách khác, cũng đang len lỏi vào nơi những người được gọi là di dân kỹ thuật số.

a) Phát hiện đầu tiên là người bản địa kỹ thuật số cảm thấy sống trong trạng thái “không làm gì cả” là điều rất khó, đúng vậy, “không làm gì cả”.[7] Điều này nghe có vẻ khó hiểu, nhưng lại là sự thật. Người bản địa kỹ thuật số bị thôi thúc từ bên trong để luôn phải làm một điều gì đó. Nếu có thời gian rảnh, họ thường cầm điện thoại lên và bắt đầu lướt màn hình. Ngay cả khi đi bộ trên đường, họ cũng thường đeo tai nghe, hoặc là đang nói chuyện với ai đó hoặc là nghe nhạc. Dù phát hiện này nói về người bản địa kỹ thuật số, câu hỏi đặt ra là: liệu những người di dân kỹ thuật số bị ảnh hưởng đến mức nào? Liệu người lớn ngày nay có thể khẳng định rằng họ thực sự không bị ảnh hưởng chăng? Trong bối cảnh này, dường như một nhân đức mới đang nổi lên (thực ra là đang tái xuất hiện): lời mời gọi “không làm gì cả”; nói cách khác, lời mời gọi ở trong sự thinh lặng – một nhân đức đang dần biến mất trong thế giới ngày nay. Đối với một người sống đời thánh hiến, sự “không làm gì cả”, sự tĩnh lặng này lại mang một ý nghĩa rất quan trọng. Ơn gọi của người tu sĩ hôm nay có thể chính là nhắc cho thế giới nhớ rằng sự không làm gì cả này, sự thinh lặng này, không phải là thụ động.[8]

b) Một số nghiên cứu cho thấy nơi người bản địa kỹ thuật số, việc sử dụng thế giới kỹ thuật số có mối tương quan tiêu cực với lòng thấu cảm, lòng trắc ẩn, v.v.[9] Đây là một phát hiện cần được nghiên cứu sâu hơn. Tuy nhiên, việc quan sát các xu hướng khác nhau trên mạng xã hội cũng đặt ra cùng một câu hỏi. Việc tranh luận công kích và phản công trên các nền tảng số dẫn đến những xung đột, thậm chí bạo lực ngoài đời thực, không còn là chuyện hiếm gặp nữa.[10] Việc tiếp cận những phát hiện này quả thật gây báo động và thôi thúc ta suy tư về những tác động mà chúng có thể tạo ra trong xã hội. Câu hỏi được đặt ra ở đây là: liệu những người sống đời thánh hiến hiện nay có đang dần đánh mất sự thấu cảm và lòng trắc ẩn của mình chăng? Dù mỗi người có thể có câu trả lời riêng, thì điều đúng đắn vẫn là: cần nhận thức rằng với việc sử dụng phương tiện truyền thông kỹ thuật số một cách thiếu cẩn trọng, sự thiếu vắng lòng thấu cảm và lòng trắc ẩn có thể trở thành một “con ngựa thành Troa” âm thầm xâm nhập vào đời sống tu trì mà chính họ cũng không hay biết.

c) Phát hiện thứ ba là việc sử dụng internet có tương quan tiêu cực với sự gắn bó tôn giáo. Nói cách khác, người bản địa kỹ thuật số dễ có xu hướng rời bỏ những gắn kết tôn giáo mà họ đã theo từ khi sinh ra.[11] Điều thú vị là nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, ngay cả khi internet làm giảm mức độ gắn bó hoặc trung thành với một tôn giáo, nó vẫn không cản trở việc tham dự các nghi lễ tôn giáo[12] Do đó, điều này có thể gợi ý rằng không phải ai tham dự các nghi lễ tôn giáo cũng có một sự gắn bó sâu sắc với tôn giáo hay đức tin. Nói cách khác, nơi thế hệ sống trong thời đại internet, có thể hiện diện một hình thức tham dự thụ động hoặc thiếu quan tâm thật sự. Liên quan đến những người sống đời thánh hiến trong kỷ nguyên kỹ thuật số, có thể là không công bằng nếu vội vàng kết luận rằng họ đang sống đời tu một cách thiếu quan tâm hay chỉ tham dự nghi thức tôn giáo cho có lệ. Tuy nhiên, những phát hiện này cho chúng ta thấy rằng thế giới kỹ thuật số có thể tác động đến con người một cách sâu xa, thậm chí ngay cả khi họ không nhận ra hoặc không ưng thuận. Vì vậy, điều này đòi hỏi người sống đời thánh hiến một thái độ tỉnh thức và hành động có ý thức. Điều thú vị là, nghiên cứu trên đây cũng cho thấy truyền hình không làm thay đổi sự gắn bó tôn giáo của con người cho bằng internet.[13] Điều này có lẽ cho thấy rằng thời đại internet thực sự khác biệt so với thời đại truyền hình, dù cả hai đều nằm trong cùng một tiến trình phát triển kỹ thuật số.

d) Phát hiện tiếp theo là sự suy giảm sức khỏe tâm thần nơi người bản địa kỹ thuật số do việc sử dụng truyền thông kỹ thuật số ngày càng nhiều. Các vấn đề sức khỏe tâm thần có thể bao gồm: rối loạn lo âu, trầm cảm, rối loạn giấc ngủ, hành vi lệch chuẩn trong xã hội, và sự suy giảm lòng tự trọng, v.v.[14] Một lần nữa, câu hỏi được đặt ra là: liệu những người di dân kỹ thuật số – tức những người sinh trước năm 1980 – có thực sự miễn nhiễm với những nguy cơ này chăng?

e) Phát hiện thứ năm và cũng là phát hiện cuối cùng có một sắc thái khác biệt. Nghiên cứu cho thấy rằng người bản địa kỹ thuật số gặp nhiều khó khăn hơn trong việc lưu trữ thông tin trong não so với các thế hệ trước.[15] Tuy nhiên, trái với suy nghĩ ban đầu xem đây là một điều tiêu cực, thì một số ý kiến cho rằng sự giảm khả năng lưu trữ này của người bản địa kỹ thuật số cũng có mặt tích cực. Theo lập luận này, bởi vì người bản địa kỹ thuật số không để đầu óc của mình “đầy”, nên não bộ của họ có không gian để sáng tạo và phát minh hơn. Nói cách khác, họ có thể sử dụng bộ não của mình để sản sinh những ý tưởng mới mẻ và độc đáo.[16] Đây thực sự là một khía cạnh tích cực của cuộc cách mạng kỹ thuật số. Tuy nhiên, liệu việc từ bỏ “sự khôn ngoan” truyền thống có phải lúc nào cũng là điều tốt?

3. Một số đặc tính của môi trường kỹ thuật số

Bên cạnh những phát hiện và suy tư đã nêu, có thể nhận diện một số đặc điểm nổi bật của môi trường kỹ thuật số hiện nay.

a) Trước hết, nếu quan sát kỹ sẽ thấy rằng môi trường kỹ thuật số đang đề cao quá mức khoái lạc và sự giải trí.[17] Việc tạo ra sự giải trí và cảm giác kỳ thú đã trở thành mục tiêu của nhiều nhà sáng tạo nội dung. Trừ khi có điều gì đó thu hút được người xem, nội dung – dù là chương trình tin tức hay giải trí – cũng khó có thể bán chạy. Do việc đề cao quá mức yếu tố khoái lạc và giải trí trong thế giới trực tuyến, điều này dần trở thành chuẩn mực cho đời sống ngoại tuyến. Những sinh hoạt thường nhật giản dị trở nên nhàm chán và thiếu hấp dẫn. Nếu không có một động lực nội tại mạnh mẽ và một mục đích sống rõ ràng, đời sống thánh hiến và các thực hành truyền thống sẽ dễ dàng bị xem như những bổn phận bắt buộc, khô khan chỉ để duy trì tư cách thành viên trong cộng đoàn.

b) Thứ đến, trên mạng xã hội, dường như nguyên tắc đang được vận hành là “mục đích biện minh cho phương tiện”. Nhằm gia tăng lượng người theo dõi và lượt xem, việc sử dụng bất kỳ phương tiện nào – dù không được xã hội chấp nhận – đã trở thành một “thực hành được chấp nhận” trong thế giới mạng.[18]Việc tạo niềm vui bằng cách đánh lừa hoặc làm phiền người khác nơi công cộng (như các trò chơi khăm - prank) đã trở thành một phương thức phổ biến của các nhà sáng tạo nội dung. Thậm chí, một số kênh mang danh tôn giáo cũng sử dụng chiêu thức “giật tít” (clickbait) để thu hút người xem.

c) Thứ ba, đôi khi số lượng dường như được coi trọng hơn chất lượng, mặc dù điều này không phải lúc nào cũng đúng. Đặc biệt, khi người ta chú ý đến nỗ lực để có thêm nhiều bạn bè, nhiều lượt thích và nhiều người theo dõi – ngay cả khi nhiều người trong số đó không thật sự thân thiết – thì có thể nhận ra một xu hướng đề cao số lượng hơn chất lượng.[19] Tuy nhiên, cũng có một khía cạnh khác của vấn đề. Đó là khi một người trở nên ám ảnh với một hoặc một vài người bạn thân thiết. Vòng tròn bạn bè này có thể trở nên sự hủy hoại hoặc xây dựng, tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau.

Bên cạnh đó, cũng cần lưu ý một đặc điểm nổi bật nơi người bản địa kỹ thuật số: đối với họ, các mối tương quan không bao giờ mang tính thứ bậc; và quyền bính không phải là điều đạt được bằng danh hiệu mà từ sự gần gũi và tính xác thực.[20] Thực tế này có thể mang lại những hệ quả lớn khi được áp dụng vào bối cảnh sống chung đời thánh hiến trong kỷ nguyên kỹ thuật số. Trong các cộng đoàn sống đời thánh hiến, các mối tương quan thường có tính thứ bậc, và quyền bính thường được trao theo chức danh. Điều này có thể trở nên khó chấp nhận đối với người bản địa kỹ thuật số, trừ khi quyền bính ấy đi kèm với sự gần gũi trong tương quan và đời sống chân thực.

4. Đời sống cộng đoàn trong thế giới kỹ thuật số

Một lĩnh vực quan trọng khác cần được đưa vào thảo luận ở đây là đời sống cộng đoàn của những người sống đời thánh hiến và những đặc tính thay đổi của cộng đoàn trong thế giới đương đại chịu ảnh hưởng bởi truyền thông kỹ thuật số. Thế giới kỹ thuật số đã thay đổi ý nghĩa truyền thống hoặc thêm những ý nghĩa mới vào khái niệm “cộng đoàn”. Theo truyền thống, cộng đoàn chủ yếu được hiểu là một nhóm người gắn bó với nhau trong cùng một nơi.[21] Khái niệm này gắn chặt với yếu tố không gian. Tuy nhiên, sự xuất hiện của các nền tảng xã hội trực tuyến và khả năng di chuyển dễ dàng trên toàn cầu đã xoá bỏ yêu cầu phải sống cùng một địa điểm. Do đó, cộng đoàn ngày nay có thể được hiểu là một điều gì đó tạo nên sự gắn kết bền chặt giữa con người với nhau.[22] Cá nhân tôi thấy định nghĩa này ý nghĩa hơn, vì nó chỉ ra một đặc điểm cần thiết của một cộng đoàn lý tưởng. Nhưng định nghĩa này cũng đặt ra một thách thức đối với các cộng đoàn tu trì truyền thống, nơi mà “cộng đoàn” được hình thành hợp pháp dựa trên các quyết định bổ nhiệm của bề trên. Trái lại, các cộng đoàn trực tuyến được hình thành bởi những người có cùng sở thích và cùng tần số tinh thần. Ngay cả khi một người sống đời thánh hiến cố gắng thích nghi với các tính cách khác biệt trong một cộng đoàn được thiết lập bởi sự bổ nhiệm, thì sự dễ dàng và thân thiện của các cộng đoàn trực tuyến lại mang đến một nền tảng để người tu sĩ có thể duy trì sự kết nối và dấn thân của mình. Không chỉ đơn thuần là sự quy tụ dựa trên sở thích, các cộng đoàn trực tuyến còn đáp ứng nhiều nhu cầu khác nhau của con người: đó có thể là nhu cầu về thông tin, nhu cầu được khẳng định, hoặc nhu cầu tình cảm.[23] Nếu các cộng đoàn bị giới hạn không gian và được hình thành do sự bổ nhiệm trở thành nơi xung đột, thì điều tự nhiên là con người sẽ có xu hướng tìm đến các cộng đồng trực tuyến như nhóm bạn thân, nhóm WhatsApp, v.v. Thêm vào đó, khác với cộng đoàn truyền thống nơi bề trên giữ vai trò trung tâm, trong các cộng đoàn trực tuyến, chính cá nhân là trung tâm; nói cách khác, người ta chỉ tham gia vào những cộng đoàn hoặc mối tương quan mà họ cảm thấy hứng thú, vì họ không bắt buộc phải là thành viên của bất kỳ cộng đồng trực tuyến nào.[24] Và nếu một mối tương quan hay một nhóm trực tuyến nào đó không đáp ứng được kỳ vọng của họ, thì họ luôn có thể chuyển sang một nhóm bạn bè khác. Vì thế, có thể nói rằng, chính cá nhân ấy đang trở thành một cộng đoàn. Như vậy, họ luôn là người đứng đầu nơi đó, và vì thế cũng cảm thấy hạnh phúc. Điều này cho thấy tại sao con người ngày nay cảm thấy dễ dàng và thoải mái hơn khi hoạt động trên môi trường trực tuyến hơn là trong đời sống thực. Do đó, việc gắn bó với đời sống cộng đoàn tu trì và làm cho nó trở thành một nơi sống trong tình yêu đòi hỏi một tinh thần tu trì đích thực và một tình yêu mãnh liệt dành cho Đức Kitô. Ngoại trừ tình yêu mạnh mẽ dành cho Đức Kitô, còn lý do nào khác có thể giúp người ta sống đời thánh hiến cách vui tươi với một người có phong cách và tư tưởng hoàn toàn khác biệt với mình? Nếu một tu sĩ không liên tục nhắc nhớ chính mình về ý nghĩa và mục đích của đời sống tu trì, thì người ấy rất dễ bị cuốn hút bởi những ốc đảo xanh mát quanh mình. Điều thú vị là ốc đảo này không nhất thiết phải là một mối tương quan; nó có thể là phim ảnh, tin tức, các hình thức giải trí vô tận, và nhiều thứ khác. Câu nói nổi tiếng của Thánh Chavara nhắc nhớ mỗi người sống đời thánh hiến rằng: “Sức mạnh của các đan viện không nằm ở sự kiên cố của những bức tường, mà nằm ở lòng nhiệt thành tu trì và các nhân đức của các thành viên”.[25]

5. Việc đào tạo ứng sinh

Sau khi đã nhận diện những thách đố do thế giới kỹ thuật số đặt ra, điều đáng quan tâm là chương trình đào tạo các ứng sinh đời sống tu trì. Liệu các chương trình đào tạo hiện tại có trang bị cho ứng sinh khả năng sống đời tu trong thế giới trực tuyến hay không?[26] Phần lớn các chương trình huấn luyện (mà tôi có dịp tiếp cận) chủ yếu nhằm đào tạo tu sĩ và linh mục sống và thi hành sứ vụ trong môi trường ngoại tuyến. Các ứng sinh được đào tạo để phục vụ trong các môi trường mục vụ trực tiếp và sống đời tu trong những bối cảnh ngoại tuyến. Như đã nêu ở phần đầu, truyền thông kỹ thuật số không còn chỉ là một phương tiện, mà là một môi trường sống thực sự của con người hôm nay. Và vì đó là thực tại – là thế giới mà ngay cả những người sống đời tu cũng đang dành nhiều thời gian để hiện diện – thì câu hỏi được đặt ra là: liệu có một sự đào tạo tương xứng nào đang được thực hiện để giúp họ sống đời thánh hiến trong chính môi trường kỹ thuật số này không? Có lẽ đây là điều cần được tiếp tục suy tư khi thiết kế các chương trình đào tạo cho ứng sinh đời sống thánh hiến và linh mục tu sĩ. Thường thì xu hướng phổ biến hiện nay là cố gắng giữ cho ứng sinh tránh xa môi trường kỹ thuật số để bảo vệ họ khỏi những cạm bẫy. Nhưng điều này thường chỉ dẫn đến sự mù mờ kỹ thuật số chứ không giúp họ đạt tới sự trưởng thành trong thế giới kỹ thuật số. Về sau, khi đã khấn trọn hoặc được truyền chức và được tự do tiếp cận thế giới kỹ thuật số, rất có thể các tu sĩ trẻ sẽ lại vấp phải những cạm bẫy mà trước đó họ từng được bảo vệ để khỏi gặp phải, nhờ vào các quy định và cấm đoán. Thay vào đó, có lẽ sẽ hữu ích hơn nếu huấn luyện họ sống trưởng thành trong chính môi trường kỹ thuật số bằng việc cho họ tiếp cận thực tế, đồng thời trang bị cho họ những hiểu biết, và định hướng cần thiết.

6. Hoạt động và chiêm niệm trong đời sống tu trì

Dù trong thế kỷ vừa qua, số người thực hành tôn giáo tích cực ở các quốc gia phương Tây đã giảm sút đáng kể, nhưng đối với bất kỳ ai từng sống tại các quốc gia này, rõ ràng ảnh hưởng của Kitô giáo vẫn hiện diện sâu sắc trong nền văn hóa. Tuy nhiên, một câu hỏi được đặt ra là: liệu ảnh hưởng đó có còn mãi không? Khi việc thực hành đức tin giảm đi, liệu nền văn hóa có bị biến đổi theo? Trong một thế giới thay đổi nhanh chóng như hiện nay, sự chuyển biến văn hóa cũng có thể diễn ra rất nhanh. Vì vậy, câu hỏi “Các quốc gia phương Tây có thể còn giữ được tính Kitô giáo trong văn hóa của họ bao lâu nữa?” là điều cần thời gian để chứng nghiệm.

Với bối cảnh này, cuộc thảo luận về đời sống thánh hiến có thể được tiếp tục. Việc đạt được sự quân bình giữa hoạt động và chiêm niệm luôn là một thách đố thực sự trong đời sống thánh hiến. Khi môi trường kỹ thuật số xâm nhập vào các cộng đoàn tu trì, việc duy trì sự quân bình này lại càng trở nên khó khăn hơn.[27] Liệu thế giới kỹ thuật số có đang thúc đẩy người tu sĩ thích nghi với một hình thức mới mà ta có thể gọi là “đời sống thánh hiến năng động”? Khái niệm “đời sống thánh hiến năng động” có thể được hiểu qua một ví dụ đơn giản: Khi một tu sĩ dành nhiều giờ để tư vấn tâm linh qua điện thoại hoặc tham dự các buổi cầu nguyện trực tuyến – như một hình thức sống đời thánh hiến – và thường xuyên vắng mặt trong các sinh hoạt cộng đoàn truyền thống, liệu điều đó có thể được biện minh bằng cách gọi đó là “đời sống thánh hiến năng động” chăng? Cũng giống như việc ảnh hưởng văn hóa của tôn giáo sẽ dần biến mất khi việc thực hành đức tin bị suy giảm, đời sống thánh hiến cũng sẽ mai một nếu nó chỉ còn là tập hợp của những hoạt động bên ngoài mà thiếu nền tảng nội tâm là chiêm niệm, đời sống cộng đoàn và cầu nguyện. Làm sao có thể có hoạt động đích thực nếu không có chiêm niệm? Có thể vẫn có hoạt động mà không cần chiêm niệm, nhưng khi đó, hoạt động ấy không còn liên hệ gì với đức tin hay sứ mạng Kitô giáo. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng cuộc thảo luận này không nhằm kêu gọi thu hẹp đời sống tu trì vào việc chiêm niệm thuần túy, mà là một lời mời gọi tìm kiếm sự quân bình đúng đắn giữa đời sống cộng đoàn và thời gian dành cho thế giới bên ngoài – đặc biệt là thế giới kỹ thuật số. Điều này dẫn đến một câu hỏi cổ điển: Liệu người tu sĩ nên chiêm niệm trong hoạt động hoặc hoạt động trong chiêm niệm hay hướng đến một sự quân bình trưởng thành? Tóm lại, câu hỏi đặt ra là: khi thế giới kỹ thuật số cung cấp vô vàn “cơ hội” để theo đuổi đời sống thánh hiến năng động bằng cách gạt sang một bên đời sống tu trì truyền thống, liệu người tu sĩ có nên đón nhận tất cả những gì thị trường kỹ thuật số đó đem lại chăng?

7. Sự thay đổi phân bố Kitô hữu

Trước khi kết thúc phần thảo luận này, sẽ là điều thú vị nếu nhìn nhận rằng một hội dòng thuộc khu vực Nam Bán Cầu có thể tạo ra ảnh hưởng như thế nào đối với đời sống thánh hiến trên bình diện toàn cầu ngày nay. Thống kê cho thấy đã có một sự thay đổi rõ rệt trong phân bố dân số Kitô giáo trong suốt thế kỷ qua. Nếu như vào năm 1900, có tới 82% Kitô hữu sống ở Bắc Bán Cầu (các nước phương Tây), thì đến năm 2020, con số này đã đảo ngược khi có tới 67% Kitô hữu hiện đang sống ở Nam Bán Cầu.[28] Vì thế, các tu sĩ thánh hiến đến từ khu vực Nam Bán Cầu giữ một vai trò rất quan trọng trong Giáo hội hiện nay. Việc họ sống và thể hiện đời thánh hiến của mình như thế nào trong thế giới kỹ thuật số chắc chắn sẽ để lại những tác động lớn đối với diện mạo đời sống thánh hiến toàn cầu. Dù có ai chấp nhận điều đó hay không, thì đó vẫn là một thực tế không thể phủ nhận.

Kết luận

Trong dòng lịch sử, có những xu hướng từng đảo ngược ở giai đoạn sau. Tuy nhiên, không phải mọi xu hướng đều quay trở lại như cũ. Có vẻ như sự chuyển mình của thế giới sang môi trường kỹ thuật số thuộc về loại thứ hai – một xu hướng khó có thể bị đảo ngược.[29] Vì vậy, điều này đòi hỏi chúng ta phải ý thức rằng môi trường sống của con người đã thay đổi một cách vĩnh viễn và cần có sự chuẩn bị nghiêm túc để sống trong môi trường đó. Như đã đề cập từ đầu, bài viết này không nhằm bàn về việc sử dụng truyền thông kỹ thuật số cho sứ vụ tông đồ, mà là nỗ lực khơi mở một cuộc thảo luận về những thách đố cụ thể mà các tu sĩ và cộng đoàn tu trì đang đối diện trong thời đại kỹ thuật số. Những vấn đề được nêu lên ở trên được dành lại cho sự suy tư cá nhân cũng như đối thoại trong cộng đoàn. Sẽ rất hữu ích nếu nhìn nhận rằng thế giới trực tuyến và thế giới ngoại tuyến là hai chiều kích bổ túc cho nhau.[30] Cả hai đều là một phần trong đời sống con người hôm nay. Con người đang sống đồng thời trong cả hai thế giới này. Thành công của một người sống đời thánh hiến trong bối cảnh hiện đại hệ tại ở chỗ biết giữ được sự quân bình đúng đắn giữa hiện diện trực tuyến và hiện diện ngoại tuyến của mình. Dù nhiều hoạt động có thể được chuyển sang môi trường trực tuyến, nhưng không phải điều gì cũng có thể được số hóa hoàn toàn. Một ví dụ đơn giản có thể minh họa: dù người ta có thể mua cây giống qua mạng, nhưng để trồng và chăm sóc nó, vẫn cần phải lao động ngoài đồng. Tương tự, cũng vậy, dù có thể mang lại trải nghiệm thiêng liêng qua các dịch vụ trực tuyến, đức tin Công giáo không cho phép việc tham dự trọn vẹn các bí tích diễn ra hoàn toàn qua mạng. Đồng thời, việc hoàn toàn tránh xa thế giới kỹ thuật số trong thời đại hôm nay lại là điều hết sức dại dột, bởi vì môi trường ấy đang mở ra vô số cơ hội. ChatGPT chẳng hạn, có lẽ chỉ là sự khởi đầu cho một kỷ nguyên mới trong thế giới kỹ thuật số. Điều quan trọng cần được nhấn mạnh một lần nữa là mục đích của bài viết này không phải để phác hoạ môi trường kỹ thuật số như một điều tiêu cực, mà chỉ là nhằm suy tư về những thay đổi có thể xảy ra trong đời sống cá nhân và cộng đoàn của những người sống đời thánh hiến khi hiện diện trong môi trường này. Hơn nữa, bài viết cũng không hề cho rằng môi trường ngoại tuyến thì an toàn hơn hoặc không có những ảnh hưởng tiêu cực. Lời mời gọi đặt ra là hãy tạo nên một sự hoà hợp đúng đắn giữa hiện diện trực tuyến và hiện diện ngoại tuyến, bởi cả hai chiều kích này đều có thể đóng góp to lớn cho một đời sống và sứ vụ phong nhiêu của người tu sĩ. Để làm được điều đó, người sống đời thánh hiến có lẽ cần có hai loại hiểu biết: trước hết là một sự hiểu biết sâu xa và xác tín vững chắc về ơn gọi thánh hiến của mình; thứ đến là một sự am hiểu và khôn ngoan đối với những dòng chảy ngầm đang vận hành trong cả môi trường kỹ thuật số lẫn môi trường thực tế. Ngày nay, người ta thường nói rằng: nếu một điều gì đó không xuất hiện trên truyền thông, thì gần như nó được xem là không tồn tại. Vì thế, nếu một người không hiện diện trên môi trường trực tuyến, họ có thể dễ dàng bị quên lãng và chẳng được ai để ý. Do đó, việc thúc đẩy bản thân hiện diện trong không gian mạng trở nên cần thiết,[31] không chỉ để sứ vụ của mình có thể tiếp cận với công chúng, mà còn để nhắc nhở chính các thành viên về sự hiện diện của mình trong cộng đoàn tu trì. Có bao nhiêu thành viên sẽ còn nhớ đến những anh chị em tu sĩ – cao niên cũng như trẻ tuổi – đang sống ở một tu viện hay cộng đoàn khác, nhưng không hoạt động trong nhóm WhatsApp của dòng tu hay hội dòng? Sự cần thiết phải hiện diện trên môi trường trực tuyến không phải là điều tiêu cực, mà chỉ là hệ quả tự nhiên của thực tế rằng thế giới ngày nay không còn bị giới hạn trong không gian vật lý. Thế giới đã vượt ra khỏi những biên giới hữu hình để bao trùm cả không gian kỹ thuật số như một phần không thể thiếu trong tầm nhìn và thực tại hiện sinh của con người. Vì thế, việc hoạt động trong nhóm WhatsApp chỉ nên được hiểu như một sự mở rộng của sự hiện diện tích cực nơi cộng đoàn thực tế. Điều quan trọng cần ghi nhớ là: sự hiện diện khôn ngoan và thận trọng cả trong môi trường trực tuyến lẫn ngoại tuyến là điều cần thiết và bổ túc cho nhau. Do đó, một lòng kiên trung trong đời tu, một sự khôn ngoan dựa trên hiểu biết, và một khả năng quân bình trưởng thành giữa cuộc sống trực tuyến và ngoại tuyến trở thành những yếu tố then chốt cho một đời sống thánh hiến mang tính chứng tá trong thế giới hôm nay.

Tác giả: Jerin Jacob[1]

Chuyển ngữ: Nt. Anna Ngọc Diệp, OP.

Chuyển ngữ từ: ajol.info

Trích Bản tin Hiệp Thông / HĐGMVN, Số 149 (tháng 9 & 10 năm 2025)

--------------------

[1] Tuyên bố minh bạch: Tác giả cho biết không có xung đột lợi ích nào cần công bố.

[2] Xem ví dụ tại: https://www.ofmcap.org/en/ và https://osb.org/.

[3] Catherine Gomes và Jonathan Y. Tan, “The Global Appeal of Digital Pastors: A Comparative Case Study of Joseph Prince, and Brian and Bobbie Houston”, trong Religion, Hypermobility and Digital Media in Global Asia: Faith, Flows and Fellowship, ed. Catherine Gomes, Lily Kong, and Orlando Woods (Amsterdam University Press, 2020), trang 149, truy cập ngày 28/01/2024, https://www.aup.nl/en/book/9789463728935.

[4] Elif Aktas và Serap Uzuner Yurt, “Effects of Digital Story on Academic Achievement, Learning Motivation and Retention among University Students,” International Journal of Higher Education 6, số 1 (ngày 4/1/2017): trang 180.

[5] Aline Amaro da Silva, “Catechesis in the Digital Age: From Transmission to Sharing,” Communication Research Trends 38, no. 4 (2019): trang 12.

[6] da Silva, “Catechesis in the Digital Age: From Transmission to Sharing,” trang 14.

[7] da Silva, “Catechesis in the Digital Age: From Transmission to Sharing,” trang 13.

[8] da Silva, “Catechesis in the Digital Age: From Transmission to Sharing,” trang 14.

[9] Amanda Nicole Moscrip, “Generation Z’s Positive and Negative Attributes and the Impact on Tributes and the Impact on Empathy After a Community-Based Learning Experience” (University of North Florida, 2019), trang 10, https://digitalcommons.unf.edu/etd/908.

[10] Teresa Montemayor, “Online Hate Speech Leads to Real Life Violence - CHR,” sửa đổi lần cuối ngày 27/6/2023, truy cập ngày 26/9/2023, https://www.pna.gov.ph/articles/1206573.

[11] Kirk A. Bingaman, “Religion in the Digital Age: An Irreversible Process,” Religions 14, số 1 (12/1/2023): trang 11; Paul K. McClure, “Tinkering with Technology and Religion in the Digital Age: The Effects of Internet Use on Religious Belief, Behavior, and Belonging,” Journal for the Scientific Study of Religion 56, số 3 (2017): trang 493.

[12] McClure, “Tinkering with Technology and Religion in the Digital Age: The Effects of Internet Use on Religious Belief, Behavior, and Belonging,” trang 493.

[13] McClure, “Tinkering with Technology and Religion in the Digital Age: The Effects of Internet Use on Religious Belief, Behavior, and Belonging” trang 81, 91–92.

[14] Nicole Crump, “Digital Natives: The Nature of Technology on College Student Mental Health” (Đại học James Madison, 2015), trang 10; Michelle Jayman, “Digital Lives: Growing up in a Hi-Tech World and Staying Mentally Healthy,” trong Supporting New Digital Natives, ed. Michelle Jayman, Maddie Ohl, và Leah Jewett, ấn bản đầu tiên (Bristol University Press, 2022), trang 8, truy cập ngày 26/9/2023, https://www.cambridge.org/core/product/identifier/9781447356462%23c1/type/book_part; Fazida Karim và cộng sự, “Social Media Use and Its Connection to Mental Health: A Systematic Review,” Cureus (15/6/2020): trang 6–7, truy cập ngày 26/9/2023, https://www.cureus.com/articles/31508-social-media-use-and-its-connection-to-mental-health-a-systematic-review

[15] da Silva, “Catechesis in the Digital Age: From Transmission to Sharing,” trang 13.

[16] da Silva, “Catechesis in the Digital Age: From Transmission to Sharing trang 13.

[17] da Silva, “Catechesis in the Digital Age: From Transmission to Sharing,” trang 14.

[18] Emmanuel Tupas, “3 Vloggers Charged for Kidnap Prank,” Philstar.Com, truy cập ngày 26/9/2023, https://www.philstar.com/nation/2023/04/30/2262598/3-vloggers-charged-kidnap-prank.

[19] Romeo Vitelli, “Is Quality Better Than Quantity in Social Relationships?” Psychology Today truy cập ngày 26/9/2023, https://www.psychologytoday.com/intl/blog/media-spotlight/201911/is-quality-better-quantity-in-social-relationships.

[20] da Silva, “Catechesis in the Digital Age: From Transmission to Sharing,” trang 14.

[21] “Community Definition & Meaning | Britannica Dictionary,” truy cập ngày 26/9/2023, https://www.britannica.com/dictionary/community.

[22] Anita L. Cloete, “Living in a Digital Culture: The Need for Theological Reflection,” HTS Teologiese Studies / Theological Studies 71, số 2 (6 /2/2015): trang 261.

[23] Cloete, “Living in a Digital Culture,” trang 262.

[24] Cloete, “Living in a Digital Culture,” trang 261.

[25] Trích dẫn trong Saju Chackalackal, “Holistic Integration of Mystical Aspirations and Social Commitment: Saint Kuriakose Elias Chavara of the Nineteenth Century India” (không ghi năm): trang 12, truy cập ngày 28/1/2024, https://www.academia.edu/15405948/HOLISTIC_INTEGRATION_OF_MYSTICAL_ASPIRATIONS_AND_SOCIAL_COMMITMENT_Saint_Kuriakose_Elias_Chavara_of_the_Nineteenth_Century_India.

[26] Cloete, “Living in a Digital Culture,” trang 260.

[27] Uche Charity Anthonia Onyekonwu, Remigius Ikpe và Jude Chisanga, “The Effects of the Digital Culture on the Life of Consecrated Religious Women in Lang’ata, Nairobi, Kenya,” Journal of Sociology, Psychology & Religious Studies 3, số 2 (2021): trang 61.

[28] Gina A. Zurlo & Todd M. Johnson, “Is Christianity Shrinking or Shifting?” Lausanne Movement, sửa đổi lần cuối ngày 11/3/2021, truy cập ngày 27/9/2023, https://lausanne.org/content/lga/2021-03/is-christianity-shrinking-or-shifting.

[29] Michael Bittman và cộng sự, “Digital Natives? New and Old Media and Children’s Outcomes,” Australian Journal of Education 55, số 2 (11/2011): trang 162.

[30] Cloete, “Living in a Digital Culture,” trang 263.

[31] da Silva, “Catechesis in the Digital Age: From Transmission to Sharing,” trang 18.

Nguồn: WHD

bài liên quan mới nhất

bài liên quan đọc nhiều

Top