Định hướng Loan Báo Tin Mừng theo Tông Huấn Niềm Vui Tin Mừng (Evangelii Gaudium)

Định hướng Loan Báo Tin Mừng theo Tông Huấn Niềm Vui Tin Mừng (Evangelii Gaudium)

Định hướng Loan Báo Tin Mừng theo Tông Huấn Niềm Vui Tin Mừng (Evangelii Gaudium)

DẪN NHẬP

Tự trong thâm tâm, con người vẫn luôn ưa thích, khát khao được đón nhận tin vui, tin tốt lành, tin mừng. Tin Mừng lớn lao nhất ắt hẳn là việc nhận ra Thiên Chúa, Đấng Tạo Hoá, vẫn luôn yêu thương, nâng đỡ và trợ giúp con người và các thụ tạo khác. Khi con người đắm chìm trong đau khổ, tuyệt vọng vì sự lan tràn của tội lỗi, của sự dữ, sự ác thì chính Thiên Chúa đã thắp lên niềm hy vọng lớn lao qua việc sai vào trong thế gian người con của Ngài, Đức Giêsu Kitô, Đấng đã cứu độ, giải thoát con người bằng tình yêu thương, hy sinh và tận hiến của Ngài. Đây vẫn luôn là nội dung chính yếu của Tin Mừng lớn lao mà Thiên Chúa đã mang lại. 

Việc cảm nhận được tình yêu quảng đại của Chúa và đón nhận được ơn cứu độ của Ngài phải khơi lên trong lòng mỗi người Kitô hữu một niềm vui lớn lao vốn thúc đẩy họ sẵn sàng đi ra để loan báo Tin Mừng, loan báo niềm hy vọng được cứu độ cho toàn thể nhân loại. Cùng trong nhận thức này, Tông huấn Niềm Vui Tin Mừng (Evangelii Gaudium) (EG) của Đức Giáo hoàng Phanxicô mời gọi mọi Kitô hữu tái khám phá niềm vui của Tin Mừng và nhiệt thành dấn thân khi bước vào một giai đoạn mới của công cuộc loan báo Tin Mừng với những động lực mới, phương thức mới và những cách thức diễn đạt mới.

NỘI DUNG

1. Một Giáo hội thừa sai

“Niềm vui của Tin Mừng đổ đầy trái tim và cuộc sống của tất cả những ai gặp Chúa Giêsu. Tôi muốn khích lệ các tín hữu đi vào một chương mới của công cuộc loan báo Tin Mừng ngập tràn niềm vui này, đồng thời vạch ra những lối đi mới cho hành trình của Hội Thánh trong những năm sắp tới.”[1] (EG 1) Đây là một lời kêu gọi tha thiết đến tất cả những ai đã chịu phép rửa tội là hãy mang tình yêu của Đức Kitô đến cho người khác, hãy luôn ở trong trạng thái truyền giáo (x. EG 25). Đức Phanxico mời gọi mọi người hãy khám phá sự mới mẻ thuở ban đầu của Tin Mừng, tìm thấy những con đường mới, những cách thức sáng tạo mới, không hề đóng khung Đức Kitô trong những phạm trù sáo mòn. (x. EG 11). Theo Đức Phanxico, cần có một cuộc hoán cải về mục vụ và truyền giáo và một cuộc canh tân các cơ cấu trong Giáo hội để giúp chúng mang tính truyền giáo nhiều hơn.

Trong số 27, Đức Phanxico nói rằng Ngài mơ về một sự “lựa chọn mang tính truyền giáo”, tức là, một động cơ truyền giáo có thể làm biến đổi mọi thứ, để rồi từ đó, những tục lệ, những cách làm việc, thời gian và lịch trình, ngôn ngữ và cấu trúc của Giáo hội có thể được chuyển đổi cách phù hợp cho việc loan báo Tin Mừng cho thế giới thay vì cho chính sự tự trị của mình. Nói cách khác, mong ước của Ngài là về một Giáo hội chuyển từ mô hình bảo trì thành mô hình truyền giáo. “Chúng ta cần chuyển động từ thừa tác vụ mục vụ thuần túy bảo trì qua một thừa tác vụ mục vụ dấn thân truyền giáo” (EG 15). “Thuần túy quản lý” có thể không còn đủ nữa. Trên toàn thế giới, chúng ta hãy luôn đặt mình trong trạng thái truyền giáo (x. EG 25). “Việc đi ra mang tính truyền giáo chính là hình mẫu cho tất cả các hoạt động của Giáo hội” (EG 15).

Do đó, Đức Giáo Hoàng Phanxico một lần nữa chống lại một “Giáo hội quy ngã, hướng vào trong mình”. “Tất cả mọi canh tân trong Giáo hội đều phải nhắm đến truyền giáo làm mục tiêu bởi nếu không Giáo hội sẽ rơi vào bẫy của một loại “Giáo hội quy ngã” (EG 27). Ngài đề cập đến điều này như là “một Giáo hội qui chiếu về chính mình”, tức là, một Giáo hội mà căn tính và sứ mạng được xác định qua việc qui hướng về chính mình thay vì hướng về thế giới. Và như thế, Ngài mơ về một Giáo hội biết hướng nhìn ra ngoài thay vì hướng nhìn vào trong mình; một Giáo hội biết để tâm nhiều hơn đến các vấn đề “ngoại tại” thay vì các vấn đề “nội tại” (x. EG 27-28). Ngài ưa thích một Giáo hội “bị bầm dập, bị tổn thương và lấm bẩn vì đã rong ruổi trên các nẻo đường hơn là một Giáo hội bệnh hoạn khép chặt và bám víu vào sự an toàn của mình”. (EG 49).

Cái nhìn của Đức Giáo Hoàng Phanxico về Giáo hội như là một nhà thừa sai về cơ bản đã làm vang vọng cái nhìn của chính Công đồng Vatican II. Ad gentes, sắc lệnh về hoạt động truyền giáo của Giáo hội tại Vatican II, khẳng định rằng “Giáo hội lữ hành tự bản chất là truyền giáo” (AG 2). Theo đó, việc truyền giáo không chỉ là một chiều kích được thêm vào cho căn tính của Giáo hội, như thể Giáo hội có thể có một căn tính tách biệt khỏi truyền giáo. Thay vào đó, truyền giáo chính là căn tính của Giáo hội. Việc loan báo Tin Mừng chính là lý do tồn tại của Giáo hội. Giống như ngọn lửa chỉ tồn tại do sức nóng thì Giáo hội chỉ tồn tại nhờ có truyền giáo và phục vụ cho truyền giáo.

Đồng lòng với nhận định cơ bản này nơi công đồng Vatican II, Đức Giáo Hoàng Phanxico cũng nhấn mạnh trong Tông huấn Niềm Vui Tin Mừng rằng hoặc là Giáo hội là thừa sai, là nhà truyền giáo hoặc là Giáo hội sẽ không tồn tại. Hoặc là Giáo hội “tiến lên” (EG 20) hoặc là không có Giáo hội. Hoặc là các môn đệ là các thừa sai hoặc là họ không phải là môn đệ (x. EG 24). Vì thế, cần phải ưu tiên cho mô hình truyền giáo hơn là “mô hình bảo trì”, việc tự hiến bằng con đường phục vụ thay vì sự tự duy trì của Giáo hội như một thể chế, việc đi đến các vùng biên, vùng ngoại vi thay vì tìm cách quay về trung tâm. Thừa tác vụ mục vụ cần phải được thực hiện trong một “trọng tâm truyền giáo” (EG 33)

2. Một Giáo hội thừa sai sẵn sàng “đi ra” để đến với muôn dân[2]

Trong Tông huấn Evangelii Gaudium (Niềm vui Tin Mừng), Đức Thánh Cha Phanxico diễn tả khát vọng của Ngài về một Giáo hội sẵn sàng đi ra để nhất tâm định hướng và trung thành theo đuổi một “lựa chọn truyền giáo” (EG 27), tức là một ưu tiên quyết liệt cho việc loan báo Tin Mừng. Theo đó, Giáo hội sẵn sàng điều chỉnh những cơ cấu, lịch trình, nội dung, nhiệt tâm và năng lực của mình sao cho phù hợp với các đường hướng và hoạt động của việc loan báo Tin Mừng như là ưu tiên hàng đầu của mình. Một Giáo hội truyền giáo sẽ có một cái nhìn và định hướng hướng ra ngoài thay vì chỉ tập chú vào nơi mình. Giáo hội này sẽ mở ra cho sự bao dung đón nhận thay vì tự khép chặt bản thân trong sự tự mãn và loại trừ. Đây sẽ là một Giáo hội quy hướng về sứ vụ loan báo Tin Mừng hơn là một Giáo hội lo bảo trì và quy hướng về mình.

Trong một Giáo hội mang định hướng loan báo Tin Mừng, tất cả người Kitô hữu đều đóng vai trò là “các môn đệ thừa sai” (EG 24). Thật vậy, Đức Giáo Hoàng Phanxicô trong Tông huấn này đã khẳng định: “Mỗi người Ki-tô hữu có bổn phận, ở đây và bây giờ, phải dấn thân cách tích cực vào công cuộc loan báo Tin Mừng; quả thật, bất kỳ ai đã thật sự trải nghiệm Thiên Chúa yêu thương cứu độ, thì không cần được huấn luyện nhiều thời gian và dài lâu để ra đi và công bố tình yêu đó. Mỗi người Kitô hữu là một nhà thừa sai truyền giáo theo mức độ mà người ấy đã gặp gỡ tình yêu của Thiên Chúa nơi Đức Giêsu Kitô; chúng ta không còn nói rằng chúng ta là “những môn đệ” và “những nhà thừa sai”, nhưng đúng hơn, chúng ta mãi mãi là “những môn đệ thừa sai” (EG 120). Là những môn đệ thừa sai của Chúa, mọi Kitô hữu đều “được mời gọi vâng nghe theo lời kêu gọi của Ngài mà đi ra khỏi vùng tiện nghi của mình để đi đến các ‘vùng ngoại vi’ đang cần đến ánh sáng của Tin Mừng” (EG 20). Theo cách nói của Đức Phanxico, ‘vùng ngoại vi’ được xác định không chỉ đơn thuần theo khoảng cách địa lý mà còn dựa trên thực tại hiện sinh. Điều này có nghĩa là ‘vùng ngoại vi’ cũng bao gồm những môi trường phi truyền thống, còn xa lạ hay mang nhiều thách đố cho việc rao giảng Tin Mừng như truyền thông xã hội, thế giới kĩ thuật số, mạng xã hội… vốn tạo ra những nền văn hoá mới, những bối cảnh mới cho việc tiếp cận truyền giáo. Một Giáo hội ‘đi ra’ sẵn sàng đối diện với bất cứ bối cảnh truyền giáo nào và can đảm vượt qua những biên giới của sự an toàn và an nhàn để đi đến với hết thảy mọi người. Thật vậy, việc ‘đi ra’ cho sứ vụ loan báo Tin Mừng vẫn luôn là một ưu tiên thường hằng của Giáo hội vốn được thiết lập cho việc loan báo Tin Mừng, tức là loan báo và làm chứng cho tình yêu cứu độ của Chúa dành cho muôn loài.

Một Giáo hội “đi ra” để đến với muôn dân trong sứ vụ loan báo Tin Mừng luôn cần có sự thao thức khôn nguôi và một nhiệt huyết mạnh mẽ cho sứ vụ thiết yếu này. Sự nhận thức về tình yêu cứu độ của Chúa mở ra cho muôn người, lệnh truyền thúc bách của Đức Giêsu Kitô và căn tính loan báo Tin Mừng nơi mình phải trở nên nguồn động lực lớn lao cho những hoạt động dấn thân cách chủ động và mạnh mẽ của mọi Kitô hữu nhằm mang lại niềm hy vọng lớn lao, niềm vui Tin Mừng cứu độ đến cho muôn dân. Tin Mừng về tình yêu cứu độ của Chúa phải được hân hoan loan báo và chia sẻ như “những gì cốt yếu, những gì đẹp nhất, lớn nhất, lôi cuốn nhất và đồng thời cần thiết nhất” (EG 35) bằng sự rao giảng nhiệt tâm và chứng từ yêu thương của tất cả tín hữu.

3. Một Giáo hội hiện diện giữa muôn dân

Một Giáo hội nhiệt tâm với việc loan báo Tin Mừng luôn sẵn sàng “đi ra” và vượt qua những biên giới hiện sinh không phải nhằm theo đuổi một tham vọng thống trị trên người khác nhưng là để đến bên con người với tinh thần nhập thể. Theo mẫu gương của Đức Giêsu Kitô, Đấng đã nhập thể vào trong thế gian để trở nên người như chúng ta, để ở với chúng ta, để chết cho chúng ta, và để cứu độ chúng ta, Giáo hội trong vai trò là nhà thừa sai mang hy vọng, là khí cụ tình thương của Chúa cũng cần thân tình đồng hành cùng con người và khiêm tốn phục vụ họ trong hành trình cuộc sống. Giáo hội qua Hiến chế Mục vụ Gaudium et Spes đã nêu rõ sự cảm thông và đồng hành của mình đối với con người: “Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo âu của con người ngày nay, nhất là của người nghèo và của bất cứ ai đang đau khổ, cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo âu của các môn đệ Chúa Kitô, và không có gì thực sự là của con người mà họ lại không cảm nhận trong đáy lòng họ.”[3] Điều này mời gọi Giáo hội cần “thông dự bằng lời nói và việc làm vào trong đời sống hàng ngày của con người. Giáo hội cần xây những nhịp cầu nối kết, cần sẵn sàng hy sinh bản thân khi cần, và chân tình gắn kết với đời sống con người, chạm vào thân xác đau khổ của Đức Kitô nơi người khác.” (EG 24)

Một Giáo hội hiện diện giữa muôn dân trong tinh thần loan báo Tin Mừng sẽ sẵn sàng mở ra cho cuộc gặp gỡ huynh đệ. Một cách rõ ràng, “Gặp gỡ” là một trong những từ then chốt và là điểm nhấn của tông huấn Niềm vui Tin Mừng. Đức Thánh Cha Phanxico nêu rõ: “Tin Mừng không ngừng dạy chúng ta mạo hiểm đi vào những cuộc gặp gỡ trực diện với người khác, với sự hiện diện thể chất của họ vốn mang đến những thách đố cho chúng ta, với nỗi đau và các lời kêu xin của họ, với niềm vui của họ tác động lên chúng ta trong mối tương quan gần gũi và liên tục.” (EG 88) Trong cuộc gặp gỡ huynh đệ này, người khác với những sự khác biệt đặc trưng của họ cần được nhìn nhận với sự tôn trọng. Với quan điểm tích cực này, người Kitô hữu được mời gọi xây dựng “một nền văn hoá gặp gỡ đa diện và hài hoà” (EG 220) vốn không chỉ giúp giải phóng người Kitô hữu chúng ta khỏi sự khép kín và quy ngã nhưng còn thúc đẩy nhiệt huyết dấn thân, làm phong phú đời sống môn đệ và tầm nhìn truyền giáo của chúng ta.

Một Giáo hội thừa sai hiện diện giữa muôn dân cần có một sự lựa chọn ưu tiên cho người nghèo và những người bị gạt ra bên lề xã hội. Sự gần gũi chân tình và yêu thương phục vụ của Giáo hội dành cho người nghèo khổ bất hạnh không chỉ mang lại niềm hy vọng giải phóng toàn diện cho họ nhưng còn có thể giúp Giáo hội khám phá ra khuôn mặt ẩn tàng của Đức Giêsu Kitô, Đấng đã đồng hoá bản thân mình với những người nghèo khó và bất hạnh. Do đó, việc Giáo hội đến gần bên và dấn thân phục vụ người nghèo không chỉ nhằm giúp đỡ họ nhưng còn nhằm học hỏi nơi họ. Thật vậy, Đức thánh Cha Phanxico quả quyết rằng: “Người nghèo có nhiều điều để dạy chúng ta… Chúng ta cần phải để mình được Phúc-Âm-hoá bởi họ. Tân Phúc-Âm-hoá là một lời mời gọi nhìn nhận quyền năng cứu độ đang hoạt động trong đời sống của họ và đặt nó vào tâm điểm cuộc lữ hành của Hội Thánh” (EG 198).

KẾT LUẬN

Loan báo Tin Mừng là căn tính và sứ vụ mà mọi Kitô hữu trong vài trò những người môn đệ thừa sai được mời gọi nhiệt tâm bước theo Vị Thầy của mình, Đức Giêsu Kitô, để sẵn sàng đi ra đến với muôn dân và cùng chia sẻ niềm hy vọng cứu độ nơi Thiên Chúa. Bước theo vị thầy Giêsu trên đường sứ vụ, các Kitô hữu cần dấn thân cho công cuộc vượt qua. Họ cần sẵn sàng đi ra khỏi vùng tiện nghi của mình để đến “các vùng ngoại vi”, để gặp gỡ người khác, để hiện diện giữa người khác, để đồng hành và cộng tác cùng người khác trong những nỗ lực loan báo, sống và làm chứng cho Niềm Vui Tin Mừng. Việc loan báo Tin Mừng cũng mời gọi người Kitô hữu khám phá sự hiện diện của Chúa nơi những môi trường văn hoá và tôn giáo, nơi “khuôn mặt ẩn tàng” của Thiên Chúa được biểu tỏ nơi những người nghèo khổ, bị bỏ rơi hay những ai mà họ được mời gọi gặp gỡ, đón nhận.

Đức Giáo hoàng Phanxico trong Tông huấn Niềm Vui Tin Mừng đã không ngần ngại khẳng định: “Ngày nay, người ta thích nghe những chứng nhân hơn: họ “khát sự chân thực” và “đòi có những người rao giảng Tin Mừng nói cho họ về một vị Thiên Chúa mà mình biết và thân quen, như thể đang nhìn thấy Người” (EG 150) Thật vậy, những gì chúng ta cần hôm nay, trong công cuộc loan báo Tin Mừng cho con người thời đại, không phải chỉ là những bài giảng dễ thương hay những bài giảng hùng hồn, vĩ đại, không chỉ là những lý thuyết và tư tưởng thần học cao siêu, không chỉ là ngôn từ và sách vở. Thay vào đó, những gì chúng ta cần là những người nam và người nữ không sợ sệt, tránh né nhưng luôn vui tươi và nhiệt thành loan báo và làm chứng cho Tin Mừng mà họ cảm nghiệm cách sống động nơi Chúa. Con người trong xã hội chúng ta ngày nay, khi nhìn thấy những người nam và người nữ thể hiện những chứng từ sống động của niềm hy vọng của những con người được biến đổi nhờ đức tin vào Chúa và Tin Mừng của Ngài, có thể bắt đầu tự hỏi chính mình rằng liệu họ cũng sẽ có lợi gì chăng nếu như họ đến với Chúa và đón nhận Tin Mừng. “Ước gì chúng ta cũng cảm thấy được thôi thúc lên đường theo bước chân Chúa Giêsu, để cùng với Người và trong Người, trở thành những dấu chỉ và sứ giả của niềm hy vọng cho mọi người.”[4]

Lm Giuse Nguyễn Duy Khương (TGPSG)


[1] Đức Giáo Hoàng Phanxicô, Tông Huấn về Niềm Vui Tin Mừng (Evangelii Gaudium) (24/11/2013), số 1.

[2] Hạn từ ‘gens/gentes’ khởi đi từ hạn từ Do Thái goy/goyim để chỉ về các quốc gia, dân tộc, tức là, những người bị dân Do Thái xem thường vì họ không phải là dân được Thiên Chúa tuyển chọn. Họ bị xem là dân ngoài Do Thái, dân không được cắt bì, dân ô uế. Hạn từ Do Thái goy/goyim sau này được phiên dịch thành hạn từ tiếng Hy Lạp là ethne (với tính từ ethnikos, nghĩa là ‘thuộc về các quốc gia, dân tộc’); tiếp theo, ethne/ethnikos lại được chuyển ngữ ra tiếng Latin là gentes/gentiles. Sau hết, hạn từ Latin gentes/gentiles được hiểu trong tiếng Anh là ‘pagan’ or ‘heathen’. ‘Pagan’ khởi đi từ hạn từ tiếng Latin là paganus, theo nghĩa đen là ‘những người quê mùa’. Từ này thường được diễn giải theo nghĩa tiêu cực là “thiếu văn hóa” để làm đối trọng với “những cư dân thành thị”.  Từ thế kỉ thứ ba, gentes được hiểu là người ngoài Kitô giáo, vì đại đa số người Kitô hữu đều là những người thành thị. See Peter C. Phan, “Mission Inter Gentes Asiae: Contemporary Theologies and Practices of Mission in Asia,” SEDOS Bulletin 43, no. 5/6 (May-June, 2011): 133.

[3] Vatican II, Hiến Chế Mục Vụ của Hội Thánh Gaudium et Spes (07/12/1965), số. 2.

[4] Đức Giáo Hoàng Phanxicô, Sứ điệp ngày Thế giới Truyền Giáo, 2025.

bài liên quan mới nhất

bài liên quan đọc nhiều

Top