Chúa nhật 12 Thường niên năm A
“Vậy ai tuyên xưng Thầy trước mặt người đời,
thì Thầy sẽ tuyên xưng nó trước mặt Cha Thầy, là Ðấng ngự trên trời”. (Mt 10,32)
BÀI ĐỌC I: Gr 20, 10-13
“Người đã cứu thoát mạng sống người bất hạnh khỏi tay kẻ dữ”.
Trích sách Tiên tri Giêrêmia.
Ta đã nghe nhiều người thoá mạ và chế nhạo rằng: “Người này gieo khủng bố khắp nơi: Hãy tố cáo nó, chúng ta hãy tố cáo nó”. Tất cả bạn hữu tôi rình tôi vấp ngã mà nói rằng: “Ước gì nó bị lừa dối để chúng ta thắng nó và sẽ trả thù nó”. Nhưng Chúa ở cùng tôi như người lính chiến hùng dũng; vì thế, những kẻ bắt bớ tôi sẽ ngã quỵ và kiệt sức: Chúng sẽ thất bại bẽ bàng, chuốc lấy sự hổ nhục muôn đời, không bao giờ quên được. Còn Chúa, lạy Chúa các đạo binh, Đấng xét xử người công chính, thấu suốt tâm can, lạy Chúa, ước gì con sẽ được thấy Chúa trả thù nó cho con, vì con đã tỏ bày công việc con cho Chúa. Hãy hát mừng Chúa, hãy ca tụng Chúa, vì Người đã cứu thoát mạng sống người bất hạnh khỏi tay kẻ dữ.
Đó là lời Chúa.
ĐÁP CA: Tv 68, 8-10. 14 và 17. 33-35
Đáp: Lạy Chúa, xin nhậm lời con theo lượng cả đức từ bi (c. 14c).
Xướng:
1) Sở dĩ vì Chúa mà con chịu nhục, và thẹn thò làm nhơ nhuốc mặt con. Con bị những người anh em coi như khách lạ, bị những người cùng con một mẹ xem như kẻ ngoại lai. Sự nhiệt tâm lo việc nhà Chúa khiến con mòn mỏi, điều tủi nhục người ta nhục mạ Chúa đổ trên mình con. - Đáp.
2) Nhưng, lạy Chúa, con dâng lời nguyện cầu lên Chúa, ôi Thiên Chúa, đây là lúc biểu lộ tình thương. Xin nhậm lời con theo lượng cả đức từ bi, theo ơn phù trợ trung thành của Chúa. Lạy Chúa, xin nhậm lời con vì lòng khoan nhân trắc ẩn, theo lượng cả đức từ bi xin nhìn đến tấm thân con. - Đáp.
3) Các bạn khiêm cung, hãy nhìn coi và hoan hỉ, các bạn tìm kiếm Chúa, lòng các bạn hãy hồi sinh: vì Chúa nghe những người cơ khổ, và không chê bỏ con dân Người bị bắt cầm tù. Hãy ngợi khen Chúa, hỡi trời và đất, biển khơi và muôn vật sống động bên trong. - Đáp.
BÀI ĐỌC II: Rm 5, 12-15
“Không phải như tội phạm thế nào, thì ơn ban cũng thế ấy đâu”.
Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Rôma.
Anh em thân mến, cũng như do một người mà tội lỗi đã nhập vào thế gian, và do tội lỗi mà có sự chết, và thế là sự chết đã truyền tới mọi người, vì lẽ rằng mọi người đã phạm tội. Trước khi có lề luật, đã có tội trên thế gian; nhưng tội không bị bắt lỗi, khi không có lề luật. Nhưng từ Ađam cho đến Môsê, sự chết ngự trị cả trên những kẻ không phạm tội giống như sự lỗi phạm của Ađam, hình ảnh của người đến sau.
Nhưng không phải như tội phạm thế nào, thì ơn ban cũng thế ấy đâu, vì nếu do tội của một người mà nhiều người phải chết, thì ơn nghĩa của Thiên Chúa và ân huệ ban do ơn một người là Đức Giêsu Kitô, làm cho nhiều người được ơn dư đầy hơn bội phần.
Đó là lời Chúa.
Tin mừng: Mt 10, 26-33
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các Tông đồ rằng: “Các con đừng sợ những người đó, vì không có gì che giấu mà không bị thố lộ; và không có gì kín nhiệm mà không hề hay biết.
Ðiều Thầy nói với các con trong bóng tối, hãy nói nơi ánh sáng; và điều các con nghe rỉ tai, hãy rao giảng trên mái nhà.
“Các con đừng sợ những kẻ giết được thân xác, nhưng không thể giết được linh hồn: Các con hãy sợ Ðấng có thể ném cả xác lẫn hồn xuống địa ngục.
Nào người ta không bán hai chim sẻ với một đồng tiền đó sao? Thế mà không con nào rơi xuống đất mà Cha các con không biết đến.
Phần các con, tóc trên đầu các con đã được đếm cả rồi. Vậy các con đừng sợ: các con còn đáng giá hơn chim sẻ bội phần.
“Vậy ai tuyên xưng Thầy trước mặt người đời, thì Thầy sẽ tuyên xưng nó trước mặt Cha Thầy, là Ðấng ngự trên trời.
Còn ai chối Thầy trước mặt người đời, thì Thầy sẽ chối nó trước mặt Cha Thầy, là Ðấng ngự trên trời”.
Bài giảng của linh mục Ignatio Hồ Văn Xuân
GIÁO LÝ CHO BÀI GIẢNG CHÚA NHẬT 12 THƯỜNG NIÊN NĂM A
WHĐ (24/6/2023) - Để hỗ trợ các nhà giảng thuyết thuận tiện hơn trong việc thêm giáo lý vào bài giảng, Ban Biên tập xin được trích dẫn những điểm giáo lý phù hợp với các bài đọc Kinh thánh của lễ Chúa nhật 12 Thường niên năm A theo hướng dẫn của Bộ Phụng tự và Kỷ luật các Bí tích.
|
Số 852: Thần Khí Đức Kitô nâng đỡ sứ mạng Kitô giáo Số 905: Loan báo Tin Mừng bằng chứng từ đời sống Số 2471-2474: Làm chứng cho chân lý Số 359, 402-411, 615: Ađam, Tội tổ tông, Đức Kitô – Ađam mới |
Số 852: Thần Khí Đức Kitô nâng đỡ sứ mạng Kitô giáo
852. Những nẻo đường truyền giáo. “Chúa Thánh Thần là Đấng chủ xướng toàn bộ việc truyền giáo của Hội Thánh” [1] . Chính Ngài dẫn dắt Hội Thánh trên các nẻo đường truyền giáo. “Hội Thánh tiếp tục và triển khai qua dòng lịch sử sứ vụ của chính Đức Kitô, Đấng đã được sai đi rao giảng Tin Mừng cho những người nghèo; được Thần Khí Đức Kitô thúc đẩy, Hội Thánh phải tiến bước trên chính con đường Đức Kitô đã đi, là con đường khó nghèo, vâng phục, phục vụ và tự hiến cho đến chết, từ đó Người đã chiến thắng nhờ sự sống lại của Người” [2] . Theo cách đó, “máu là hạt giống trổ sinh các Kitô hữu” [3].
Số 905: Loan báo Tin Mừng bằng chứng từ đời sống
905. Các giáo dân cũng chu toàn sứ vụ tiên tri của mình bằng việc phúc âm hóa, “nghĩa là loan báo Đức Kitô bằng chứng từ đời sống và bằng lời nói”. Nơi các giáo dân, “việc phúc âm hóa này … mang một sắc thái đặc thù và một hiệu quả đặc biệt vì được thực hiện trong những hoàn cảnh bình thường của đời sống” [4].
“Quả thật, việc tông đồ như vậy không chỉ cốt tại chứng từ đời sống; việc tông đồ thật tìm những cơ hội để loan báo Đức Kitô bằng lời nói hoặc cho những người chưa tin… hoặc cho các tín hữu” [5] .
Số 1808, 1816: Chứng nhân đức tin can đảm chiến thắng sợ hãi và sự chết
1808. Can đảm là nhân đức luân lý giúp chúng ta kiên trì và quyết tâm theo đuổi điều thiện giữa những kho khăn trong đời. Nó củng cố sự quyết tâm chống lại các cám dỗ và vượt qua các chướng ngại trong đời sống luân lý. Đức can đảm giúp chúng ta có khả năng chiến thắng sự sợ hãi, thậm chí cả sự chết, đương đầu với sự thử thách và các cuộc bách hại. Nó giúp chúng ta đi đến chỗ từ bỏ và hy sinh mạng sống mình để bảo vệ lẽ phải. “Chúa là sức mạnh tôi, là Đấng tôi ca ngợi” (Tv 118,14). “Trong thế gian, anh em sẽ phải gian nan khốn khó. Nhưng can đảm lên! Thầy đã thắng thế gian” (Ga 16,33).
1816. Người môn đệ Đức Kitô không những phải gìn giữ đức tin và sống bởi đức tin, mà còn phải tuyên xưng, can đảm làm chứng và truyền bá đức tin: “Mọi tín hữu … phải sẵn sàng tuyên xưng Đức Kitô trước mặt người ta, và bước theo Người trên đường thập giá, giữa những cuộc bách hại mà Hội Thánh luôn luôn gặp phải” [6] . Việc phục vụ và làm chứng cho đức tin là những điều phải có để được cứu độ. “Phàm ai tuyên bố nhận Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ tuyên bố nhận người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời. Còn ai chối Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ chối người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời” (Mt 10,32-33).
Số 2471-2474: Làm chứng cho chân lý
2471. Trước mặt quan Philatô, Đức Kitô tuyên bố Người đã đến thế gian là để làm chứng cho chân lý [7] . Kitô hữu không được “hổ thẹn vì phải làm chứng cho Chúa” (2 Tm 1,8). Trong những trường hợp đòi phải làm chứng cho đức tin, Kitô hữu phải tuyên xưng đức tin một cách không úp mở, theo gương thánh Phaolô trước mặt các thẩm phán. Họ phải giữ “lương tâm không có gì đáng chê trách trước mặt Thiên Chúa và người ta” (Cv 24,16).
2472. Bổn phận của các Kitô hữu là tham gia vào đời sống Hội Thánh, thúc đẩy họ hành động như những chứng nhân của Tin Mừng và chu toàn những nghĩa vụ phát xuất từ bổn phận đó. Làm chứng là lưu truyền đức tin bằng lời nói và việc làm. Làm chứng là một hành vi của đức công bằng nhằm thiết lập chân lý hoặc làm cho chân lý được nhận biết [8] :
Mọi Kitô hữu, dù sống ở đâu, đều phải lấy gương mẫu đời sống và chứng từ lời nói để biểu lộ con người mới, mà họ đã mặc lấy qua bí tích Rửa Tội, và biểu lộ sức mạnh của Chúa Thánh Thần, Đấng đã củng cố họ qua bí tích Thêm Sức [9] .
2473. Sự tử đạo là việc làm chứng cao cả nhất cho chân lý đức tin; đó là sự làm chứng cho đến nỗi phải chết. Vị tử đạo làm chứng cho Đức Kitô, Đấng đã chết và đã sống lại, mà họ được liên kết với Người bằng đức mến. Vị tử đạo làm chứng cho chân lý đức tin và đạo lý Kitô giáo. Vị tử đạo chịu chết bằng hành vi của đức can đảm. “Hãy để tôi trở nên mồi ngon cho ác thú, nhờ chúng mà tôi được đến với Thiên Chúa” [10] .
2474. Hội Thánh hết sức quan tâm thu thập các kỷ niệm về những vị đã làm chứng cho đức tin của mình cho đến cùng. Đó là Hạnh các vị Tử Đạo. Các hạnh này là những văn thư lưu trữ về Chân Lý được viết bằng máu:
“Những lãnh địa trần gian và các vương quốc đời này không ích gì cho tôi. Đối với tôi, thà chết trong Đức Kitô Giêsu, còn hơn được thống trị các lãnh địa của trái đất này. Tôi tìm kiếm Người, Đấng đã chết cho chúng ta; tôi khao khát Người, Đấng đã sống lại vì chúng ta. Tôi sắp được sinh ra…” [11] .
“Con chúc tụng Chúa, vì Chúa đã xét con xứng đáng với ngày này và giờ này, để con được dự phần vào số các vị tử đạo…. Chúa đã thực hiện lời Chúa hứa, lạy Thiên Chúa, Đấng trung tín và không biết nói dối. Vì hồng ân này và vì tất cả mọi sự, con ngợi khen Chúa, con chúc tụng Chúa, con tôn vinh Chúa nhờ vị Thượng Tế vĩnh hằng trên trời là Chúa Giêsu Kitô, Con yêu dấu của Chúa. Nhờ Người, con tôn vinh Chúa cùng với Người trong Chúa Thánh Thần, bây giờ và cho đến muôn đời. Amen” [12].
Số 359, 402-411, 615: Ađam, Tội tổ tông, Đức Kitô – Ađam mới
359. “Quả thật, chỉ trong mầu nhiệm của Ngôi Lời Nhập Thể, mà mầu nhiệm về con người mới thật sự được sáng tỏ” [13] :
“Thánh Phaolô cho chúng ta biết có hai người là nguồn gốc của nhân loại, là ông Ađam và Đức Kitô…. Ađam đầu tiên được tạo dựng là một người lãnh nhận sự sống. Còn Ađam cuối cùng là Đấng thiêng liêng ban sự sống. Người đầu tiên được tạo dựng bởi Đấng cuối cùng, do Đấng này, người đầu tiên lãnh nhận linh hồn để được sống…. Khi tạo dựng Ađam đầu tiên, Ađam cuối cùng đã khắc ghi hình ảnh mình trong đó. Từ đó Ađam cuối cùng đã nhận lấy vai trò và tên gọi của Ađam đầu tiên, để không bỏ mất những gì đã được tạo dựng theo hình ảnh của mình. Ađam đầu tiên, Ađam cuối cùng: Ađam đầu tiên có khởi đầu, Ađam cuối cùng không có kết thúc, bởi vì Đấng cuối cùng này mới thật sự là Đấng đầu tiên, như chính Người đã nói: ‘Ta là Đầu và là Cuối’” [14] .
Hậu quả của tội Ađam trên nhân loại
402. Mọi người đều bị liên lụy với tội Ađam. Thánh Phaolô khẳng định: “Vì một người duy nhất đã không vâng lời Thiên Chúa, mà muôn người thành tội nhân” (Rm 5,l9), muôn người ở đây có nghĩa là mọi người: “Vì một người duy nhat, mà tội lỗi đã xâm nhập trần gian, và tội lỗi gây nên sự chết; như thế, sự chết đã lan tràn tới mọi người, bởi vì mọi người đã phạm tội” (Rm 5,l2). Đối lại tính phổ quát của tội lỗi và sự chết, thánh Tông Đồ nêu lên tính phổ quát của ơn cứu độ trong Đức Kitô: “Cũng như vì một người duy nhất đã sa ngã mà mọi người bị Thiên Chúa kết án, thì nhờ một người duy nhất đã thực hiện lẽ công chính, mọi người cũng được Thiên Chúa làm cho nên công chính, nghĩa là được sống” (Rm 5,l8).
403. Noi theo thánh Phaolô, Hội Thánh luôn dạy rằng tình trạng cùng khốn đang đè nặng lên con người, cũng như việc họ hướng chiều về sự dữ và về sự chết là những điều không thể hiểu được, nếu không xét đến mối liên hệ của chúng với tội Ađam và với việc ông đã truyền lại cho chúng ta một tội mà mọi người chúng ta phải mang lấy từ khi sinh ra, và tội này là “cái chết của linh hồn” [15] . Dựa trên sự chắc chắn này của đức tin, Hội Thánh ban phép Rửa Tội để tha tội cho cả những trẻ em chưa từng phạm tội riêng [16] .
404. Tội Ađam đã trở nên tội của tất cả dòng dõi của ông như thế nào? Toàn thể nhân loại đều ở trong Ađam “như một thân thể duy nhất của một con người duy nhất” [17] . Do “tính thống nhất” này của nhân loại, mọi người đều bị liên lụy với tội Ađam, cũng như mọi người đều được thông phần vào sự công chính của Đức Kitô. Dẫu sao, việc lưu truyền tội tổ tông là một mầu nhiệm mà chúng ta không thể hiểu cách đầy đủ. Nhưng nhờ mạc khải, chúng ta biết ông Ađam đã nhận được sự thánh thiện và công chính nguyên thuỷ không phải chỉ cho riêng ông, nhưng cho toàn thể bản tính nhân loại: Khi nghe theo Tên Cám Dỗ, ông Ađam và bà Evà đã phạm một tội cá nhân, nhưng tội đó ảnh hưởng đến bản tính nhânloại, một bản tính mà họ sẽ lưu truyền trong tình trạng đã sa ngã [18] . Đó là một tội được lưu truyền cho toàn thể nhân loại qua việc sinh sản, nghĩa là qua việc lưu truyền một bản tính nhân loại đã mất sự thánh thiện và công chính nguyên thuỷ. Do đó, tội tổ tông được gọi là “tội” theo nghĩa loại suy: đó là một thứ tội con người bị “nhiễm” chứ không phải đã “phạm”; một tình trạng, chứ không phải một hành vi.
405. Tội tổ tông, mặc dầu truyền đến mỗi người [19] , nhưng không hề mang tính cách một tội của bản thân nơi bất kỳ ai trong con cháu ông Ađam. Không còn sự thánh thiện và sự công chính nguyên thuỷ, nhưng bản tính nhân loại không hoàn toàn bị huỷ hoại: bản tính nhân loại bị thương tật trong các sức lực tự nhiên riêng của mình, u mê dốt nát, phải chịu đau khổ, bị sự chết thống trị, và hướng chiều về tội lỗi (sự hướng chiều về điều xấu được gọi là dục vọng: concupiscentia). Bí tích Rửa Tội, khi ban cho con người đời sống ân sủng của Chúa Kitô, xóa bỏ tội tổ tông và đưa con người trở về cùng Thiên Chúa, nhưng những hậu quả của tội tổ tông trên bản tính, đã bị suy yếu và hướng chiều về điều xấu, vẫn tồn tại nơi con người và kêu gọi con người vào cuộc chiến đấu thiêng liêng.
406. Giáo lý của Hội Thánh về sự lưu truyền tội tổ tông đã được xác định cách đặc biệt vào thế kỷ V, chủ yếu là dưới ảnh hưởng sự quan tâm của thánh Augustinô chống lại chủ thuyết của ông Pêlagiô, và vào thế kỷ XVI, chống lại cuộc Cải Cách của những người thệ phản. Ông Pêlagiô chủ trương rằng, bằng sức mạnh tự nhiên của ý chí tự do, không cần sự trợ giúp của ân sủng, con người vẫn có thể sống tốt lành về mặt luân lý; như vậy, ông này giản lược ảnh hưởng của tội Ađam thành ảnh hưởng của một gương xấu. Trái lại, những nhà Cải Cách thệ phản đầu tiên chủ trương rằng, vì tội tổ tông, con người đã bị hư hỏng hoàn toàn và con người không còn sự tự do; họ đồng hóa tội mà mỗi người lãnh nhận do lưu truyền với sự nghiêng chiều về sự dữ (dục vọng), một sự nghiêng chiều không thể cưỡng lại được. Hội Thánh đã tuyên bố về ý nghĩa của mạc khải liên quan đến tội tổ tông, đặc biệt tại Công đồng Arausicanô II năm 529 [20] , và tại Công đồng Triđentinô năm 1546 [21] .
Một cuộc chiến cam go
407. Giáo lý về tội tổ tông, gắn liền với giáo lý về ơn Cứu chuộc nhờ Đức Kitô, mang lại cho ta một cái nhìn để phân định sáng suốt về tình trạng của con người và hành động của họ ở trần gian. Vì tội tổ tông, ma quỷ đã có được một quyền thống trị nào đó trên con người, mặc dầu con người vẫn còn tự do. Tội tổ tông khiến con người “bị cầm giữ dưới quyền của kẻ nắm quyền thống trị của sự chết, tức là ma quỷ” [22] . Nếu không biết rằng bản tính nhân loại đã bị tổn thương, bị nghiêng chiều về sự dữ, người ta có thể mắc những sai lầm nghiêm trọng trong các lãnh vực giáo dục, chính trị, hoạt động xã hội [23] và luân lý.
408. Các hậu quả của tội tổ tông và của tất cả các tội cá nhân của con người đã đưa trần gian, trong tổng thể của nó, vào một tình trạng tội lỗi mà thánh Gioan đã gọi bằng kiểu nói: “tội trần gian” (Ga l,29). Kiểu nói nay cũng được dùng để nêu lên ảnh hưởng tiêu cực mà các thoả thuận tập thể và các cơ cấu xã hội, là hoa trái của tội lỗi con người, áp đặt lên các nhân vị [24] .
409. Hoàn cảnh bi đát như vậy của trần gian, đang “nằm dưới ách thống trị của Ác thần” (1 Ga 5,19) [25] làm cho đời sống con người trở thành một cuộc chiến đấu:
“Toàn bộ lịch sử của nhân loại là lịch sử của cuộc chiến cam go chống lại quyền lực của sự dữ, khởi đầu ngay từ lúc bình minh của lịch sử và sẽ kéo dài đến ngày cuối cùng như lời Chúa phán. Nằm giữa cuộc chiến này, con người phải luôn luôn chiến đấu để gắn bó với điều thiện hảo và chỉ sau khi hết sức cố gắng và với sự trợ giúp của ơn Chúa, con người mới đạt được sự thống nhất nội tâm” [26] .
“Cha đã không bỏ mặc con người dưới quyền lực sự chết”
410. Sau khi sa ngã, con người không bị Thiên Chúa bỏ rơi. Trái lại, Thiên Chúa gọi con người [27] và, một cách bí nhiệm, loan báo cho con người cuộc chiến thắng trên sự dữ và việc nâng con người sa ngã dậy [28] . Đoạn này trong sách Sáng Thế được gọi là “Tiền Tin Mừng” bởi vì đó là lời loan báo đầu tiên về Đấng Messia Cứu Chuộc, về cuộc chiến đấu giữa con rắn và Người Nữ, và về chiến thắng chung cuộc của một hậu duệ Người Nữ này.
411. Truyền thống Kitô giáo nhận ra trong đoạn này lời tiên báo một vị “Ađam mới” [29] , Đấng đã lấy sự “vâng lời cho đến chết… trên thập giá” (Pl 2,8) của mình, mà sửa lại một cách đầy tràn chan chứa tội bất tuân của ông Ađam [30] . Đàng khác, nơi Người Nữ được tiên báo trong Tiền Tin Mừng, nhiều Giáo phụ và tiến sĩ Hội Thánh nhận ra Đức Maria, Mẹ Đức Kitô, như là một bà “Evà mới”. Đức Maria là người đầu tiên và theo một cách thế độc nhất vô nhị, được thừa hưởng chiến thắng của Đức Kitô trên tội lỗi: Bà được gìn giữ khỏi mọi vết nhơ của tội tổ tông [31] và trong suốt cuộc đời trần thế của mình, nhờ ân sủng đặc biệt của Thiên Chúa, Bà đã không hề phạm một tội nào [32] .
Chúa Giêsu đền thay sự bất tuân của chúng ta bằng sự vâng phục của Người
615. “Cũng như vì một người duy nhất đã không vâng lời Thiên Chúa, mà muôn người thành tội nhân, thì nhờ một người duy nhất đã vâng lời Thiên Chúa, muôn người cũng sẽ thành người công chính” (Rm 5,19). Chúa Giêsu, bằng sự vang phục cho đến chết của Người, đã hoàn thành việc đền thay của Người Tôi trung đau khổ, là hiến thân làm hy lễ đền tội, mang lấy tội lỗi của muôn người và làm cho họ nên công chính khi gánh lấy tội lỗi của họ [33] . Chúa Giêsu đã đền bù các lỗi lầm của chúng ta và tạ tội với Chúa Cha vì tội lỗi của chúng ta [34].
BÀI GIẢNG ĐỨC THÁNH CHA - CHÚA NHẬT 12 THƯỜNG NIÊN NĂM A
Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 12 Thường niên năm A (25/6/2023) - Chỉ nên sợ điều đáng sợ
Anh chị em thân mến, chào anh chị em, chúc Chúa Nhật tốt lành!
Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu ba lần lặp lại với các môn đệ: “Anh em đừng sợ” (Mt 10:26.28.31). Trước đó một chút, ngài đã nói với họ về những cuộc bách hại mà họ sẽ phải trải qua vì Tin Mừng, một thực tế vẫn còn đang diễn ra: thật vậy, ngay từ những ngày đầu tiên, Giáo hội đã biết, cùng với những niềm vui, có nhiều cuộc bách hại. Có vẻ nghịch lý: việc loan báo Nước Thiên Chúa là một thông điệp hòa bình và công lý, dựa trên tình bác ái huynh đệ và sự tha thứ, nhưng lại gặp phải sự chống đối, bạo lực và bách hại. Tuy nhiên, Chúa Giêsu nói đừng sợ: không phải vì mọi thứ sẽ tốt đẹp trên thế giới, nhưng vì đối với Chúa Cha, chúng ta thật quý giá và không có gì tốt đẹp sẽ bị mất đi. Do đó, Người bảo chúng ta đừng để mình bị chết đứng bởi nỗi sợ hãi, mà đúng hơn hãy sợ hãi một điều khác, một điều duy nhất. Đâu là điều Chúa Giêsu nói chúng ta phải sợ?
Chúng ta tìm hiểu điều này qua một hình ảnh mà Chúa Giêsu sử dụng hôm nay: đó là hình ảnh “Gehenna” (xem câu 28). Thung lũng "Gehenna" là nơi mà cư dân Giêrusalem biết rõ: đó là bãi rác lớn của thành phố. Chúa Giê-su đề cập đến điều đó để nói rằng nỗi sợ thực sự là vứt bỏ mạng sống của mình. Đây là điều Chúa Giêsu nói: “Vâng, anh em hãy sợ điều đó.” Người muốn nói rằng: chúng ta không cần phải quá sợ khi chịu những hiểu lầm và chỉ trích, sợ mất uy tín và lợi ích kinh tế để trung thành với Tin Mừng, nhưng đúng hơn điều đáng sợ là lãng phí cuộc sống của chúng ta để theo đuổi những thứ tầm thường, không mang lại ý nghĩa cho cuộc sống.
Và điều này quan trọng đối với chúng ta. Thật vậy, ngay cả ngày nay, người ta có thể bị cười nhạo hoặc bị phân biệt đối xử nếu không tuân theo một số mô hình thời thượng nhất định, tuy nhiên, những mô hình này thường lại đặt những cái thứ yếu vào trung tâm: ví dụ sự vật hơn là con người, hiệu suất hơn là các mối tương quan. Hãy lấy một số ví dụ. Tôi đang nghĩ đến những bậc cha mẹ cần phải làm việc để nuôi sống gia đình, nhưng không thể chỉ sống vì công việc: họ cần thời gian cần thiết để ở bên con cái. Tôi cũng đang nghĩ đến một linh mục hay một nữ tu: họ phải dấn thân phục vụ, nhưng không quên dành thời gian để ở với Chúa Giêsu, nếu không, họ sẽ rơi vào tinh thần thế tục và đánh mất ý thức về con người của mình. Và bên cạnh đó, tôi nghĩ đến một người trẻ có hàng ngàn dấn thân và đam mê: trường học, thể thao, nhiều sở thích khác nhau, điện thoại di động và mạng xã hội, nhưng họ cần gặp gỡ mọi người và biến ước mơ lớn thành hiện thực mà không lãng phí thời gian vào những việc khác trôi qua và không để lại dấu ấn gì.
Anh chị em thân mến, tất cả những điều này liên quan đến một số sự từ bỏ khi chúng ta đối diện với các thần tượng về hiệu quả và chủ nghĩa tiêu thụ, nhưng điều đó là cần thiết để không bị mất hút trong những thứ mà sau đó bị vứt bỏ, như đã xảy ra ở Gehenna. Và ngược lại, nơi Gehenna ngày nay, người ta thường bỏ rơi con người: hãy nghĩ đến những người rốt cùng, thường bị coi là phế thải và những đồ vật không mong muốn. Sống đúng với những gì quan trọng thì có cái giá phải trả; phải trả giá khi đi ngược dòng, thoát khỏi những điều kiện của tư duy thông thường, trả giá với việc bị gạt sang một bên bởi những người sống “theo chiều gió”. Nhưng điều đó không quan trọng. Chúa Giêsu nói: điều quan trọng là đừng vứt bỏ điều tốt đẹp nhất: mạng sống. Đừng vứt bỏ mạng sống. Đó là điều duy nhất làm chúng ta phải sợ.
Vậy chúng ta hãy tự hỏi: tôi sợ điều gì? Có phải là do không có điều mình thích? Không đạt được những mục tiêu mà xã hội đặt ra? Về sự phán xét của người khác? Hay vì không đẹp lòng Chúa và không đặt Tin Mừng của Người lên hàng đầu? Xin Mẹ Maria, Đức Trinh Nữ, Mẹ Khôn Ngoan, giúp chúng ta khôn ngoan và can đảm trong những chọn lựa của chúng ta.
Nguồn: vaticannews.va/vi
Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 12 Thường niên năm A (21/6/2020) - Sợ hãi là một kẻ thù tệ hại nhất
Anh chị em thân mến,
Tin Mừng Chúa nhật hôm nay (x. Mt 10,26-33) vang lên lời mời của Chúa Giêsu nhắn gởi các môn đệ đừng sợ hãi, hãy mạnh mẽ và vững tin trước những thử thách của cuộc sống và cảnh báo họ về những nghịch cảnh đang chờ đợi họ. Bài đọc hôm nay là một phần trong diễn từ về truyền giáo mà Thầy chuẩn bị cho các Tông đồ có được kinh nghiệm đầu tiên trong việc loan báo Nước Thiên Chúa. Đức Giêsu khuyến khích họ “đừng sợ”. Sự sợ hãi là một trong những kẻ thù tệ hại nhất trong đời sống Kitô hữu của chúng ta, và Chúa Giêsu nói: “anh em đừng sợ hãi”. Ngài đưa ra ba tình huống cụ thể mà họ sẽ phải đối mặt.
Trước hết, sự thù địch của những người muốn làm im lặng Lời Chúa, khi coi nhẹ nó hoặc bịt miệng người loan báo. Trong trường hợp này, Chúa Giêsu khuyến khích các Tông đồ loan truyền thông điệp cứu độ mà Ngài đã giao phó cho họ. Vào thời điểm đó, Ngài đã truyền cho họ một cách thận trọng, gần như trong bí mật, trong nhóm nhỏ các môn đệ. Nhưng họ sẽ phải loan báo Tin Mừng của Ngài “lúc ban ngày”, nghĩa là giữa thanh thiên bạch nhật và “từ trên mái nhà” - như Chúa Giêsu nói - nghĩa là giữa chốn công khai.
Khó khăn thứ hai mà các nhà truyền giáo của Chúa Kitô sẽ gặp phải là mối đe dọa thể lý chống lại họ. Đó là sự bắt bớ trực tiếp đối với người của họ, ngay cả bị giết chết. Lời tiên tri này của Chúa Giêsu đã trở thành sự thật trong mọi thời: đó là một thực tế đau đớn, nhưng nó làm chứng cho sự trung tín của các chứng nhân. Có bao nhiêu Kitô hữu bị bách hại trên khắp thế giới ngày nay! Họ đau khổ vì Tin Mừng và với tình yêu, họ là những vị tử đạo của thời đại chúng ta. Chúng ta có thể nói chắc chắn rằng thời nay có nhiều vị tử đạo hơn những thời đầu: rất nhiều vị tử đạo, chỉ vì họ là Kitô hữu. Đối với những môn đệ chịu sự bách hại của hôm qua và hôm nay, Chúa Giêsu khuyên: “Đừng sợ những kẻ giết thân xác, nhưng không có quyền giết linh hồn” (c. 28). Chúng ta không cần phải sợ hãi những người cố dập tắt sức mạnh Tin Mừng bằng sự kiêu ngạo và bạo lực. Thật vậy, họ không thể chống lại linh hồn, nghĩa là chống lại sự hiệp thông với Thiên Chúa: điều này không ai có thể lấy đi khỏi người môn đệ, bởi vì đó là một món quà từ Thiên Chúa. Điều duy nhất người môn đệ phải sợ là mất đi món quà thiêng liêng này, mất đi sự gần gũi và tình bạn với Thiên Chúa, khi từ bỏ lối sống theo Tin Mừng và từ đó kéo theo cái chết luân lý, hệ luỵ của tội lỗi.
Loại thử thách thứ ba mà các Tông đồ sẽ phải đối diện đó là sự cảm nhận mà một số người sẽ có thể kinh nghiệm, rằng Thiên Chúa đã bỏ rơi họ, Ngài xa cách và im lặng. Ngay cả điều này, Chúa Giêsu cũng khuyên chúng ta đừng sợ hãi, bởi vì, mặc cho trải qua những cạm bẫy này và cạm bẫy khác, sự sống của các môn đệ vẫn nằm trong tay Thiên Chúa, Đấng yêu thương và gìn giữ chúng ta.
Như ba cám dỗ: thứ nhất, coi nhẹ Tin Mừng; thứ hai, bách hại; và thứ ba, cảm giác Thiên Chúa để chúng ta một mình. Chúa Giêsu cũng chịu thử thách này trong vườn ô liu và trên Thánh Giá, Chúa Giêsu phải kêu lên: “Lạy Cha, sao Cha nỡ bỏ rơi con?”. Đôi khi chúng ta cảm nhận sự khô khan thiêng liêng này. Nhưng chúng ta không nên sợ nó.
Chúa Cha chăm sóc chúng ta, vì chúng ta rất giá trị trong mắt Ngài. Điều quan trọng là sự cương trực, là sự can đảm của việc làm chứng và làm chứng cho đức tin: “nhận Chúa Giêsu trước mặt mọi người” và tiến bước làm điều thiện.
Xin Đức Maria rất thánh, mẫu gương tin tưởng và phó thác vào Thiên Chúa trong những nghịch cảnh và nguy hiểm, giúp chúng ta không bao giờ rơi vào tuyệt vọng, nhưng luôn luôn phó thác mình cho Thiên Chúa và ân sủng của Ngài, bởi vì ân sủng của Thiên Chúa thì luôn mạnh mẽ hơn sự dữ.
Nguồn: vaticannews.va/vi
Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 12 Thường niên năm A (25/6/2017) - Các con đừng sợ
Anh chị em thân mến,
Trong Tin Mừng hôm nay (Mt 10,26-33), Chúa Giêsu sau gọi và sai các môn đệ đi truyền giáo, Ngài dặn dò và chuẩn bị họ đương đầu với những thử thách và bách hại họ sẽ gặp. Chúa khuyên các môn đệ: “Các con đừng sợ người đời, vì không có gì che đậy mà sẽ không bị tỏ lộ [...]. Điều Thầy nói với các con trong bóng tối các con hãy nói ra trong ánh sáng [...]. Và các con đừng sợ những người giết được thân xác, nhưng không thể giết được linh hồn” (vv.26-28). Việc Chúa Giêsu sai đi thi hành sứ mạng không đảm bảo cho các môn đệ được thành công, và cũng không làm cho họ tránh được những thất bại và đau khổ. Các môn đệ phải sẵn sàng đối phó với sự kiện họ có thể bị phủ nhận, hoặc bị bách hại. Điều này hơi đáng sợ nhưng đó là sự thật.
Người môn đệ được kêu gọi làm cho cuộc sống của mình phù hợp với Chúa Kitô là Đấng đã bị loài người bách hại, đã từng bị phủ nhận, bỏ rơi và chịu chết trên thập giá. Không có sứ mạng Kitô nào dưới ngọn cờ yên hàn; những khó khăn và sầu muộn là điều thuộc về công việc loan báo Tin Mừng và chúng ta được kêu gọi tìm thấy trong đó cơ hội để kiểm chứng xem đức tin và tương quan của chúng ta với Chúa Giêsu có chân thực hay không. Chúng ta phải xét những khó khăn ấy như một cơ hội để có thể có tinh thần thừa sai hơn nữa và để tăng trưởng trong sự tín thác nơi Thiên Chúa là Cha chúng ta, Đấng không bỏ rơi con cái Ngài trong giờ bão tố.
Trong những khó khăn khi làm chứng tá Kitô trên thế giới, chúng ta không bao giờ bị lãng quên, nhưng luôn luôn được sự ân cần của Chúa Cha nâng đỡ. Vì thế, trong Tin Mừng hôm nay, 3 lần Chúa Giêsu trấn an các môn đệ và nói rằng: “Các con đừng sợ!”.
Ngày nay cũng có bách hại chống các tín hữu Kitô. Chúng ta hãy cầu nguyện cho cách anh chị em chúng ta đang bị bách hại và chúc tụng Thiên Chúa vì, dù có tình trạng như thế, họ vẫn tiếp tục can đảm và trung thành làm chứng về đức tin. Tấm gương của họ giúp chúng ta đừng do dự có lập trường đứng về Chúa Kitô, can đảm làm chứng cho Chúa trong những hoàn cảnh mỗi ngày, cử trong những môi trường không yên hàn. Thật vậy, một hình thức thử thách cũng có thể là không có đố kỵ và sầu muộn. Ngoài việc sai đi như “chiên giữa sói”, cả thời nay, Chúa cũng gửi chúng ta đi như những ngươi canh phu giữa những người không muốn được thức tỉnh để ra khỏi tình trạng mơ mơ màng màng trần tục, cố tình không biết đến những lời Chân Lý của Tin Mừng, họ kiến tạo cho mình những chân lý phù du. Và nếu chúng ta đến hoặc sống trong những bối cảnh này, và chúng ta công bố Lời của Tin Mừng, thì điều này có thể gây khó chịu cho họ và họ sẽ nhìn chúng ta không thiện cảm.
Nhưng trong tất cả những điều ấy, Chúa tiếp tục nói với chúng ta như Ngài đã nói với các môn đệ thời đại của Ngài: “Các con đừng sợ!”. Chúng ta đừng quên những lời này: luôn luôn, khi chúng ta gặp bất cứ gian truân, bách hại, bất cứ điều gì gây đau khổ cho chúng ta, thì chúng ta hãy lắng nghe tiếng Chúa Giêsu nói trong lòng mình: “Đừng sợ! Đừng sợ hãi! Hãy tiến lên! Thầy ở cùng con!". Đứng sợ những người chế nhạo và ngược đãi các con, đừng sợ những người cố tình không biết đến các con, trước mặt thì tôn kính nhưng đằng sau thì bài trừ Tin Mừng. Chúa Giêsu không để chúng ta lẻ loi vì chúng ta quí giá đối với Ngài. Đó là lý do tại sao Người không để bất cứ ai trong chúng ta một mình. Mỗi người chúng ta đều quý giá đối với Chúa Giêsu và Người đồng hành với chúng ta.
Xin Đức Trinh Nữ Maria, mầu gương khiêm nhường và can đảm gắn bó với Lời Chúa, giúp chúng ta hiểu rằng trong việc làm chứng cho đức tin, thành công không đáng kể, nhưng là lòng trung thành với Chúa Kitô, nhìn nhận trong mọi hoàn cảnh, cả những hoàn cảnh khó khăn nhất, hồng ân không lường là được làm môn đệ thừa sai của Chúa.
Nguồn: archivioradiovaticana.va
Đức Bênêđictô XVI, Huấn dụ Chúa nhật 12 Thường niên năm A (22/6/2008) - Kính sợ Chúa và sợ người đời
Anh chị em thân mến
Trong bài Tin mừng chúa nhựt hôm nay, chúng ta thấy hai lời mời gọi của Chúa Giêsu, một đàng là “đừng sợ người đời”, và đàng khác là “hãy sợ” Thiên Chúa (Mt 10,26.28). Chúng ta được thúc giục hãy suy nghĩ về sự khác biệt giữa sự sợ hãi con người và lòng kính sợ Thiên Chúa. Sự sợ hãi là một khía cạnh tự nhiên của cuộc đời. Ngay từ khi còn nhỏ, chúng ta đã cảm thấy nhiều nỗi sợ hãi mà sau đó ta thấy rằng vu vơ và biến mất; có những thứ sợ hãi dựa trên thực tại, mà ta cần phải đương đầu với chúng và vượt thắng bằng nỗ lực và lòng tín thác vào Thiên Chúa. Nhưng nhất là có thứ sợ hãi sâu đậm hơn, mang tính cách hiện sinh, và lắm lần biến thành nỗi khắc khoải: nỗi sợ hãi bắt nguồn từ cảm nghiệm về trống rỗng, gắn liền với một thứ văn hoá nhuốm màu chủ nghĩa hư không về lý thuyết hoặc thực hành.
Đứng trước viễn tượng bao la và đa dạng của những nỗi sợ hãi của con người, Lời Chúa thật là minh bạch: ai biết “kính sợ” Chúa thì không sợ hãi gì hết. Lòng kính sợ Chúa mà Kinh Thánh gọi là “khởi điểm của sự khôn ngoan đích thực” trùng hợp với lòng tin vào Thiên Chúa, tôn trọng quyền bính của Chúa trên sự sống và thế giới. Ngược lại, “không kính sợ Chúa” có nghĩa là dành địa vị của Thiên Chúa, muốn làm bá chủ định đoạt điều tốt điều xấu, sự sống và sự chết. Ai kính sợ Chúa thì cảm thấy an toàn tựa như trẻ thơ nằm trên tay mẹ (xc Tv 130,2): ai kính sợ Chúa thì giữ được an bình kể cả giữa cơn bão tố, bởi vì như Chúa Giêsu đã nói, Thiên Chúa là Cha giàu lòng khoan nhân. Ai kính sợ Chúa thì không sợ hãi gì. Thánh Gioan tông đồ viết rằng: “Trong tình yêu không còn sợ hãi; trái lại, tình yêu trọn hảo xua đuổi sự sợ hãi, bởi vì sự sợ hãi giả định sự trừng phạt, và kẻ nào sợ hãi thì không trọn hảo trong tình yêu” (1Ga 4,18). Vì thế người tín hữu không sợ hãi trước hư không, bởi vì biết rằng mình ở trong bàn tay của Chúa, biết rằng sự dữ và sự phi lý sẽ không có tiếng nói cuối cùng, nhưng Chủ tể duy nhất của thế giới và sự sống là Đức Kitô, Lời Thiên Chúa nhập thể, kẻ đã yêu thương chúng ta đến mức hy sinh bản thân cho ta, kẻ đã chết trên thập giá để cứu độ chúng ta.
Chúng ta càng tăng trưởng trong tình thân với Thiên Chúa, thấm nhuần yêu thương, thì ta càng lướt thắng dễ dàng mọi hình thức sợ hãi. Trong đoạn Tin mừng hôm nay, Chúa lặp lại nhiều lần lời khuyên “đừng sợ”. Chúa trấn an chúng ta cũng tựa như đã trấn an các tông đồ, tựa như trấn an thánh Phaolô khi hiện ra với ông một đêm kia khi ông đang trải qua một buổi cực kỳ khó khăn trong khi truyền giáo. Chúa nói với ông: “Đừng sợ, bởi vì Thầy ở với con” (Cv 18,9). Được vững mạnh nhờ sự hiện diện của Chúa Kitô và được củng cố nhờ tình thương của Chúa, vị tông đồ dân ngoại đã không sợ sự tử đạo. Chúng ta đang chuẩn bị mừng hai ngàn năm sinh nhật của thánh Phaolô với một năm Toàn xá đặc biệt. Mong sao cho biến cố linh thiêng và mục vụ này khơi dậy trong chúng ta lòng tín thác vào Chúa Giêsu Kitô, Đấng đã kêu gọi chúng ta loan báo và làm chứng cho Tin mừng, không sợ hãi gì hết. Vì vậy, anh chị em thân mến, tôi xin mời anh chị em hãy chuẩn bị cử hành Năm thánh Phaolô, mà tôi sẽ khai mạc vào thứ bảy sắp đến lúc 6 giờ chiều, tại đền thánh Phaolô ngoại thành, với phụng vụ Kinh Chiều Một của Lễ trọng kính thánh Phêrô và Phaolô. Ngay từ bây giờ, chúng ta hãy ký thác dự án này cho sự cầu bầu của thánh Phaolô và Đức mẹ Maria, Nữ vương các thánh tông đồ và Mẹ của Hội thánh, nguồn mạch của niềm vui và an bình cho chúng ta.
1. Suy niệm (TGM Giuse Nguyễn Năng)
Ðiều Ðức Giêsu mong muốn nơi các môn đệ trong khi thi hành sứ vụ rao giảng Tin Mừng, là phải mạnh dạn can đảm trước những đe dọa của người đời. Phải tin tưởng vào sự quan phòng yêu thương của Thiên Chúa. Vì Người hằng quan tâm săn sóc chúng ta. Chúng ta không sợ hãi, thất vọng trước những bắt bớ của người đời. Chỉ có Thiên Chúa là Ðấng chúng ta phải sợ vì Người có quyền lấy mất sự sống đời đời khỏi chúng ta. Nhưng Người cũng là người Cha đầy lòng nhân ái, thế nên chúng ta cứ an tâm.
Là những người tin và đi theo Chúa Giêsu, mỗi tín hữu chúng ta phải nối tiếp sứ mệnh làm chứng nhân cho Chúa trong cuộc sống hằng ngày. Cho dù cuộc sống còn nhiều khó khăn thử thách. Chúng ta hãy can đảm tin tưởng vì Chúa luôn ở bên chúng ta.
Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu, xin ban cho chúng con niềm tin, sức mạnh và khôn ngoan để chúng con trở thành chứng nhân loan báo Tin Mừng tình thương của Chúa cho mọi người chung quanh chúng con, bằng cách sống tin tưởng, phó thác cho Chúa trong sự vui tươi và bình an. Amen.
Ghi nhớ : “Các con đừng sợ những kẻ giết được thân xác”.
2. Suy niệm (Lm. Carôlô Hồ Bạc Xái)
A- Phân tích (Hạt giống...)
Chúa Giêsu tiếp tục dạy các tông đồ về sứ mạng rao giảng Tin Mừng. Ngài báo trước là người tông đồ sẽ bị bách hại nhưng khuyến khích họ đừng sợ, vì những lý do sau:
- Lý do thứ nhất: khi chịu bách hại là họ được vinh dự chia sẻ thân phận của Thầy mình (cc 24-25 đoạn phía trước).
- Lý do thứ hai: những kẻ bách hại chỉ giết được thân xác nhưng không giết được linh hồn họ.
- Lý do thứ ba: người tông đồ còn được Chúa bảo vệ, bất cứ điều gì xảy đến cho họ cũng nằm sẵn trong kế hoạch quan phòng của Chúa.
- Lý do thứ tư: nếu họ vẫn trung thành và can đảm thì họ sẽ được phần thưởng là Chúa sẽ tuyên bố nhận họ là người của Ngài.
B- Suy gẫm (...nẩy mầm)
1. Khi thực sự yêu thương ai, người ta sẽ lấy làm sung sướng được chịu khổ vì người mình yêu. Các tông đồ đã sung sướng như thế (x. Cv 5,40-41). Xin cho con thêm tình yêu Chúa, đến độ cảm thấy vui mừng được chịu khổ vì Chúa.
2. “Ai tuyên bố nhận Thầy trước mặt thiên hạ thì Thầy rằng sẽ tuyên bố nhận người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời. Còn ai chối Thầy trước mặt thiên hạ thì Thầy rằng sẽ chối người ấy trước mặt Cha Thầy đấng ngự trên trời”: Ta tuyên bố nhận Chúa bằng một cuộc sống đạo mạnh dạn không sợ dư luận, bằng cách tận dụng những cơ hội tốt để nói về Chúa cho người khác hiểu, và bằng cách chọn lựa coi trọng những giá trị siêu nhiên hơn những giá trị tự nhiên.
3. Một người kia nói chuyện với Chúa về những giá trị. Anh hỏi Ngài:
- Giá trị một phút ở trên trời là bao nhiêu ?
- Một tỷ năm.
- Giá trị một xu trên trời là bao nhiêu ?
- Một tỷ đô la.
- Anh liền xin: “Ngài có thể cho tôi một xu ?”
- Chúa nói: “Đợi một phút”. (Góp nhặt)
4. Một sĩ quan người Anh có đức tin mạnh mẽ cùng gia đình xuống tàu để phục vụ ở một xứ xa. Tàu rời bến được vài ngày thì gặp bão. Mọi người rất sợ, nhưng vợ viên sĩ quan sợ hơn cả, còn ông thì bình thản như chẳng có gì xảy ra. Vợ ông trách là ông không quan tâm gì đến an nguy của vợ con. Ông không nói nhiều, vào phòng rồi quay trở ra với một thanh kiếm trong tay. Ông gí mũi kiếm vào ngực vợ. Lúc đầu bà tái mặt nhưng liền sau đó bỗng cười lớn tiếng không tỏ gì là sợ hãi nữa.
- Làm sao em có thể cười khi anh gí mũi kiếm vào ngực em ?
- Làm sao em sợ được khi lưỡi kiếm ấy ở trong tay một người rất thương em!
- Vậy tại sao em lại muốn anh sợ cơn bão này khi anh biết rằng nó ở trong tay của Cha anh là người hằng yêu mến anh ? (Góp nhặt)
5. Nữ bác sĩ Sheila Cassidy đến nước Chilê làm việc phục vụ cho dân nghèo. Một hôm cô trị bệnh cho một lãnh tụ phe đối lập. Chính quyền biết chuyện nên bắt giam cô. Cô đã thuật lại như sau: “… Sau 4 ngày bị giam cầm và tra tấn, họ để tôi một mình trong phòng giam… Nhưng lạ thay, tôi không cảm thấy cô đơn và buồn chán, trái lại còn cảm thấy vui nữa, vì tôi biết có Chúa ở với tôi”. Bác sĩ Sheila đã cảm nghiệm được điều Chúa Giêsu nói trong bài Tin Mừng hôm nay: “Chúng con đừng sợ những kẻ chỉ giết được thân xác mà không giết được linh hồn chúng con”.
Hãy tự hỏi bạn sợ điều gì nhất trong đời ? Và bạn sẽ nói gì với Chúa về nỗi sợ đó ?
6. “Lạy Chúa, con không xin Chúa cho con khỏi bị đau khổ, mà chỉ xin Chúa đừng bỏ con một mình trong lúc khổ đau”. (Thánh nữ Bernadette Soubirous)
Cầu nguyện:
Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể,
Chúa không gọi chúng con là tôi tớ, Chúa cũng không chỉ coi chúng con là môn đệ. Chúa còn coi chúng con như bạn hữu của Chúa, vì Chúa đã thổ lộ cho chúng con những điều riêng tư thầm kín nhất trong tương quan giữa Chúa và Chúa Cha.
Chúa không ngừng nêu câu hỏi: Con bảo Thầy là ai ?
- Chúa là Đấng không ngừng kiếm tìm con, mà con vẫn thờ ơ.
- Chúa là Đấng đang cầu nguyện trong con cả đêm lẫn ngày mà con chẳng hay biết.
- Chúa là Đấng yêu thương con mãi mãi trong cuộc đời, dù con bất xứng.
Xin cho con biết mạnh dạn tuyên xưng niềm tin và dấn thân theo Chúa đến cùng.
Lạy Chúa, hôm nay cũng là Chúa Nhật ngày của cha.
Xin Chúa soi sáng, để con đừng bao giờ phải hối hận ăn năn vì những bận rộn cuộc sống, mà quên đi sự hiện diện của cha mẹ con trên cuộc đời này khi mọi sự không quá muộn màng.
Xin cho con luôn nhớ rằng: Trên đời này: “Không có người cha hoàn hảo, mà chỉ có người cha luôn dành yêu thương hoàn hảo nhất cho những đứa con của mình”. Chính nhờ tình thương hoàn hảo đó, mà con nhận ra Chúa là Người Cha Hoàn Hảo Tuyệt Đối.
Xin thương đến phận người yếu đuối của những người cha, mà chúng con nhớ đến trong ngày Chúa Nhật hiền phụ này, và ban cho người được an hưởng phúc lộc dành cho người biết tôn sợ Thiên Chúa. Amen.
3. Suy niệm (Lm. Giuse Đinh Lập Liễm)
NGƯỜI TÔNG ĐỒ NHIỆT THÀNH
A. DẪN NHẬP
Các bài đọc của tuần 11 mời gọi các Kitô hữu hãy trở nên sứ giả Tin mừng, đem ơn cứu rỗi của Chúa đến cho mọi người. Tuần này, Chúa báo trước cho chúng ta rằng muốn làm tông đồ của Chúa phải can đảm, vững tâm, đừng sợ trước những gian nan thử thách. Nếu Chúa là Chủ và là Thầy mà người ta còn xử tàn tệ như thế, thì chúng ta, những tôi tớ, những môn đệ của Chúa cũng không tránh khỏi con đường đó. Nhưng Chúa khuyên chúng ta đừng lo âu sợ hãi vì Thiên Chúa quan phòng luôn nâng đỡ, che chở và hộ phù mọi sứ giả của Chúa. Hãy có một đức tin vững vàng và một đức cậy sáng suốt mà hành động, và phần thưởng của chúng ta đang chờ nếu biết xưng Chúa ra trước mặt thiên hạ.
Người ta thường nói: “Bất nhập hổ huyệt an đắc hổ tử”: không vào hang cọp thì làm sao bắt được cọp con. Muốn đem Tin mừng đến cho người khác thì người tông đồ phải biết dấn thân và dấn thân cũng gần có nghĩa như liều mạng. Thánh Phaolô là gương mẫu của sự dấn thân. Ngài không nề quản những khó khăn vất vả, những gian nan thử thách, ngay cả đến tính mạng của mình vì ngài luôn tâm niệm: “Khốn cho tôi nếu không rao giảng Tin mừng”. Các thánh Tông đồ cũng đã dấn thân rao giảng Tin mừng và kết cục là đã nhận lấy cái chết vì Chúa.
Chúa Giêsu luôn nhắc nhở cho chúng ta cái tư tưởng là “Đừng sợ”. Chúng ta có thể tìm thấy từ ngữ “đừng sợ” 365 lần trong Thánh kinh. Người Tông đồ chỉ có thể tìm được sự can đảm nếu biết tin cậy phó thác cho Chúa. Chính Ngài sẽ ban ơn đầy đủ, để chúng ta có thể hoàn thành sứ mạng đã được giao phó. Qua kinh nghiệm, thánh Phaolô đã khẳng định được tư tưởng trên khi ngài nói: “Omnia possum in eo qui me confortat”: tôi có thể làm được mọi sự trong Đấng ban sức mạnh cho tôi.
B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA
+ Bài đọc 1: Gr 20, 10-13
Tiên tri Giêrêmia là một con người đau khổ triền miên. Ông đã lãnh nhận nhiệm vụ tuyên sấm cho người Do thái, một nhiệm vụ khó khăn và nguy hiểm: Ông phải vạch tội của dân và cảnh cáo rằng Chúa sẽ trừng phạt họ. Vì thế, dân chúng thù ghét ông và nhiều lần tìm cách hãm hại ông.
Suốt ngày, Giêrêmia bị coi là trò hề cho họ nhạo báng sỉ nhục, đến nỗi ông phải kêu lên: Ôi, hành hung, ức hiếp... nhưng Thiên Chúa đã ở với ông như tướng quân oai hùng (Gr 20, 7-8). Nhờ thế ông càng tin tưởng vững mạnh, cầu nguyện và ca tụng Thiên Chúa... Ông tiếp tục công bố sứ điệp vừa bằng lời nói, vừa bằng đời sống.
+ Bài đọc 2: Rm 10, 226-33
Bài đọc 2 hôm nay chỉ là chủ đề phụ, không hoàn toàn ăn khớp với bài đọc 1 và bài Tin mừng, theo đó, thánh Phaolô dạy chúng ta rằng: nếu vì liên đới với nguyên tổ Ađam mà chúng ta phải mang tội và phải chết, thì nhờ kết hợp với Đức Kitô, chúng ta sẽ được lãnh nhận ân sủng và sự sống.
Ân sủng của Thiên Chúa thì lớn lao hơn tội lỗi và sự chết là lương bổng của tội lỗi, khiến cho tội của Adam trở nên “Tội hồng phúc” (bài Exsultet) vì nhờ đó mà Ngôi Hai Thiên Chúa mới xuống thế làm người và ở cùng chúng ta.
+ Bài
Tin mừng: Mt 10, 26-33
Bài Tin mừng hôm nay tiếp nối bài Tin mừng tuần trước: Chúa Giêsu sai các môn đệ đi rao giảng Tin mừng, nhưng đồng thời Ngài cũng phải khuyến cáo họ rằng rao giảng Tin mừng không phải là một chuyện dễ dàng, phải dùng đến nội lực, phải can đảm và vững lòng trông cậy trước những khó khăn chồng chất, ngay cả khi bị hãm hại.
Đừng sợ! vì Chúa quan phòng luôn ở bên cạnh để che chở. Đừng sợ vì Cha trên trời đã lưu ý đến cả những con chim chẳng đáng giá gì, cả từng sợi tóc trên đầu từng người. Chúa đã dựng nên tất cả, săn sóc, nuôi dưỡng, bảo tồn những thứ bé nhỏ như thế, huống chi đối với các tông đồ của Chúa. Ngoài ra, Chúa còn hứa ban thưởng cho những ai dám tuyên xưng Chúa ra trước mặt thiên hạ.
C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA: Chân dung người tông đồ
Bản chất của Kitô hữu là truyền giáo. Mọi người phải trở thành sứ giả Tin mừng. Sứ mạng thì cao quý, nhưng thực thi sứ mạng đó rất cam go, việc rao giảng đòi hỏi nơi người tông đồ một số đức tính mà thiếu nó thì không thành công. Dựa theo bài Tin mừng hôm nay, chúng ta cho rằng muốn thành công trong việc rao giảng, người tông đồ phải có 3 đức tính sau đây:
I. NGƯỜI TÔNG ĐỒ PHẢI DẤN THÂN
Đứng trước những công việc khó khăn, ai cũng thấy ái ngại. Những khó khăn trong việc rao giảng Tin mừng không phải là tình cờ hay do may rủi, nhưng đã được Chúa Giêsu báo trước: “Thầy sai anh em đi như chiên đi vào giữa bầy sói” (Mt 10, 16). Con chiên sẽ là mồi ngon cho bầy sói, nguy cơ bị ăn thịt luôn rình rập. Người tông đồ phải sống hiền lành như con chiên, sẵn sàng hy sinh tất cả cho Tin mừng.
Chúa Giêsu cũng còn cho biết: số phận của tông đồ là bị bách hại, vì nếu Chúa Giêsu mà còn bị bách hại thì làm sao họ lại tha các môn đệ? Vì thế, Chúa đã dặn trước: “Khi người ta bách hại anh em trong thành này, thì hãy trốn sang thành khác. Thầy bảo thật anh em; anh em chưa đi hết các thành của Israel, thì Con Người đã đến. Trò không hơn thầy, tớ không hơn chủ. Trò được như thầy, tớ được như chủ, đã là khá lắm rồi” (Mt 10, 23-24).
Bài đọc hôm nay cũng cho biết tiên tri Giêrêmia phải loan báo cho dân biết những hình phạt mà Thiên Chúa sẽ trút xuống dân. Những lời loan báo này chẳng hay ho gì đối với dân, lại làm cho họ bực mình, nên họ đã chống đối ông, hành hạ ông và muốn giết ông (x. Gr 20, 10-11). Các tông đồ nhận trách nhiệm đi rao giảng lời Chúa cho muôn dân, cũng bị người ta chống đối, hành hạ và giết chết. Các ông đã phải dấn thân vào chỗ nguy hiểm. Số phận các ông cũng giống như Chúa Giêsu.
Những Kitô hữu đầu tiên rất ý thức về sự quan trọng của việc truyền bá đức tin. Họ mang trong lòng lời dặn dò của Chúa Giêsu trước khi về trời là hãy rao giảng Tin mừng cho đến tận cùng trái đất. Tuy nhiên, loan báo Tin mừng một cách công khai đã không phải là một chuyện dễ dàng, bởi vì, trong thời gian đó, nhiều cộng đoàn Kitô hữu đã bị bách hại. Giữa những người Do thái, nhiều người xem những người chuyển sang Kitô giáo như là những kẻ phản bội, và tìm cách loại trừ. Làm chứng đức tin trong thời kỳ này, đôi khi là liều mạng sống. Chính vì thế mà một vài người bị cám dỗ sống âm thầm, kín đáo, không dám lên tiếng.
Thánh Phaolô là gương mẫu của sự dấn thân trong việc rao giảng Tin mừng. Ngài nói: “Khốn cho tôi, nếu tôi không rao giảng Tin mừng”. Vì vậy, Ngài đã lên đường truyền giáo bất chấp mọi nguy hiểm đang rình chờ. Trong thư gửi cho tín hữu Côrintô ngài đã cho biết về một số nguy hiểm đã phải trải qua: 5 lần bị đánh 39 trượng, 3 lần bị tra tấn, một lần bị ném đá, 3 lần bị đắm tàu một ngày một đêm (2Cr 12, 24-25). Ngài phải được gọi là chiến sĩ của Tin mừng, anh hùng của đức tin, của lòng nhiệt thành, bất chấp mọi gian nan thử thách, bởi vì:
Ví phỏng đường đời bằng phẳng cả,
Anh hùng hào kiệt có hơn ai (Nguyễn Bá Học)
Chúa muốn cho các Tông đồ của Ngài phải yêu mến Ngài và dấn thân trọn vẹn trên con đường rao giảng Tin mừng. Ta thấy khi cưới nhau thì hai người nam nữ hứa hiến thân cho nhau suốt đời. Khi khấn dòng: con hứa với Chúa sống khó nghèo, vâng lời và khiết tịnh. Khi lãnh chức linh mục: con có muốn tận hiến toàn thân cho Thiên Chúa vì phần rỗi mọi người không? - Thưa con muốn.
Một sự dấn thân trọn vẹn: Chúng ta cùng nhau sống mãi tới già. Đó là một trong những điều cao cả của cuộc sống con người. Những kẻ ngại ngùng dấn thân trọn vẹn sẽ chỉ có một đời sống nghèo nàn (André Sève, Sương mai, tr 77).
II. NGƯỜI TÔNG ĐỒ PHẢI CAN ĐẢM: ĐỪNG SỢ
Con người không biết sợ được coi là một người can đảm. Nói theo kiểu bình dân, người ta gọi đó là người “có gan cóc tía”. Con người dám liều mạng vì lý tưởng cao cả, không gì có thể lay chuyển được chí khí của họ, không khó khăn nào có thể làm cho họ chùn bước hay bỏ cuộc. Tấm gương sáng lạn của thánh Phaolô tông đồ đã chứng tỏ điều đó. Cuộc hành trình truyền giáo của Ngài đã phải trải qua những bước thăng trầm, nhưng không gì làm cho ngài chùn bước:
Cũng có lúc mưa dồn sóng vỗ,
Quyết ra tay buồm lái với cuồng phong,
Chí những toan xẻ núi lấp sông,
Làm nên đấng phi thường đâu đấy tỏ (Nguyễn Công Trứ)
Nhưng bình thường, con người có nhiều nỗi lo sợ: sợ khổ, sợ chết, sợ thất bại, sợ cô đơn, sợ dấn thân v.v… Cái sợ làm tê liệt con người: không có sức làm việc, không suy nghĩ sáng suốt, không giải quyết được tình huống... Ngay cả những người làm việc tông đồ cũng không tránh khỏi nỗi sợ: sợ không đủ khả năng, sợ người ta không nghe mình, sợ bị chống đối bởi những người không có thiện cảm với Tin mừng... Vì sợ như thế nên có người không dám mạnh dạn rao giảng, có người trốn tránh sứ mạng.
Trong bài Tin mừng hôm nay Chúa Giêsu cũng bảo cho các tông đồ: “Đừng sợ”. Ngài đã thấy trước bao nhiêu gian nan khốn khó đang chờ đón các ông khiến các ông nản lòng. Hãy can đảm lên vì đã có Chúa ở bên. Các ông hãy nhớ lại lần vượt biển bị sóng gió đánh tơi bời, tưởng chừng thuyền chìm tới nơi. Nhưng Chúa Giêsu đã can thiệp, sóng gió phải vâng lời Ngài, biển lại trở nên tĩnh lặng như tờ. Ngài khuyên bảo các ông một mặt dựa vào Chúa, một mặt cứ vững tay chèo lái con thuyền đời mình:
Chớ thấy sóng cả mà lo,
Sóng cả mặc sóng, chèo cho có chừng (Ca dao)
Chúa Giêsu bảo: “Đừng sợ vì không có gì che giấu mà sẽ không bị tỏ lộ ra, không có gì bí mật, mà người ta sẽ không biết”. Ý nghĩa trong câu này là chân lý sẽ thắng. Châm ngôn La tinh có câu: “Chân lý là vĩ đại và chân lý sẽ thắng”. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II hay nhắc đến đề tài này trong các huấn dụ của ngài.
Khi vua Giacôbê VI hăm dọa treo cổ hoặc lưu đầy André Meville, ông khảng khái đáp: “Vua không thể treo cổ hoặc lưu đầy chân lý”. Khi Kitô hữu chịu khổ và hy sinh, thậm chí chết vì đạo, thì phải nhớ rằng một ngày kia mọi sự được phơi bày, lúc đó quyền lực của kẻ bách hại và sự anh dũng của người theo Chúa sẽ được minh giải và mỗi người nhận đúng phần công của mình.
Người tông đồ nói điều mình đã nghe Chúa Giêsu và phải nói lại dù phải chuốc lấy oán ghét của người đời, thậm chí có thể toi mạng. Người đời không ưa chân lý vì “chân lý như ánh sáng chiếu vào mắt đau” (Diogène). Một lần giáo sĩ Latimer đang giảng, có cả vua Henri dự, ngài biết mình sắp nói một điều vua không ưa. Ở trên tòa giảng ngài nói lớn như nói với chính mình: “Latimer, Latimer, Latimer, coi chừng điều ngươi nói, có vua Henri đấy”. Kế đó, ngài ngưng, rồi nói tiếp: “Latimer, Latimer. Latimer, coi chừng điều ngươi nói, có Vua của các vua đang ở đây”.
Người giảng đạo đem một sứ điệp nói cho loài người, nhưng phải nói trong sự hiện diện của Thiên Chúa. Khi chôn Gioan Knox, người ta nói về ông: “Đây là nơi yên nghỉ của một người kính sợ Thiên Chúa đến nỗi không bao giờ sợ hãi trước mặt loài người”.
Chứng nhân Kitô là người không biết sợ, vì biết sự phán xét đời đời sẽ điều chỉnh sự phán xét tạm thời. Người truyền giảng là người lắng nghe cách cung kính, và nói với lòng can đảm, vì xác tín rằng vô luận nghe nói đều ở trong sự hiện diện của Thiên Chúa.
Các tín hữu thời sơ khai đã gặp bao nhiêu khó khăn, nhưng họ tỏ ra luôn vững tin, không nao núng trước những thử thách. Sử gia Tertullianô đã viết về họ:
“Những người tin theo Chúa được mệnh danh là Kitô hữu. Kitô hữu (Christianus) nghĩa là thuộc về Chúa Kitô, nên họ đã phải có một tâm tình như Chúa Kitô. Họ không sợ chết. Họ không sợ hình khổ. Họ không sợ bách hại, tại vì họ đã đi cùng một đường với Chúa. Câu ‘Kẻ muốn theo Ta phải từ bỏ mình đi, vác thập giá mình mà theo’ đã thấm nhập vào tâm hồn họ, nên mỗi khi phải đau khổ, cũng như bị bách hại, cũng như bị cấm cách, câu nói ấy lại đến với họ như chính Đấng Kitô hiện hình. Hèn gì mà trên tín trường họ coi gươm giáo như hoa hồng, coi lý hình như bạn hữu. Họ chỉ sợ một Thiên Chúa – Đấng sẽ phán xét họ, nếu họ đi chệch đường”.
Người làm tông đồ phải được huấn luyện, tập cho mình biết hy sinh chịu đựng mà không kêu ca phàn nàn. Người làm tông đồ hãy theo cách huấn luyện thanh niên ở thành Spartes: Hằng năm, một số trẻ em thành Spartes cử hành lễ CHỊU ĐỰNG, các em phải chịu đựng cho roi quất vào mình, máu chảy, thịt rách, nhưng không được thối chí hay khóc lóc. Châm ngôn của họ là đau không khóc, đói không than. Ngoài ra, các em phải tự mưu sinh ở trong rừng một thời gian, chiến đấu với thú rừng để sinh tồn.
Chớ gì người tông đồ tỏ ra kiên trung, sẵn sàng vượt qua mọi khó khăn để một lòng một dạ theo chân Chúa dù phải đòn vọt, gông cùm hoặc phải nhận lấy cái chết:
Chân xiềng cổ lại đeo gông,
Chết anh anh chịu, anh không buông nàng (Ca dao)
Truyện: Gương can đảm
Các vị Truyền giáo đã kể lại một nhân chứng đức tin như sau:
Ghèssèssén là một bé trai Ethiopie 12 tuổi, tính tình luôn vui vẻ và sẵn sàng giúp đỡ mọi người. Em thuộc một gia đình quí tộc lâu đời trong tỉnh Agamie. Ba em, thủ lãnh và khô khan. Ông không bao giờ chấp nhận kẻ khác bất tuân lời ông hoặc chống lại ông.
Lớn lên em được học ở trường Công giáo Gouala. Tâm hồn em đã bị đánh động bởi các nghi lễ, các lời giảng dạy của các vị Truyền giáo, nhất là gương sống đạo của các em Công giáo sáng nào cũng đi dự lễ, rước lễ. Em rất thích đạo Công giáo, ước ao được rước lễ. Nhưng các Cha Thừa Sai chưa cho em nhập đạo, vì cần chờ ý kiến của ba má em.
Ngày nọ, em bị ba gọi về. Em hứa với chúng tôi sẽ trở lại ngay ngày hôm sau. Nhưng em đã không xuất hiện lại mấy ngày nay. Chúng tôi đã nghĩ người ta đã dùng vũ lực để giữ em lại. Tệ hơn người ta bắt em từ chối ý muốn theo đạo. Và đây là câu chuyện mà em đã kể cho chúng tôi:
Con đến gặp ba con, cùng đi với con có mẹ con. Ông ôm hôn con, và con hôn đầu gối ba theo như tập tục ở xứ con. Lúc ấy, ông nói với một giọng vuốt ve:
- Ta và mẹ đã quyết định cưới vợ cho con, ta chỉ yêu cầu con một chữ: “Dạ”.
Con đã trả lời: - Không.
Cha con nói gằn giọng: - Mày nói gì?
- Con nói “Không”, vì con muốn được học ở nơi các Cha cố.
- Im đi! Ta muốn mày cưới vợ. Biết đâu mày còn muốn theo đạo Công giáo!
- Thưa cha, con đã là Công giáo trong tâm hồn rồi.
Nghe các lời này, ông nổi cơn tam bành, hét to:
- Đồ bị chúc dữ! Mày, con của Rèdada, lại muốn trở thành Công giáo! Ta thích mày chết đi còn hơn!
Ông nghiến răng, nắm tay đấm. Ông dữ tợn và hung hăng như một con sư tử. Dì con và các binh lính la to: “Phải phạt nó”.
Mẹ con thì im lặng. Ba con lặp lại:
- Hãy bỏ tôn giáo đó đi! Nếu không, tao giết mày như một con vật.
- Con không thể bỏ đạo thánh được, thà chết còn hơn. Ba là ba của thân xác con, nhưng chính Chúa là Cha của linh hồn con.
Thế là một trận đòn với biết bao lằn roi cây, roi da hà mã bủa lên thân xác con rất đau đớn do ba con và các lính của ông đánh đập. Cuối cùng, đao phủ của con thấm mệt và dừng tay.
Ba con lại hỏi một lần nữa: - Có bỏ đạo Công giáo không?
Con trả lời: - Không, thà chết…
Trải qua mấy ngày liền, bị đánh đập, cho ăn thiếu thốn, trói buộc. Ba con vẫn giữ vững lập trường bắt con bỏ đạo. Ông hứa hẹn, dụ dỗ, đe dọa… Nhưng tất cả đều vô ích!
Ngày 7/9 vọng lễ Sinh nhật Đức Mẹ, cậu can đảm nói với ba cậu: - Cho con đến Gouala, nhà các cha.
Vị thủ lãnh Rèdada không còn biết làm gì khác. Ông đồng ý. Trời còn chưa sáng, em đã hăm hở lên đường về lại Gouala. Một niềm vui lớn lao cho em và cho chúng tôi. Chúng tôi băng bó các vết thương cho em. Em thành khẩn lặp lại ý muốn chịu phép Rửa tội và Rước lễ. Em nói:
Các cha còn sợ con trở thành kẻ chối đạo nữa sao? Xin đừng sợ! Con sẽ không phản bội Chúa Giêsu của con đâu! Vì Ngài, con sẵn sàng dâng cả mạng sống con.
III. NGƯỜI TÔNG ĐỒ LUÔN TRÔNG CẬY VÀO CHÚA
Trên bước đường truyền giáo, người tông đồ không còn biết trông cậy vào ai, chỉ còn biết trông cậy vào sự quan phòng của Chúa. Tuy không thấy Chúa nhưng phải tin rằng lúc nào cũng có cánh tay của Chúa đang hướng dẫn và hộ phù.
Người phó thác vào Chúa quan phòng tin rằng Chúa luôn hiện diện bên cạnh con người trong mọi tình huống: “Ta hằng ở với con” (Gr 1, 10) hoặc “Thầy sẽ ở với các con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 26, 20).
Người tín thác vào Chúa luôn tin rằng Chúa có kế hoạch của Ngài và không có gì xẩy ra ngoài kế hoạch của Thiên Chúa: “Không con chim sẻ nào rơi xuống đất mà Cha các con không biết đến. Phần các con, tóc trên đầu các con đã được đếm cả rồi” (bài Tin mừng hôm nay). Người phó thác cho Chúa xác tín rằng Thiên Chúa là Cha và chúng ta là con. Một người cha tốt lành lo cho con tất cả, đem đến cho con những gì tốt lành nhất: “Cha chúng con trên trời thừa biết chúng con cần gì” (Mt 6, 32).
Truyện: Mối dây liên lạc với Thiên Chúa
Một em bé chơi diều, thả con diều lên cao đến độ con diều trở nên như một chấm nhỏ khó có thể trông thấy được. Thấy tay em cầm đầu dây và mặt cứ ngước lên trời, một người qua đường hỏi em:
- Em đang làm gì vậy?
Em bé trả lời:
- Cháu đang chơi thả diều.
Người kia ngạc nhiên hỏi tiếp:
- Diều đâu, tôi không thấy gì ở trên trời cả.
Em bé thưa lại:
- Bác không trông thấy, nhưng cháu chắc chắn là con diều của cháu đang ở trên đó, vì cháu còn giữ được đầu dây trong tay cháu đây mà.
Thiên Chúa cũng thế, người ta không trông thấy Ngài, nhưng có thể cầm được những mối dây, để cảm được sự hiện diện và tình yêu thương của Ngài (Hạt giống âm thầm, tr 196).
Chúng ta hãy tiếp tục triển khai lòng tin cậy vào Thiên Chúa. Hãy tìm hiểu câu nói đầy ý nghĩa này:
Thiên Chúa đóng kín cửa chính thì Ngài mở ra cửa sổ.
Đây là câu nói diễn đạt kinh nghiệm sống của đạo sâu xa. Thiên Chúa đóng kín cửa chính đó là khi chúng ta gặp thử thách, đau khổ, không còn có thể nhìn thấy ánh sáng, sự hiện diện đầy quan phòng của Thiên Chúa. Đó là khi Thiên Chúa xem ra như bỏ rơi, mặc ta đương đầu với thử thách khó khăn. Lúc đó chúng ta nhớ rằng: Thiên Chúa Ngài sẽ mở ra cửa sổ, mở ra một lối thoát, một giải đáp, một hướng đi mới cho cuộc đời chúng ta.
Thiên Chúa đóng kín cửa chính nhiều lần trong cuộc đời mỗi người, nhưng đồng thời Ngài cũng mở ra những cửa sổ, để hướng chúng ta đến một điều tốt đẹp hơn, và trước đó ta không ngờ những kinh nghiệm đau thương tiêu cực, mà ta gặp phải trong cuộc đời, đôi khi đó là tiếng nói của Thiên Chúa, để mời gọi ta bước ra một hoàn cảnh không tốt đẹp, để chuẩn bị ta sẵn sàng đón nhận những hồng ân mới.
Nhìn lại cuộc sống, có thể mọi người chúng ta sẽ cảm nghiệm được những giây phút, Thiên Chúa như đóng kín cửa chính, nhưng đồng thời Ngài cũng mở ra những cửa sổ, những viễn tượng mới tốt đẹp hơn cho cuộc đời chúng ta.
Khi Thiên Chúa đóng kín cửa chính, thì Ngài sẽ mở ra cửa sổ, chúng ta hãy nhìn trong những biến cố đau thương, tiêu cực xảy ra trong cuộc đời, với tinh thần tích cực lạc quan và sự tin tưởng vào sự quan phòng của Chúa. Chính những lúc ta gặp thử thách đen tối, là lúc ta cần tin tưởng phó thác vào Chúa nhiều hơn nữa. Hãy ngắm nhìn thấy những cánh cửa sổ Thiên Chúa mở ra cho cuộc đời mình. Mỗi người chúng ta cần sống trong sự hiện diện của Ngài, cần lưu hướng về Ngài trong việc thực hành cầu nguyện đối thoại với Ngài. Khi gặp thử thách đau thương, chúng ta không nên giảm bớt hay bỏ quên việc cầu nguyện, chạy đến tiếp xúc với Thiên Chúa.
4. Suy niệm (Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu S.J.)
Ga 10,26-33
KHÔNG NGOÀI Ý CHA CỦA ANH EM
Trong thời đại tự do tôn giáo được đề cao,
chưa bao giờ Kitô giáo lại bị bách hại nhiều như thời nay.
Đức Phanxicô dám nói Giáo hội thời nay bị bách hại hơn thời kỳ đầu.
Các Kitô hữu bị thù ghét và làm hại vì chính đức tin của họ.
Có nhiều hình thức bách hại khác nhau.
Có khi là đóng cửa hay tấn công, đốt phá các nhà thờ,
bắt gỡ xuống những thánh giá trên cao.
Có khi là làm cho người Kitô hữu không còn đất sống,
bị phân biệt đối xử, đành phải trốn quê hương mà đi.
Có khi Kitô giáo bị coi là sản phẩm của thực dân ngoại lai,
là thành phần đe dọa an ninh của quốc gia dân tộc.
Trong năm 2015, có hơn bảy ngàn Kitô hữu bị giết,
và gần hai ngàn năm trăm nhà thờ bị tấn công.
Tại Pháp, cha Jacques Hamel bị hai người dùng dao đâm chết
khi đang dâng Thánh Lễ tại họ đạo của mình, vào tháng 7-2016.
Ở nhiều nơi trên thế giới, truyền giáo giữa thanh thiên bạch nhật
vẫn còn là một điều bị cấm đoán,
rao giảng công khai trên mái nhà là nguy hiểm đến tính mạng.
Nhưng Đức Giêsu kêu gọi các Kitô hữu đừng sợ.
Cứ nói to những điều mình đã được Thầy dạy dỗ trong nhà,
cứ công bố những gì mình đã nghe Thầy nhỏ to chia sẻ.
Sớm muộn sẽ đến ngày những điều còn ẩn khuất được lộ ra,
những bí mật được vén mở cho người ta biết.
Đức Giêsu còn chỉ cho ta biết ai là người mà ta phải sợ.
Không phải là người chỉ lấy được mạng sống của xác thân,
mà là Đấng có quyền trên cả hồn lẫn xác, đời này và đời sau.
Nhưng Đấng đáng sợ lại là Đấng đáng yêu,
vì Đấng ấy là Người Cha giàu tình thương với mọi loài thụ tạo.
Cả những thụ tạo bé bỏng và tầm thường như loài chim sẻ.
Hai con chỉ đáng một hào, làm cả ngày mua được ba mươi hai con.
Vậy mà không con nào rơi xuống đất ngoài ý Cha của anh em.
Trên đầu mỗi người có bao nhiêu sợi tóc, chẳng ai biết.
Vậy mà Cha chúng ta biết, vì Ngài đã đếm từng sợi tóc trên đầu.
Vì Cha quý những thụ tạo tầm thường bé nhỏ,
nên chúng ta biết mình có chỗ đặc biệt trong trái tim Thiên Chúa,
và được Cha trân quý hơn chim sẻ bội phần.
Khi tin vào Người Cha ấy, chúng ta được giải phóng khỏi nỗi sợ.
Cái chết đời này chẳng có nghĩa gì so với cuộc sống vĩnh cửu đời sau,
nên người Kitô hữu ca hát an vui ngay giữa nơi hành hình.
Nơi hành hình là nơi làm chứng trước mặt mọi người về Đức Giêsu.
Có những người sợ khi phải nhận mình thuộc về Đức Giêsu.
Phêrô đã chối không biết Thầy Giêsu, không thuộc nhóm của Thầy.
Ông sợ những liên lụy có thể khiến ông gặp rắc rối.
Nhìn nhận hay từ chối có tương quan thân thiết với Ngài,
điều đó ảnh hưởng đến vận mệnh vĩnh hằng của từng người,
Ai nhìn nhận Đức Giêsu sẽ được Ngài nhìn nhận trước mặt Chúa Cha,
và Chúa Cha sẽ nhận người đó vào Nước của Cha trên trời.
Nói chung, chẳng có ai theo Thầy Giêsu mà lại được yên ổn,
vì chính đời Thầy đã kết thúc một cách rất không yên.
Nhưng theo Thầy là bình yên đón nhận thân phận của Thầy.
Không phải chỉ rao giảng về Thầy, mà còn phải sống lời rao giảng đó.
Không phải chỉ công khai tuyên xưng Thầy trên mái nhà,
mà còn để cho tinh thần của Thầy thấm vào toàn bộ cuộc sống.
Mong rằng chẳng có gì tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Kitô.
LỜI NGUYỆN
Lạy Chúa Giêsu, xin cho con được ơn khôn ngoan
để con biết sợ điều phải sợ.
Cho con đừng sợ những đe dọa đến thân xác, tiếng tăm,
nhưng biết sợ toàn bộ con người mình bị hư mất vĩnh viễn.
Cho con đừng sợ những kẻ làm hại con ở đời này,
nhưng biết sợ phải xa Đấng yêu con và muốn con hạnh phúc.
Xin giải phóng con khỏi những nỗi sợ đã ăn sâu vào cuộc sống,
những nỗi sợ ngấm ngầm mà chính con không dám thú nhận,
những nỗi sợ khiến con chẳng được tự do an vui,
nhờ đó con dám sống thật sự là mình,
tươi tắn và hồn nhiên, nhẹ nhàng và thanh thản.
Xin dạy con ngắm những bông hoa dại vệ đường
để thấy chúng được điểm trang lộng lẫy.
Xin dạy con ngắm chính mình mỗi ngày,
để thấy vẻ đẹp nơi mình như một quà tặng của tình yêu.
Xin dạy con ngắm đàn chim sẻ ríu rít buổi sáng,
để biết mình chẳng nên quá lo chuyện cơm áo gạo tiền,
nhưng nên phó thác như em thơ ngồi trong lòng mẹ.
Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã đặt đời mình trong tay Cha.
Xin cho con cũng đặt đời con trong tay Chúa.
5. Suy niệm (Lm. Nguyễn Vinh Sơn SCJ)
Câu chuyện
Ngày 16 tháng 10 năm 1978, khi những làn khói trắng tại thành Vatican Rôma bay lên, cả Rôma đổ xô về đền thờ thánh Phêrô và tất cả thế giới hướng về thủ đô của Giáo hội Công giáo. Vị Giáo hoàng của Giáo hội Công giáo sau Mật Nghị Hồng y đã được bầu lên ngôi. Chuông của các Giáo đường ở Rôma vang rền chào đón một triều Giáo hoàng mới bắt đầu. Ít phút sau, tên của vị Giáo hoàng - Đức Karol Wojtyla với tước vị Gioan Phaolô II được xướng lên, vị Giáo hoàng đến từ sau bức màn sắt, đất nước Balan. Ngài đã bước ra ban công để chúc lành cho thế giới với trách nhiệm kế vị thánh Phêrô, một trong những lời mà Ngài đã ngỏ lời với thế giới: “Đừng sợ và tin vào Chúa Kitô”.
Lời của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II xác định rõ tinh thần của Đức Kitô: “Anh em đừng sợ” (Mt 10,26) mà trước đó Đức Kitô nói đến viễn cảnh những người tin sẽ phải đối diện với sự bách hại và thử thách niềm tin (x. Mt 10,17-25). Hãy sống với niềm tin vào Thầy, vào Cha Thầy. Niềm tin biểu lộ bằng sự vượt qua sợ hãi, sợ hãi do những cơn bách hại, sợ hãi do từng cụ thể hoàn cảnh gây cho con người bối rối lo âu...
Suy niệm
Thân phận của con người luôn đối diện với những sự việc hay hoảng hốt sợ hãi, Tin Mừng đã ghi lại một số sự việc như là tiêu biểu của sự sợ hãi của kiếp nhân sinh:
Thấy Chúa đến với mình khi đi trên mặt biển, các tông đồ hoảng hốt bảo nhau: “Ma đấy!”, và sợ hãi la lên (Mt 14,26). Thánh Phêrô dù được Chúa cho đi trên mặt biển với Chúa, nhưng trước phong ba bão tố, ông vẫn cứ sợ và chìm dần xuống, Chúa đã có mặt và dẫn dắt ông đi trong bình an (x. Mt 14,29-33)
Các tông đồ có Chúa bên cạnh trong hành trình vượt sóng, phong ba bão tố nổi lên, các ông sợ tàu của mình sẽ bị nhấn chìm, Đức Kitô chỉ ra lệnh một tiếng: Hãy im ngay và trời đất tỏa sáng cảnh thái bình (x. Mc 4,35-41)
Các tông đồ sợ, khi Thầy bị bắt nên đã bỏ trốn đi hết (x. Mt 26,56). Ông Phêrô trước áp lực truy lùng của người Do Thái cũng đã chối Thầy… (x. Mt 26,69-75). Các tông đồ sợ hãi vì thầy đã mất, người Do Thái đang tìm các ông để thanh toán “món nợ” cũ, lại trước tin đồn “các ông lấy xác Thầy rồi loan tin sống lại” làm các ông hoảng loạn, đóng kín cổng cao tường không dám tiếp xúc với ai bên ngoài (x. Ga 20,19). Vì thế, các ông hoang mang, sợ hãi và một số đã bỏ về quê như hai môn đệ trên đường Emmaus (x. Lc 24,13-23).
Tất cả tâm tư sợ hãi nơi các môn đệ là tiêu biểu cho sự sợ hãi của kiếp con người có lẽ mang tâm tư của Isaia đã trải nghiệm: “Lòng tôi dao động, nỗi kinh hãi khiến tôi bàng hoàng. Cảnh chiều tà xưa tôi ưa thích nay trở thành mối lo sợ cho tôi” (Is 21,4).
Giữa muôn nỗi bàng hoàng, lo sợ thì Đức Kitô đã đến mang sứ điệp hy vọng “anh em đừng sợ” vì “anh em còn quý giá hơn muôn vàn chim sẻ”, thánh Ambrôsiô đã khẳng định: “Nếu Thiên Chúa luôn quan tâm cho cá, chim sẽ đơn giản... thì không nghi ngờ rằng: Ngài luôn nhìn với sự chăm sóc chú ý đến với người tín hữu trung tín”.
Trong cuộc sống vất vả, lo âu khó khăn đã làm chúng ta sợ, đó là niềm sợ hãi của kiếp nhân sinh mà ai ai cũng phải đối diện, làm bào mòn niềm tin của người tín hữu như Gióp đã trải nghiệm, chua xót, thở than đầy thất vọng: “Ðến bao giờ Ngài mới ngoảnh mặt đi để con yên thân nuốt trôi nước miếng ? Con phạm tội có hề chi đến Ngài, lạy Ðấng dò xét phàm nhân ? Sao Ngài cứ đặt con làm bia để bắn ? Phải chăng con đã nên gánh nặng cho Ngài ? (G 7,19-20). Hiện tại đã thế, thì tương lai lại càng mịt mù hơn, nỗi niềm sợ hãi luôn chồng chất trên sợ hãi... Nếu còn chút niềm tin, lời khấn cầu càng trở nên thống thiết: “Lạy Thiên Chúa của con, con tin tưởng nơi Ngài, xin Ngài đừng để con tủi nhục, đừng để quân thù đắc chí nhạo cười con” (Tv 25,2).
Bỗng Lời của Chúa thì thầm trong tâm hồn như Ngài đã hứa với ngôn sứ Isaia: “Đừng sợ hãi: Có Ta ở với ngươi. Đừng nhớn nhác: Ta là Thiên Chúa của ngươi. Ta cho ngươi vững mạnh, Ta lại còn trợ giúp với tay hữu toàn thắng của Ta”. Cho nên: “Trong ngày con sợ hãi, con tin tưởng vào Ngài” (Tv 56,4) và vì thế, tôi sống và tiến bước mang tâm tình mà Thánh Vịnh đã xác tín: “Tôi vững vàng tin tưởng sẽ được thấy ân lộc Chúa ban trong cõi đất dành cho kẻ sống” (Tv 27,13)
Mong cho tôi và bạn vững bước tiến đi giữa bao thăng trầm của cuộc sống như Lời Chúa dạy “Đừng có sợ, hãy tin vào Thầy” (Mc 4,40). Tin vào tình yêu quan phòng của Thiên Chúa như Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã xác tín.
Ý lực sống
“Hãy ký thác đường đời cho Chúa,
tin tưởng vào Người, Người sẽ ra tay”.
(Tv 37,5)
bài liên quan mới nhất
- Thứ Bảy tuần 11 Thường niên năm II - Thiên Chúa quan phòng (Mt 6,24-34)
-
Thứ Sáu tuần 11 Thường niên năm II - Kho tàng trên trời (Mt 6,19-23) -
Thứ Năm tuần 11 Thường niên năm II - Chúa Giêsu dạy cầu nguyện (Mt 6,7-15) -
Thứ Tư tuần 11 Thường niên năm II - Làm việc lành trong âm thầm (Mt 6,1-6.16-18) -
Thứ Ba tuần 11 Thường niên năm II - Yêu thương kẻ thù (Mt 5,43-48) -
Thứ Hai tuần 11 Thường niên năm II - Sức mạnh của tình thương (Mt 5,38-42) -
Chúa nhật 11 Thường niên năm A (Mt 9,36-10,8) -
Trái tim Vô nhiễm Đức Mẹ - Ghi nhớ trong lòng (Lc 2,41-51) -
Lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu năm A (Mt 11,25-30) -
Thứ Năm tuần 10 Thường niên năm II - Giữ luật với tâm tình yêu thương (Mt 5,20-26)
bài liên quan đọc nhiều
- Mùng 2 Tết: Kính nhớ tổ tiên và ông bà cha mẹ (Mt 15,1-6)
-
Chúa nhật 4 mùa Chay năm C - Trở về (Lc 15,1-3.11-32) -
Ngày 25 tháng 12: Chúa Giáng sinh (Lễ Đêm, Rạng Đông, Ban Ngày) -
Mùng 1 Tết: Cầu bình an trong năm mới (Mt 6,25-34) -
Chúa nhật 2 Phục sinh - Bình an cho anh em (Ga 20,19-31) -
Thứ Năm Tuần Thánh (Ga 13,1-15) -
Thứ Sáu Tuần Thánh - Thương khó (Ga 18,1-19,42) -
Lễ Tro - Giữ chay và kiêng thịt (Mt 6,1-6.16-18) -
Ngày 08/09: Sinh nhật Đức Trinh Nữ Maria (Mt 1,1-16.18-23) -
Thứ Tư Tuần Bát Nhật Phục Sinh - Đường Em-maus (Lc 24,13-35)