Tiến trình lịch sử của việc thiết lập Hàng giáo phẩm Việt Nam

Tiến trình lịch sử của việc thiết lập Hàng giáo phẩm Việt Nam

Giáo hội Công Giáo Việt Nam đang sống trong Năm Thánh mừng kỷ niệm 350 năm thành lập Giáo hội (1659-2009) và 50 năm thiết lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam (HGPVN) [1] (1960-2010). Đây là hai sự kiện đặc biệt quan trọng không thể tách rời và có liên hệ chặt chẽ trong quá trình hình thành và phát triển của Giáo hội Việt Nam. Ngày mùng 9/9/1659, Giáo hội Việt Nam chính thức được thành lập, mốc điểm này chính là khởi điểm của tiến trình dẫn đến việc thiết lập HGPVN năm 1960; đồng thời, sự kiện thiết lập HGPVN cũng trở thành cột mốc đánh dấu tuổi trưởng thành của Giáo hội, một Giáo hội từ quy chế Tông tòa trở thành Giáo hội chính tòa.

Mừng Năm Thánh 2010, qua bức thư công bố Năm Thánh 2010 gởi cộng đồng Dân Chúa, các giám mục Việt Nam đã viết: “Đây là thời điểm cho chúng ta nhìn lại quá khứ để tạ ơn Chúa và lắng nghe bài học của lịch sử, nhìn vào hiện tại, để nhận diện những thuận lợi và thách đố, nhìn tới tương lai để cùng nhau canh tân đời sống và xây dựng Giáo hội theo đúng thánh ý Thiên Chúa”. [2] Quả thế, “Lịch sử là bài học của quá khứ, cho hiện tại, để hướng đến tương lai”. Chính trong tinh thần ấy, chúng ta cùng nhìn lại đôi nét tiến trình thành lập HGPVN trong dòng lịch sử Giáo hội Việt Nam. Trước hết, [A] chúng ta sẽ thoáng nhìn qua các chặng đường lịch sử của Giáo hội Việt Nam; [B] Và rồi, trong dòng lịch sử ấy, chúng ta sẽ lần lượt đọc lại bối cảnh lịch sử của tiến trình thành lập HGPVN; [C] để cuối cùng, tiến trình lịch sử này này dẫn chúng ta đến mốc điểm quan trọng của ngày 24/11/1960, với việc Tòa thánh chính thức thành lập HGPVN.

 A. Khái quát dòng lịch sử Giáo hội Việt Nam 

Tiến trình hình thành và phát triển của Giáo hội Việt Nam có thể được phân chia trong 5 thời kỳ như sau:
 
            1. Thời kỳ khai phá, từ 1533-1659, gồm hai giai đoạn: Giai đoạn mở đường (1533- 1614) và giai đoạn xây nền móng (1615-1659)
 
           2. Thời kỳ hình thành, từ 1659-1802: được đánh dấu bằng việc thiết lập 2 Giáo phận Tông tòa đầu tiên: Đàng Ngoài (Tonkin) và Đàng Trong (Cochinchine) năm 1659 với hai Giám mục François  Pallu và Pierre Lambert de la Motte.
 
           3. Thời kỳ thử thách, từ 1802-1884 với sự bách hại đẫm máu của các vua Minh Mạng (1820-1841); Thiệu Trị (1841-1847), Tự Ðức (1847-1883) cùng với các phong trào Văn Thân và Cần Vương.
 
            4. Thời kỳ phát triển, từ 1884-1960, được đánh dấu với hòa ước Giáp thân 1884, đây là thời kỳ đạo Công giáo được sống trong hòa bình cho đến sự kiện thành lập HGPVN năm 1960.
 
            5. Thời kỳ trưởng thành, từ khi HGPVN được thành lập đến nay. [3]
 
Trong dòng lịch sử này, ba giai đoạn: Hình thành, Thử Thách và Phát Triển, khởi đi từ năm 1659 đến 1960 làm nên bối cảnh, hay cái khung của tiến trình thành lập HGPVN.
 
B. Bối cảnh lịch sử của việc thiết lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam
 
Tiến trình thành lập HGPVN diễn ra trong dòng thời gian khá dài, với 300 năm, từ 1659-1960, qua nhiều sự kiện và những yếu tố khá phức tạp trong dòng lịch sử truyền giáo. Trong phần này, trước hết, chúng ta sẽ nêu rõ định hướng rất rõ ràng của Tòa thánh ngay từ buổi ban đầu của việc thành lập Giáo hội Việt Nam. Từ định hướng ấy, chúng ta tạm phân chia bối cảnh lịch sử của tiến trình thành lập HGPVN qua hai giai đoạn chuẩn bị: Xa - Gần, trong đó, chúng ta sẽ thấy việc thi hành những chỉ thị của Tòa thánh qua những dự án tấn phong giám mục Việt Nam, đặc biệt, chúng ta sẽ nhận ra gương mặt của Vị ứng viên Giám mục Việt Nam đầu tiên: cha Giuse Phước (1659-1732);  Chúng ta cũng sẽ đề cập đến những can thiệp và những hoạt động của các Đức Giáo Hoàng, của Thánh bộ Truyền giáo qua những văn kiện và những hoạt động cụ thể, để dẫn đến sự kiện thiết lập HGPVN năm 1960.
 
I. Bối cảnh chuẩn bị xa cho việc thành lập Hàng Giáo phẩm
 
1. Định hướng ban đầu của Tòa Thánh
 
Để xây dựng một Giáo hội địa phương bền vững, mục tiêu đầu tiên của Tòa thánh là tạo lập Hàng Giáo sĩ địa phương để từng bước trao chức giám mục cho các linh mục địa phương và thành lập Hàng Giáo Phẩm địa phương. Đối với Giáo Hội Việt Nam, định hướng này được thể hiện rõ nét qua cuộc vận động tại Rôma từ năm 1645-1654. Cha Đắc Lộ đã xin Tòa thánh gởi các giám mục đến Đàng Trong và Đàng Ngoài với mục đích chính yếu là phong chức linh mục cho các ứng viên thuộc Hội Thầy giảng mà cha Đắc lộ đã thành lập trước đó. [4]
 
Ngày 9/9/1659, ĐGH Alexandre VII chính thức thành lập Giáo hội Việt Nam, qua Tông sắc Super Cathedram, bổ nhiệm hai giám mục tiên khởi cho hai địa phận đại diện tông tòa Đàng Trong và Đàng Ngoài, là Đức cha François Pallu và Pierre Lambert de la motte. [5] Nhân dịp này, Thánh Bộ Truyền giáo đã trao cho hai vị giám mục Đại diện Tông tòa của Giáo hội Việt Nam bản Huấn thị (Instructions 1659), [6] qua đó, Thánh bộ cho thấy rất rõ ý định tạo lập Hàng Giáo sĩ và việc tấn phong giám mục cho các Linh mục Việt Nam. Huấn thị viết: “Lý do chính thúc đẩy Thánh Bộ cử chư huynh đến các xứ ấy với chức vụ giám mục, là để chư huynh, bằng mọi phương thức có thể, lo đảm trách việc giáo dục thanh niên, giúp họ đủ khả năng nhận lãnh chức linh mục. Chư huynh sẽ phong chức cho họ và cử họ đi khắp miền rộng lớn ấy, mỗi người làm việc trong quốc gia của mình; ở đó họ sẽ hết lòng phụng sự đạo Chúa nhờ chư huynh ân cần chăm sóc. Vậy chư huynh hãy luôn đặt trước mắt mục đích này là tuỳ sức có thể, hãy làm thế nào để đưa dẫn được nhiều người và là những tâm hồn có nhiều khả năng đạt đến chức thánh, đào tạo và huấn luyện họ, rồi truyền chức linh mục khi họ đã sẵn sàng”. Huấn thị viết tiếp: “Trong số những người mà chư huynh đã truyền chức linh mục, sẽ có những người xứng đáng được đề cử lên chức giám mục. Tuyệt đối cấm ngặt chư huynh không được ban chức cao trọng đó cho một người nào, nhưng hãy báo cáo cho Thánh Bộ biết rõ danh tánh, đức độ, tuổi tác của họ, cũng như những chi tiết cần thiết khác như: nơi chốn chư huynh có thể tấn phong giám mục cho họ, Giáo phận chư huynh có thể trao cho họ cai quản và nhiều vấn đề khác, sẽ được bàn tới sau này”. [7]
 
Như vậy, ngay từ khi Giáo hội Việt Nam được thành lập năm 1659, Tòa thánh đã có định hướng rõ ràng cho tương lai của Giáo hội này, qua những chỉ thị về việc đào tạo Hàng Giáo sĩ và việc tấn phong giám mục bản xứ, để hướng tới mục đích thiết lập HGPVN. Đây là điều hết sức quan trọng, bởi vì, qua kinh nghiệm truyền giáo tại Nhật Bản, do chưa tạo lập được Hàng Giáo sĩ bản xứ vững mạnh, nên khi bão táp bách hại xảy đến vào năm 1614, Giáo hội Nhật Bản hầu như tan rã.
 
2. Dự án đầu tiên cho việc bổ nhiệm Giám mục Việt Nam
 
a/ Dự án tấn phong Giám mục Việt nam của Đức cha François Pallu
 
Sau khi nhận sứ vụ Giám mục Đại diện Tông tòa Gp Đàng Ngoài, trong cuộc hành trình đến Giáo phận mới, Đức cha Pallu đã soạn thảo tập tài liệu mang tên : “Góp thêm vào bản Huấn Thị” (Additions aux Instructions) [8] gởi cho các nhà truyền giáo tại vùng Á đông, trong đó có đoạn viết: “Chúng ta phải giáo dục và chuẩn bị cho việc gia nhập hàng giáo sĩ và chức linh mục, tất cả những ai chúng ta xét là có khả năng; Chúng ta phải tạo lập hàng Giáo sĩ địa phương và tùy theo sự tự do mà chúng ta có được, họ thi hành tất cả các chức năng tông đồ”. [9]
 
Năm 1678, tại Rôma, Đức cha Pallu đã đệ trình lên ĐGH và Thánh bộ truyền giáo một dự án đề cử những giám mục bản xứ. Ngài khẳng định: “Nếu tính cả các linh mục lai vào số những linh mục bản xứ, thì có thể tìm được những ứng viên xứng đáng lãnh nhận chức Giám mục”. [10] Ngài cũng chỉ cho thấy những lợi ích của việc bổ nhiệm các Gm bản xứ: trước hết, các Gm người địa phương có thể đi lại dễ dàng trong xứ sở của mình, họ dễ dàng đến được với các cộng đoàn tín hữu để ban phát các Bí tích, nhất là Bí tích Thêm sức, nhờ đó, niềm tin của các tín hữu sẽ được cũng cố; đàng khác, các Thầy giảng sẽ được khích lệ để chu toàn bổn phận và họ cũng được khuyến khích để dấn thân trong ơn gọi dâng hiến; Hơn nữa, người bản xứ sẽ thấy sự quý trọng mà Giáo hội làm đối với người đồng hương của họ. Do vậy, đạo Công giáo sẽ được họ đón nhận cách dễ dàng hơn; Cuối cùng, các vua chúa và quan lại địa phương sẽ không còn ngờ vực các thừa sai nước ngoài có ý đồ xâm lược đất nước của họ. [11] Tuy nhiên, Đức cha. Pallu chỉ đề nghị các Giám mục Việt Nam: “được tấn phong với chức năng là Gm hiệu tòa, họ làm việc trong những vùng đất được Giám mục Đại diện Tông tòa phân định và họ buộc phải tuân phục quyền của vị Đại diện Tông tòa …”. [12] Tuy nhiên, quan điểm của Thánh Bộ truyền giáo muốn rằng, các Gm địa phương sẽ được tấn phong phải là “những giám mục bản xứ với “Năng quyền” bình thường, nghĩa là: “những Gm (có năng quyền) thực thụ tại một tòa Gm địa phương, với những trách nhiệm hoàn toàn riêng biệt của một Giáo phận mới, được thành lập bởi Tòa thánh, là những Đại diện Tông tòa, ngang quyền với những Đại diện Tông tòa người Châu Âu”. [13]
 
b/ Cha Giuse Phước, ứng viên Giám mục Việt Nam đầu tiên
 
Ngày 20 tháng 5 năm 1686, Tòa thánh yêu cầu Đc. François Deydier chọn lựa một linh mục bản xứ làm Gm phó cho ngài:Episcopo Ascalonensi detur facultas eligendi sibi in coadjutorem inter sacerdotes nationales quem prae caeteris optimum existimaverit”. [14] Năm 1687, Tòa thánh tiếp tục thúc bách hai Đức cha François Deydier (tên Việt là Điển và Phan) và Jacques de Bourges (tên Việt là Gia) [15] giới thiệu những ứng viên Gm Việt Nam. [16] Chính với định hướng của Tòa thánh như thế, ngay từ cuối thế kỷ 17, đã xuất hiện gương mặt của Vị ứng viên Gm Việt Nam đầu tiên, Cha Giuse Phước.
 
Cha Giuse Phước thuộc nhóm các linh mục đầu tiên của địa phận Đàng Ngoài. Sinh năm 1659 tại Thanh hóa. Ngài được gởi sang Thái Lan, được đào tạo tại Chủng viện Ayuthia. Thầy Giuse rất giỏi môn La ngữ. “Là một chủng sinh xuất sắc của Thánh Bộ và là hương vị ngọt ngào của Chúa Kitô. Thầy khá thông thạo về thần học”, [17] được Đc. Louis Laneau hết lời khen ngợi. Năm 1689, Đc. Louis Laneau đã phong chức linh mục cho thầy tại Ayuthia, sau đó, cha Giuse Phước trở lại Đàng Ngoài, phục vụ tại Thanh hóa vào năm 1703, tại Nghệ an năm 1706. Trong cuộc bách hại đạo Công giáo lúc bấy giờ, ngài bị bắt vào tháng 4/1717. Bị kết án tù chung thân ngày 21/5/1717 và chết rũ tù ngày 10/2/1732, hưởng thọ 73 tuổi. [18]
 
Năm 1691, chính Đc. Louis Laneau đã đề cử cha Giuse Phước lên ĐGH Innôcentê XII và Thánh bộ Truyền giáo như ứng viên giám mục Việt nam đầu tiên, để xin tấn phong cho ngài. Tuy nhiên, nhiều khó khăn do bởi ý kiến trái chiều và tế nhị của một số thừa sai Châu Âu lúc bấy giờ, [19] do đó, sự kiện tấn phong Gm cho cha Giuse Phước kéo dài đến năm 1709 mà không đạt được kết quả. Kể từ thời điểm này, dự án Gm cho người Việt Nam không còn được nhắc tới, cho đến thế kỷ XX khi Đức cha Gioan Baotixita Nguyễn Bá Tòng được tấn phong Gm ngày 11/6/1933.
 
3. Những văn kiện của Tòa Thánh
 
Mặc dù dự án tấn phong Gm cho người Việt Nam không còn được nhắc đến trong một thời gian dài, nhưng Tòa thánh vẫn theo đuổi định hướng này ngay từ khi thành lập Giáo hội Việt Nam. Nhiều văn kiện của Thánh bộ Truyền Giáo, của các Đức Giáo hoàng đã mạnh mẽ can thiệp và thúc đẩy việc tạo lập Hàng Giáo sĩ bản xứ cho công cuộc truyền giáo và cho mục đích tấn phong giám mục cho người địa phương để tiến tới thành lập Hàng Giáo phẩm, đưa Giáo hội tại các vùng truyền giáo đạt đến tuổi trưởng thành thực thụ. Trong phần này, chúng tôi chọn ba văn kiện tiêu biểu của các Giáo hoàng và của Thánh bộ truyền giáo như sau:
 
            a/ Huấn thị Neminem profecto [20]
 
Một trăm tám mươi lăm năm sau khi Huấn thị 1659 được trao cho hai Giám mục đầu tiên, Thánh bộ Truyền giáo cho ra đời Huấn Thị Neminem profecto vào năm 1845, qua đó, Thánh bộ đặc biệt nhấn mạnh đến sự cần thiết phải tạo lập Hàng Giáo sĩ địa phương tại các xứ truyền giáo.
 
Huấn thị Neminem profecto nhắc lại lời của Huấn Thị năm 1659 như sau : “Vào năm 1659, Đức Giáo Hoàng Alexandre VII đã yêu cầu Thánh Bộ Truyền giáo gởi những chỉ thị cho các Đại diện Tông tòa trước khi họ đi đến các xứ Đàng Trong, Đàng Ngoài và Trung Hoa rằng: “Lý do chính khi gửi các Giám mục đến những miền trên là để các Giám mục Đại diện Tông tòa này, cố gắng bằng tất cả mọi hoạt động và mọi phương tiện, lo giáo dục các thanh niên người bản xứ, để họ có khả năng thi hành chức vụ linh mục; Họ sẽ được chính các ngài phong chức và sai đến những vùng đất trong xứ sở bao la đó, để cộng tác vào công trình Kitô giáo, dưới sự điều khiển của các Giám mục Đại diện Tông tòa”.
 
Neminem profecto cũng nhắc lại ý hướng ban đầu của Thánh bộ, được xác định trong Huấn thị 1659 rằng : “Theo ước nguyện lâu đời của Tòa Thánh, các giáo sĩ địa phương phải trở nên những người tự đảm trách tất cả các nhiệm vụ, điều hành mọi hoạt động và sau đó cũng được nhận phẩm chức Giám mục”.
 
b/ Tông thư Maximum illud [21]
 
Ngày 31/11/1919, ĐGH Bênêdictô XV đã ban hành Tông thư Maximum illud, trong đó nhấn mạnh đặc biệt đến việc phải thiết lập Hàng Giáo sĩ bản xứ, bằng những lời lẽ rất mạnh mẽ: “Linh mục bản xứ là người có khả năng tuyệt vời để hội nhập chân lý vào các tâm hồn (acclimater la vérité dans les âmes). Các thừa sai nước ngoài không được sử dụng họ duy nhất vào những công tác thấp hèn như trợ tá cho các thừa sai ngoại quốc, nhưng phải liệu sao cho họ có thể đích thân điều khiển các tín hữu của họ. Nhiều dân tộc đã văn minh tiến bộ, đã có được những người tài giỏi trong mọi lãnh vực, chẳng lẽ họ không có được các Linh mục và Giám mục để tự điều hành Giáo Hội địa phương của họ hay sao?” [22]Đức Bênêdictô XV cũng khiển trách nặng lời một số thừa sai như sau: “Thật đáng thương khi thấy những vị thừa sai không hiểu phẩm chức của mình tới độ, đã lo lắng đặt quê hương trần thế của họ lên trên cả quê hương Nước trời. Họ công khai và nhiệt tâm lo việc phát triển thế lực, danh tiếng và vinh quang đất nước họ, trên mọi lợi ích khác. Những thái độ này đối với việc tông đồ, như một bệnh dịch ghê tởm (comme une peste affreuse)” . [23] Ngài còn viết: “Sẽ là tai hoạ nếu người của Tòa thánh đem sức mình ra để thúc đẩy và củng cố uy tín của mảnh đất quê hương mà người đó đã bỏ lại phía sau, điều đó sẽ dễ dàng dẫn đến quan điểm cho rằng Công giáo là tôn giáo của người ngoại quốc, người cải đạo sang Công giáo là người không còn trung thành với dân tộc của mình, là người phục tùng đòi hỏi và sự thống trị của quyền lực ngoại bang”. Bức Tông thư còn phê phán sự phân biệt giai cấp, chủng tộc của Giáo hội tại các miền truyền giáo lúc bấy giờ: “Những kẻ coi người bản địa là chủng tộc hạ đẳng hay người có trí tuệ thấp kém là đã phạm sai lầm nghiêm trọng”.
 
c/  Thông điệp Rerum Ecclesiae [24]  
 
Ngày 28/2/1926, Đức Piô XI đã công bố Thông điệp Rerum Ecclesiae, qua thông điệp này, vấn đề Hàng Giáo sĩ địa phương được nhấn mạnh cách đặt biệt. Đức Piô XI xác định rõ: “ […] phải có hàng giáo sĩ địa phương để tự đảm trách Giáo hội của họ”. Ngài loan báo, “đã đến lúc, Giáo hội địa phương phải tự đảm nhận sứ vụ truyền bá phúc âm”.
 
Qua Thông điệp Rerum Ecclesiae, Đức Piô XI đã lấy lại tư tưởng, định hướng và ngay cả từ ngữ của Tông thư Maximum illud của Đức Bênêdictô XV. Ngỏ lời với các Gm Đại diện Tông tòa, những người có trách nhiệm tại các xứ truyền giáo, Đức Piô XI nói: “Trước hết, Ta nhắc lại với Quý chư huynh về ích lợi lớn lao của việc thiết lập Hàng Giáo sĩ địa phương. Nếu Quý chư huynh không làm hết sức mình cho công việc này, thì không những Ta coi như sứ vụ tông đồ của Quý chư huynh chưa được chu toàn cách đầy đủ, nhưng Quý chư huynh còn làm chậm trễ hơn nữa tiến trình thành lập và tổ chức Giáo Hội tại các xứ truyền giáo này”. [25] Như một nhà tiên tri của thời cuộc, Đức Piô XI đưa ra những tiên báo và lý luận rất sâu sắc như sau: “Quý chư huynh hãy giả thiết rằng, sau một cuộc chiến tranh hay sau những biến cố chính trị, một vùng đất truyền giáo nào đó được thay đổi chính quyền. Khi ấy, nhà cầm quyền yêu cầu hoặc ra lệnh cho các thừa sai nước ngoài phải ra khỏi xứ sở của họ… Khi ấy, thật là một thảm họa lớn cho Giáo Hội, nếu như tại đó không có sẵn một Hàng Giáo sĩ người bản xứ…”. [26]
 
Một cách mạnh mẽ và thẳng thắn, Đức Piô XI đã lên tiếng: “Quý chư huynh tuyệt đối không thể tiếp tục giam hãm các linh mục địa phương trong tình trạng như những thuộc cấp của mình, chỉ với những thừa tác vụ thấp kém. Quả thật, các vị ấy có cùng một chức linh mục như tất cả Chư huynh và cùng tham dự vào sứ vụ tông đồ hoàn toàn giống như những giáo sĩ Âu châu khác”. “[…] Kinh nghiệm lâu dài minh chứng rằng: người dân ở các khu vực phương Đông và phươngNam xa xôi thường không thấp kém hơn chúng ta, họ có thể đứng ngang hàng với chúng ta, ngay cả trong lĩnh vực trí tuệ ”. [27]
 
Đức Giáo Hoàng Piô XII, trong thông điệp Evangelii Praecones, ngày 2/6/1951 cũng đã minh định rõ ràng: “Giáo Hội được phép thành lập Hàng Giáo phẩm tại các địa phương nếu cần thiết. Đây là một phương thức được chấp thuận trong hiện tại… ”. [28]
 
Với ba văn kiện nêu trên, đặc biệt, với Tông thư Maximum illud và Thông điệp Rerum Ecclesiae, Tòa thánh đã lên tiếng và can thiệp mạnh mẽ cho tiến trình tạo lập Hàng Giáo sĩ và việc thiết lập Hàng Giáo phẩm địa phương. Xét về nhiều mặt, các văn kiện Maximum Illud và Rerum Ecclesiae chính là đỉnh điểm của một loạt những cuộc cải cách tại các xứ truyền giáo. Qua Tông thư Maximum Illud và Thông điệp Rerum Ecclesiae, Tòa thánh không chỉ phê phán những ràng buộc mang tính chính trị và những định kiến về mặt chủng tộc tại các xứ truyền giáo, mà còn công nhận rằng: thay đổi trong Giáo hội Công giáo bên ngoài châu Âu là tất yếu, bởi vì đến một ngày nào đó chế độ thuộc địa sẽ phải sụp đổ. Thấy trước tình hình chính trị xã hội của thế giới, hai vị Giáo hoàng đã đưa ra những dự kiến, các ngài còn lên kế hoạch để chống đỡ cho sự suy tàn của Giáo hội Công giáo do các Hội thừa sai nắm giữ trong những hoàn cảnh mới. Đức Giáo hoàng Piô XI khẳng định: “ […] người ngoài châu Âu sẽ không còn bị hạn chế trong các chức vụ tư tế, và trong một thời gian ngắn sắp tới, họ sẽ trở thành những Giám mục đứng đầu Giáo hội tại các quốc gia của họ”. [29] Tinh thần cải cách qua các văn kiện trên đây như một luồng khí mới, đang thổi ngang qua thế giới Công giáo, đặc biệt tại các xứ truyền giáo; Đó còn như là như sự thể hiện trước và như là nguồn cội tư tưởng và định chế của Công đồng Vatican II. Thật vậy, qua Hiến chế "Ad Gentes" Công đồng Vatican II đã xác quyết: “Xuất phát từ Lời Thiên Chúa, các Giáo hội địa phương phải được phát triển trong cả thế giới, tự mình thụ hưởng những tài năng riêng biệt và mức độ trưởng thành của mình, họ phải có phẩm trật riêng họp cùng dân tộc trung kiên của họ, phải có những phương tiện tương xứng với tài năng, và cần thiết cho việc khuếch trương một đời sống công giáo hoàn bị”. [30]
 
II. Bối cảnh chuẩn bị gần
 
Với định hướng ban đầu, với những chỉ thị, tiếng nói can thiệp mạnh mẽ về mặt lý thuyết qua các văn kiện, lúc này đây, trong hoàn cảnh hiện tại, Tòa thánh nhận thấy cần có những hoạt động cụ thể để thực hiện công cuộc cải cách Giáo hội tại các xứ truyền giáo nhắm đến việc bổ nhiệm, trao quyền điều hành Giáo hội cho các Giám mục bản xứ và tiến tới việc thiết lập Hàng Giáo phẩm địa phương. Tại Việt Nam, bước đi đầu tiên của Tòa thánh là thiết lập Tòa Khâm sứ với vị đại diện thường trực của ĐGH và của Thánh Bộ truyền giáo, để giám sát và điều hành mọi hoạt động của Giáo hội theo định hướng chung.
 
1. Thiết lập Tòa Khâm sứ miền Đông Dương
 
            a/ Chuẩn bị cho việc thiết lập
 
Trong dòng lịch sử truyền giáo tại Việt Nam, đã vài lần Tòa thánh gởi các vị Khâm sai đi kinh lược tại Việt Nam để nắm bắt tình hình truyền giáo hoặc để giải quyết những khó khăn phát sinh trong công cuộc truyền giáo. [31] Ngày 7/5/1737, Tòa thánh đã bổ nhiệm Đức cha Le Beaume, Giám mục hiệu tòa Halicarnasse làm khâm sai, đi kinh lược Giáo phận Đàng Trong từ năm 1739-1740. [32] Ngày 26/11/ 1744, Đức Giáo hoàng Bênêdictô XIV chỉ định Đức cha Hilario Costa di  Jesu, [33] Gm Đại diện Tông tòa Đông Đàng Ngoài, đi kinh lược ở Giáo phận Đàng Trong, Cuộc kinh lý bắt đầu từ ngày 19/6/1747 đến 13/7/1747.
 
Năm 1922, Đức Piô XI đã chỉ định Đức cha Henry Lécroart, [34] làm Khâm sai đi kinh lược từ ngày 4/11/1922 đến 30/6/1923, để xem xét tình hình các giáo phận tại Đông Dương, đặc biệt về cách tổ chức và chương trình đào tạo tại các chủng viện, cách riêng tại Việt Nam. Đỉnh cao của chuyến kinh lý lần này là hai cuộc Hội nghị các Giám mục: Đàng Ngoài, tại Phát Diệm với sự hiện diện của mười một Giám mục, từ ngày 4 đến 9/2/1923 và ở Đàng Trong, tại Sài Gòn với sự hiện diện của bảy Giám mục vào ngày 20/6/1923 dưới sự chủ tọa của Đức Khâm sai Henry Lécroart. Những vấn đề lớn được đặt ra tại hai cuộc hội nghị, trong đó có đáng quan tâm là: [35] việc thiết lập Tòa Khâm sứ Miền Đông Dương; Thành lập Hội đồng Giám mục Đông Dương; Vấn đề đào tạo Hàng Giáo sĩ bản xứ và sự bình đẳng giữa các Giáo sĩ Âu-Á.
 
Cuộc kinh lý của Đức Khâm sai Henry Lécroart, với hai cuộc Hội nghị Giám mục, đã đem lại một số kết quả tốt đẹp cho Giáo hội Việt Nam. Đối với dự án thiết lập Tòa Khâm sứ tại Đông Dương, hầu hết các giám mục người phương Tây đã mạnh mẽ phản đối, nhưng có bốn vị tán thành và đề nghị: “vị khâm sứ phải là người Pháp” [36] . Về vấn đề bình đẳng Giáo sĩ, cuối cùng Hội nghị các Giám mục đã tuyên bố: “Không thể chấp nhận sự trổi vượt về chủng tộc giữa các Giáo sĩ. Phải có sự bình đẳng giữa các linh mục Tây phương và Bản xứ, bởi vì, khi lãnh nhận chức linh mục, không ai lãnh nhận nhiều hơn ai”. [37] Tuyên bố này chính là bước hiện thực hóa chỉ thị của Đức Piô XI qua Thông điệp Rerum Ecclesiae: “Quý chư huynh tuyệt đối không thể tiếp tục giam hãm các linh mục địa phương trong tình trạng như những thuộc cấp của mình, với những tác vụ thấp kém. Quả thật, các vị ấy có cùng một chức linh mục như tất cả Chư huynh và cùng tham dự vào sứ vụ tông đồ hoàn toàn giống như những giáo sĩ Âu châu khác” [38] ; Với khuynh hướng chuyển đổi Giáo hội Việt Nam từ một “Giáo hội truyền giáo” - có phần Tây hóa ngay cả tên gọi của các Giáo phận - sang một “Giáo hội có tính dân tộc”, Đức Khâm sai Henry Lécroart đã đề nghị Thánh Bộ Truyền giáo đổi tên các Giáo phận Đông dương theo tên của thành phố có Tòa Giám mục. Đề nghị này được tán thành và Thánh Bộ Truyền giáo, với sự chuẩn y của Đức Piô XI, đã ban hành Sắc lệnh đổi tên các Địa phận Miền Đông Dương [39] ngày 3/12/1924. Cũng vào dịp này, Hội đồng Giám mục Đông Dương được thành lập.
 
            b/ Thiết lập Tòa Khâm sứ
 
Với các hoạt động của Đức Khâm sai Henry Lécroart cùng với sự vận động của một số nhân vật có thế giá trong Giáo hội Việt Nam, chẳng hạn, vai trò quan trọng của Quan Thượng thư Nguyễn Hữu Bài, một tín hữu Công giáo nhiệt thành, [40] ngày 20/5/1925, Đức Piô XI, “vị Giáo hoàng của các xứ truyền giáo”, đã ban hành Tông sắc Ex Officio Supremo, công bố việc thiết lập Tòa Khâm sứ Đông Dương (Delegatio Apostolica Indosinensis), trụ sở đặt tại Việt Nam bao gồm các vùng đất: Việt Nam, Campuchia, Lào, Thái Lan và Chủng viện Pénang ở Malaisia. Ngày 25/5/1925, Đức Piô XI bổ nhiệm Đức Tổng Giám mục Celse Constatino Ayuti làm Khâm sứ thường trực đầu tiên của Tòa thánh tại Việt Nam. Tính từ thời điểm năm 1925 đến 1975, đã có chín vị Khâm sứ của Tòa thánh làm việc tại Việt Nam, mỗi vị có một sứ mạng đặc biệt tùy từng giai đoạn lịch sử của Giáo hội và xã hội Việt Nam. [41] Khi mới đến Việt Nam, Đức Khâm sứ Ayuti đặt văn phòng làm việc tại Hà Nội, nhưng với tác động và sự giúp đỡ của ông Nguyễn Hữu Bài, Tòa Khâm sứ đầu tiên được xây dựng tại Phủ Cam, bên cạnh triều đình Huế vào năm 1925. Năm 1951, Tòa Khâm sứ di dời ra Hà Nội và năm 1959, đặt tại Sài Gòn. [42] Vai trò của các vị Khâm sứ rất quan trọng, đã góp phần rất lớn cho việc phát triển của Giáo hội Việt Nam, cho việc xây dựng Hàng Giáo sĩ vững mạnh, việc tấn phong Giám mục Việt Nam và cho việc thiết lập HGPVN.
           
2. Các Giám mục Việt Nam tiên khởi [43]
 
Với chủ trương chung của Tòa thánh cho các xứ truyền giáo, những cuộc tấn phong giám mục cho Hàng giáo sĩ bản xứ được thực hiện. Ngày 28/10/1926, sáu giám mục thế hệ đầu tiên của Giáo hội Trung quốc được Đức Piô XI tấn phong tại Rôma.[44] Tại Việt Nam, với hoạt động của các Khâm sứ, lần lượt các giám mục Việt Nam được tấn phong: Đức cha Gioan Baotixita Nguyễn Bá Tòng (1933), Đức cha Đaminh Hồ Ngọc Cẩn (1935), Đức cha Phêrô Ngô Đình Thục (1938), Đức cha Gioan Phan Đình Phùng [45] (1940), Đức cha Tađêô Lê Hữu Từ (1945). Từ năm 1933, với Đức cha Gioan Baotixita Nguyễn Bá Tòng, Tòa thánh đã từng bước chuẩn bị nhân sự giám mục bản xứ đủ cho việc điều hành Giáo hội Việt Nam. Tính đến thời điểm năm 1959, Giáo hội Việt Nam đã có 13 Giám mục bản xứ và trong số 17 Giáo phận Việt Nam lúc bấy giờ, có 10 Giáo phận được cai quản bởi các Giám mục Việt Nam: Đc. Gioan Baotixita Nguyễn Bá Tòng (qua đời) – Đc Đa Minh Hồ Ngọc Cẩn (qua đời) – Đc. Phêrô Ngô Đình Thục – Đc.Gioan Phan Đình Phùng (qua đời) – Đc. Tađêô Lê Hữu Từ – Đc. Đa Minh Hoàng Văn Đoàn – Đc. Phêrô Phạm Ngọc Chi – Đc. Giuse maria Trịnh Như Khuê – Đc. Giuse Trương Cao Đại – Đc. Gioan Bt. Trần Hữu Đức – Đc. Phêrô Khuất Văn Tạo – Đc. Simon Hòa Nguyễn Văn Hiền – Đc. Phaolô Nguyễn Văn Bình. Vào thời điểm này, Đc. Phêrô Ngô Đình Thục đã được bầu làm niên trưởng Giám mục. Năm 1960, khi thiết lập Hàng Giáo phẩm, trong số 20 giáo phận Việt Nam, 18 Giáo phận được trao quyền điều hành cho các Giám mục Việt Nam. [46]     
 
3. Bước tiến quan trọng cho việc thiết lập Hàng Giáo phẩm
 
Cho đến thời điểm này, nhờ vào công lao của các Thừa sai, sự quan tâm đặc biệt của Tòa thánh, Giáo hội Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ và trở thành “con đầu lòng của Giáo hội tại Đông Dương” như lời Đức Piô XI trong cuộc tiếp kiến sau Đại lễ tấn phong Giám mục cho Đức cha G.B Nguyễn Bá Tòng tại Roma ngày 11/6/1933. Khởi đi từ năm 1933 này, nhiều Giáo phận tại Việt nam được thành lập và được trao quyền điều hành cho các Giám mục Việt Nam; Tòa Khâm sứ miền Đông dương đặt trụ sở tại Việt Nam; nhiều hoạt động lớn được tổ chức như Công đồng miền Đông dương được tổ chức tại Hà Nội năm 1934. [47] Đặc biệt, một sự kiện lớn đánh dấu cho sự trưởng thành đủ của Giáo hội Việt Nam, cách riêng của Hàng Giáo sĩ và Hàng Giáo phẩm Việt Nam, để như “dấu ấn” Tòa thánh sử dụng, đóng xác nhận vào Tông sắc thành lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam, đó là sự kiện Đại Hội Thánh Mẫu năm 1959 tại Sài Gòn. [48]
 
Năm 1959, vào dịp bế mạc Năm Thánh Mẫu quốc tế, kỷ niệm Bách chu niên Đức Mẹ hiện ra tại Lộ Đức (1858-1958) và mừng 300 năm thành lập Giáo hội Việt Nam, các giám mục quyết định tổ chức Đại hội Thánh Mẫu toàn quốc từ ngày 15/2 đến 18/2/1959. Đây là sự kiện mang tầm mức quan trọng đặc biệt đối với Giáo hội Việt Nam, cách riêng cho việc thành lập Hàng Giáo Phẩm.
 
Đại hội là sự thể hiện những nổ lực, sự chủ động của các Giám mục, Linh mục và Giáo dân Việt Nam trong việc tổ chức. Tất cả công việc tổ chức và điều hành Đại hội đều do các Giám mục, Linh mục và Giáo dân Việt Nam đảm trách. Thành phần ban tổ chức Đại Hội với hai Đức cha Việt Nam đồng Chủ tịch là: Đc. Simon Hòa Nguyễn Văn Hiền, Gia1m mục Sài Gòn và Đc Tađêô Lê Hữu Từ, Giám mục Phát Diệm, Giám đốc Trung tâm Công giáo. Các Phó chủ tịch gồm: Đc Giuse Trương Cao Đại – cha Giuse Phạm Văn Thiên, cha sở Nhà thờ Chánh tòa – ông Nguyễn Văn Huyền, Chủ tịch Công Giáo Tiến hành Việt Nam – Ông Mai Văn Hàm, Phó chủ tịch Công giáo Tiến hành Việt Nam. Ngoài hai Tiểu ban có một số thành viên là Giám mục như Ban bảo trợ và ban Cố vấn. Các ban khác đều do Linh mục và Giáo dân Việt Nam điều hành.
 
Ngay cả Thánh lễ khai mạc Đại hội lúc 17h00 ngày 15/2/1959 do Đức cha Simon Hòa Nguyễn Văn Hiền chủ sự. Tất cả những diễn văn chào mừng Đức Hồng Y Đặc sứ Agagianian cũng do Đức cha Simon Hiền và cha Giuse Nguyễn Văn Thiên đại diện phát biểu.
 
Đại Hội Thánh Mẫu diễn ra thật long trọng từ Chúa nhật 15/2/1959 đến thứ tư 18/2/1959 với sự chủ tọa của Đức Hồng Đặc sứ Gregorio Pietro Agagianian, thay mặt cho Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII. Khách mời quốc tế tham dự Đại hội với 20 Giám chức gồm: các Đức Tổng Giám mục, Giám mục, các Đức ông thuộc các Giáo hội bạn và các Vị Khâm sứ tại Á đông. [49]Qua diễn tiến của Đại Hội, qua những cuộc thăm viếng của mục vụ tại Sài Gòn và tại các Giáo phận, Đức Hồng Y đặc sứ đã chứng kiến một sức sống mãnh liệt trong lòng Giáo hội Việt Nam. Qua những thông điệp, những diễn văn phát biểu trong Đại hội và qua những điện văn báo cáo về Tòa thánh và những bức điện tín sau khi đã rời Việt Nam về lại Roma, Đức Hồng y Agagianian đã hết lời khen ngợi Giáo hội Việt Nam, khen ngợi Hàng Giáo sĩ, đặc biệt các Giám mục Việt Nam. Cũng cần nói thêm rằng, khi đến Việt Nam chủ tọa Đại Hội Thánh Mẫu năm 1959, Đức Hồng y Gregorio Pietro Agagianian đang là Quyền Bộ trưởng Thánh bộ truyền giáo. Năm 1960, khi thành lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam, ngài đã được Đức Gioan XXIII bổ nhiệm làm Bộ trưởng Bộ Truyền giáo. Do đó, cùng với ĐGH Gioan XXIII, Đức Hồng y Agagianian đóng một vai trò quan trọng trong việc thiết lập Hàng giáo phẩm Việt Nam và dĩ nhiên, chuyến kinh lý của ngài qua dịp Đại hội Thánh Mẫu năm 1959 để lại trong ký ức ngài những dư âm và nét đẹp về một Giáo hội trưởng thành, tràn đầy sức sống, để với sự kiện thiết lập Hàng Giáo phẩm, Tòa thánh như đóng ấn xác nhận và đưa Giáo hội Việt Nam bước một giai đoạn mới: giai đoạn trưởng thành qua dòng lịch sử của Giáo hội Việt Nam.
 
C. Thiết lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam
 
Với diễn tiến lịch sử vừa được trình bày, điều kiện cần và đủ cho việc thiết lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam được minh định. Thời gian đã chín mùi, qua Tông sắc Venerabilium Nostrorum, [50] ngày 24/11/1960, Đức Giáo hoàng Gioan XXIII đã quyết định thành lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam. Tông sắc Venerabilium Nostrorum là tiếng nói quyết định của Tòa thánh, công nhận sự tăng trưởng và lớn mạnh của Giáo Hội tại Việt Nam. Từ con số khoảng 200.000 tín hữu khi Giáo hội Việt Nam được thành lập năm 1659, đến năm 1960, khi Tòa thánh thiết lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam, số các tín hữu đã lên đến 2.096.540. Từ 2 Giáo phận Đàng Trong và Đàng Ngoài vào năm 1659, đến khi thành lập Hàng Giáo phẩm, Giáo hội Việt Nam đã có 17 Giáo phận Tông tòa và dịp này, qua Tông Sắc Venerabilium Nostrorum, Tòa thánh đã thành lập 3 Giáo phận mới: Đà Lạt, Mỹ Tho và Long Xuyên, Giáo hội Việt Nam lúc bấy giờ đã có 20 Giáo phận Chính tòa, trong đó 18 Giáo phận được trao cho các Giám mục Việt Nam, được tổ chức thành ba Tổng Giáo Phận:
 
- Hà Nội với 10 giáo phận: Hà Nội, Lạng Sơn, Hải Phòng, Bắc Ninh, Hưng Hóa, Thái Bình, Bùi Chu, Phát Diệm, Thanh Hóa, Vinh.
- Huế với 4 giáo phận: Huế, Quy Nhơn, Nha Trang, Kon Tum.
- Sài Gòn gồm 6 giáo phận: Sài Gòn, Vĩnh Long, Cần Thơ, Đà Lạt, Mỹ Tho, Long Xuyên.
 
Sau khi đón nhận tin vui từ Đức Giáo hoàng Gioan XXIII và Tòa Thánh, niềm vui nhanh chóng lan tỏa trong toàn Giáo hội ViệtNam và trong tâm hồn các tín hữu. Nhiều cuộc lễ liên tiếp diễn ra: Thánh lễ Tạ ơn được cử hành trọng thể tại Nhà thờ Chánh tòa Sài Gòn ngày 18/12/1960 do đức Khâm sứ Mario Brini chủ tọa, Đại lễ tấn phong Giám mục ngày 22/1/1961 cho bốn Đức cha: Antôn Nguyễn Văn Thiện, Gm. Vĩnh Long; Micae Nguyễn Khắc Ngữ, Gm. Long Xuyên; Giuse Trần Văn Thiện, Gm Mỹ Tho; Philipphê Nguyễn Kim Điền, Gm. Cần Thơ. Ngày 2/4/1961, nhằm lễ Phục sinh, Đc. Phaolô Nguyễn Văn Bình nhận chức Tổng Giám mục Sài Gòn tại Nhà thờ Chánh tòa. Tiếp đến, ngày 12/4/1961, Đc. Phêrô Ngô Đình Thục nhận chức Tổng Giám mục Huế tại Nhà thờ Chánh tòa Phủ Cam. Và nhiều cuộc đại lễ khác tiếp diễn trong lòng Giáo hội Việt Nam trong những thời gian này.    
 
Thay lời kết
 
Chúng ta đang sống trong Năm Thánh 2010. Nhìn lại diễn tiến của sự kiện thành lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam cho thấy những thăng trầm, khó khăn, đôi khi rất phức tạp và tế nhị. Theo dòng thời gian, phải mất 400 năm, kể từ khi Hạt giống Tin mừng được gieo vào Đất Mẹ Việt Nam (1533-1933), Giáo hội chúng ta mới có được vị Giám mục người Việt đầu tiên là Đức cha G.B Nguyễn Bá Tòng. Và phải mất 300 năm, từ ngày được thành lập (1659-1960), Giáo hội Việt Nam mới được xem là thật sự bước vào tuổi trưởng thành và có thể tự chủ trong việc điều hành Giáo hội trên quê hương mình.
 
Cũng vì tiến trình lịch sử lâu dài và phức tạp như thế, sự kiện thành lập Hàng Giáo phẩm đem lại niềm vui trọng đại cho các Tín hữu Việt Nam. Với sự kiện này, Giáo hội Việt Nam bước vào tuổi trưởng thành và coi như được thành lập cách đầy đủ, trọn vẹn. Qua Tông thư Maximum Illud, đức Giáo hoàng Bênêdictô XV viết: “Làm sao một dân tộc có thể cảm nhận cách đầy đủ rằng, Giáo hội hoàn toàn thuộc về họ, chứ không phải là một tổ chức ngoại lai, nếu Giáo hội chỉ có thể điều khiển do một Hàng giáo phẩm bên ngoài vào? Hơn nữa, mục đích của công cuộc truyền giáo sẽ không đạt được, nếu không thiết lập Hàng Giáo phẩm địa phương”. [51] Trong Sứ điệp Đức Gioan-Phaolô II gởi các Giám mục Việt Nam, [52] ngày 24/11/1985, dịp mừng Ngân khánh kỷ niệm thành lập Hàng Giáo phẩm (1960-1985), ngài viết: “Quyết nghị thiết lập ba Giáo tỉnh: một ở miền Bắc, một ở miền Trung và một ở miền Nam với ba Tòa Tổng Giám Mục Hà nội, Huế và Sài Gòn, bao gồm 17 Giáo phận mới, quả là một dấu chỉ hiển nhiên nói lên niềm cảm quý mà Đức cố Giáo Hoàng Gioan XXIII ca ngợi lòng nhiệt thành và những đức tính đặc biệt của hàng Giám Mục và Giáo sĩ Việt Nam, cũng như nói lên sự xác tín của Ngài trước công lao mục vụ tại địa phương đã tới mức trưởng thành”.
 
Trong Sứ điệp ngày 14/1/1961, gởi Hàng Giáo phẩm Việt Nam, Đức Giáo hoàng Gioan XXIII viết: “Từ nay hầu hết các địa phận ở Việt Nam sẽ do các Giám mục bản quốc quản trị. Sự kiện đó minh chứng một cách hùng hồn sự ttưởng thành và khả năng của hàng giáo sĩ bản xứ nay đã đông đúc và được huấn luyện đầy đủ. Sự kiện đó còn minh chứng rằng: những Huấn dụ, những Chỉ thị do các Vị Giáo Hoàng La Mã ban bố qua các Thông điệp Truyền Giáo đã có hiệu quả dồi dào, và đã được khắp nơi tuân theo một cách trung thành; nhất là trong những năm gần đây, qua các thông điệp “Maximum illud” của Ðức Bênêdictô XV, “Rerum Ecclesiae” của đức Piô XI, “Evangelii Praecones” và “Fidei Donum” của Ðức Piô XII, và sau cùng Thông Ðiệp mới nhất “Princeps Pastorum” của Ta”. [53]
 
Nhìn lại lịch sử thành lập Hàng Giáo phẩm, chúng ta nhận ra dấu chỉ Hồng ân và tình thương của Thiên Chúa qua tác động của Chúa Thánh Thần, qua sự quan phòng kỳ diệu của Thiên Chúa xuyên suốt dòng lịch sử của Giáo hội Việt Nam. Từ những định hướng, những chỉ thị truyền giáo của Tòa thánh, chúng ta có thêm những chứng cứ lịch sử vững chắc để phủ quyết những quan niệm bảo thủ cho rằng: “Công giáo là tôn giáo của người ngoại quốc, người cải đạo sang Công giáo là người không còn trung thành với dân tộc của mình, là người phục tùng đòi hỏi và sự thống trị của quyền lực ngoại bang”, như ĐGH Bênêdictô XV đã nhắc đến trong Tông thư Maximum illud.
Mừng Năm Thánh 2010, nhìn lại quá khứ với biết bao ơn lành Chúa đã thương ban, chúng ta cùng hát bài ca tri ân: “Xin dâng lời cảm tạ, hồng ân Chúa bao la”.
 
Mừng sinh nhật thứ 100 Đức Tổng Phaolô Nguyễn văn Bình
Vị Tổng Giám Mục tiên khởi Tổng Giáo phận Sài Gòn
Sài Gòn, ngày 1/9/2010
Lm Phêrô Nguyễn Thanh Tùng
 
 
 

[1] “Hàng Giáo Phẩm Việt Nam”, xin được viết tắt: HGPVN.
[2] Thư Hội đồng Giám mục Việt Nam gửi Cộng đồng Dân Chúa công bố Năm Thánh 2010, số 1.
[3] Xem Lm Phêrô Nguyễn THANH TÙNG, Lịch sử thành lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam, Nxb Tôn Giáo, tháng 8.2010, tr 9-34.
[4] Xem Lịch sử thành lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam, Nxb Tôn Giáo, tháng 8.2010, tr 18-26.
[5] HĐGMVN, Ủy Ban Văn Hóa, “Hai Tổ phụ của Giáo hội Công giáo Việt Nam”, trong Dấu ấn 350 năm Giáo hội Công giáo Việt Nam, Nxb Phương đông, 2010, tr. 14-19.
[6] Xem Lịch sử thành lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam, Nxb Tôn Giáo, tháng 8.2010, tr 281-299.
[7] Sđd, tr 287.
[8] Additions aux Instruction là bản văn được Đc. Pallu viết tại Ispahan (Ba tư) trên đường đi đến Á Đông, được gởi cho các nhà truyền giáo tại Trung quốc, Đàng Trong và Đàng Ngoài để chỉ dẫn cho những cuộc hành trình truyền giáo, những vấn đề liên quan tại vùng đất truyền giáo, nhất là tại Đàng Ngoài. Tài liệu này hoàn tất ngày 10 tháng 9 năm 1662.
[9] Lettres de Monseigneur Pallu, écrites de 1654 à 1684, Les Indes Savantes, MEP, 2008, tr. 34.
[10] AMEP, vol. 204, tr. 435 ; vol. 274, tr. 56 ; Adrien LAUNAY, Histoire de la mission de Cochinchine, quyển. 1, tr. 229-230, “Sur la création d’évêques indigènes”.
[11] AMEP, vol. 130, tr. 293 ; vol. 102, tr. 147.
[12] AMEP, vol. 130, p. 285 ; vol. 249, trang 45, vol. 204, tr. 435 ; vol. 274, tr. 56; Adrien LAUNAY, Histoire de la mission du Tonkin, tr. 179 ; Adrien LAUNAY, Histoire de la mission de Cochinchine, quyển. 1, tr. 229-230.
[13] Alain FOREST, Les missionnaires français au Tonkin et au Siam, XVIIe-XVIIIe siècles, Quyển. 2, L'Harmattan, 1998 tr. 168. “..… des évêques titulaires d’un nouveau siège épiscopal local, responsables à part entière d’un nouveau diocèse, créé par Rome ; soit des Vicaires apostoliques, à l’égal des Vicaires apostoliques d’origine occidentale”.
[14] AMEP, vol. 204, tr. 641 ; vol. 276, tr. 388 ; Adrien LAUNAY, Histoire de la mission du Tonkin, tr. 453.
[15] Ngày 25-11-1679, Tòa thánh phân chia Giáo phận Đàng Ngoài thành hai Giáo phận: Tây Đàng Ngoài (Hà Nội) do Đc. Jacques de Bourgescai quản và Giáo phận Đông Đàng Ngoài (Hải Phòng) được trao cho Đc. François Deydier. Cả hai Đ.c De Boourges va Deydier đều là người Pháp, thuộc Hội Thừa sai Paris (MEP).
[16] Cũng trong thời gian này, Đc. Lo-Wan-tsao, vị Giám mục tiên khởi của Giáo hội Trung Hoa đã được tấn phong ngày 8/4/1685.
[17] AMEP, vol. 854, tr. 194 ; Adrien LAUNAY, Histoire de la mission du Tonkin, tr. 453 “Du projet de faire nommer évêque M. Joseph Phuoc. Rapport de Mgr Laneau sur le Collège de Siam”, bản văn La ngữ.
[18] André MARILLIER, Nos pères dans la foi, Notes sur le clergé catholique du Tonkin de 1666 à 1765, quyển 2, tr. 21-22.
[19] Xem Lịch sử thành lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam, Nxb Tôn Giáo, tháng 8.2010, tr 51-57.
[20] Huấn thị Neminem profecto, được dịch và đăng trong báo L’Ami de la religion et du roi, Paris, A. Le Clere, (Tờ báo đề cập đến những vấn đề về Giáo hội, về chính trị và văn chương, phát hành ba số trong một tuần), quyển 129, tháng 5-1846, tr. 301-307 và tr. 321-327.
[21] “Về việc truyền bá đức tin trong toàn thế giới”. Bản dịch Tông thư bằng tiếng Pháp được in trong: La Documentation Catholique, quyển 2, ngày 27/12/1919, tr. 802-807. Xem Repères pour la mission chrétienne, Cinq siècles de tradition missionnaire. Perspectives œcuméniques, Textes réunis et introduits par Klauspeter Blaser, Nxb. Cerf/Labor et fides, năm 2000, tr. 32-35.
[22] La Documentation Catholique, quyển 2, ngày 27-12-1919, tr. 804.
[23] Sđd, tr. 804.
[24] “Về Sứ mệnh của Giáo hội”. Thông điệp này được dịch sang tiếng Pháp và in trong: La Documentation Catholique, quyển 15, năm 1926, cột số 1411-1426.
[25] La Documentation Catholique, quyển 15, năm 1926, cột số 1418.
[26] La Documentation Catholique, quyển 15, năm 1926, cột số 1419-1420.
[27] La Documentation Catholique, quyển 15, năm 1926, cột số 1421.
[28] Ðức Piô XII, Thông Ðiệp Evangelii Praecones ngày 2-6-1951: AAS 43 - 1951 - 497-528.
[29] La Documentation Catholique, quyển 15, năm 1926, cột số 1421.
[30] Ad Gentes, số 6; Xem Sứ điệp của ĐGH Gioan-Phaolô II gởi Các Giám mục Việt Nam, dịp mừng Ngân khánh Thành lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam, ngày 24/11/1985.
[31] Xem Lịch sử thành lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam, Nxb Tôn Giáo, tháng 8.2010, tr 74-79.
[32] Xem Adrien LAUNAY, Histoire de la mission de Cochinchine, quyển. 2, tr. 45-46.
[33] Đức cha Costa là người Ý, thuộc dòng Augustinô. Năm 1730, ngài đã làm Khâm sứ kinh lược ở Đàng Ngoài, sau đó được bổ nhiệm làm Giám mục Đại diện Tông tòa Đông Đàng Ngoài (1636-1754)
[34] Đức cha Henry Lécroat sinh ngày 4-11-1864 tại Lille, nước Pháp. Thuộc dòng Tên, chịu chức linh mục ngày 28-8-1897. Là nhà truyền giáo tại Trung Hoa từ năm 1901. Ngày 30-7-1917 được bổ nhiệm làm Phó Giám Mục Đại Diện Tông Tòa, hiệu tòa Anchialus. Ngày 23-12-1919, kế vị Giám Mục Đại diện Tông Tòa Giáo phận Tcheli thuộc khu Đông Nam, tách lập từ Giáo phận Bắc Kinh, Trung Quốc. Ngài còn có tên Trung Hoa là Lưu Khánh Minh (Liu Qinming). Đức cha Henry Lécroat qua đời ngày 17-8-1939.
[35] Xem Biên bản cuộc họp các Giám mục Đàng Ngoài “Réunion des évêques du Groupe du Tonkin à Phát Diệm sous la présidence de Monseigneur Lécroart, visiteur Apostolique des missions d’Indochine” do vị thư ký cuộc họp, Đức cha André Eloy, tên Việt là Bắc, Giám mục Đại diện Tông tòa Giáo phận Vinh (1912-1946).
[36] Xem Biên bản cuộc họp các Giám mục Đàng Ngoài “Réunion des évêques du Groupe du Tonkin à Phát Diệm sous la présidence de Monseigneur Lécroart, visiteur Apostolique des missions d’Indochine” do vị thư ký cuộc họp, Đức cha André Eloy, tên Việt là Bắc, Giám mục Đại diện Tông tòa Giáo phận Vinh (1912-1946).
[37] Biên bản: “Réunion des évêques du Groupe du Tonkin à Phát Diệm sous la présidence de Monseigneur Lécroart, visiteur Apostolique des missions d’Indochine”.
[38] La Documentation Catholique, quyển 15, năm 1926, cột số 1421.
[39] Xem Lịch sử thành lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam, Nxb Tôn Giáo, tháng 8.2010, tr 79-80.
[40] Xem Lịch sử thành lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam, Nxb Tôn Giáo, tháng 8.2010, tr 86-88.
[41] Sđd, tr 89-113.
[42] Sđd, tr 83-88.
[43] Sđd, 113-151.
[44] Đây là thành quả hoạt động của Đức Celse Constatino Ayuti trong thời gian ngài làm Khâm sứ tại Trung quốc trước khi được bổ nhiệm làm Khâm sứ miền Đông dương tại Việt Nam.
[45] Đức cha Gioan Phan Đình Phùng qua đời ngày 28-5-1944.
[46] Giáo phận Nha Trang với Đức cha Marcel Piquet, tên Việt Nam là Lợi, qua đời ngày 11-7-1966 và Giáo phận Kontum với Đức cha Paul Léo Seitz, tên Việt là Nguyễn Thượng Kim, làm Giám mục Kontum ngày 19-6-1952, bị trục xuất khỏi Việt Nam ngày 15-8-1975.
[47] Xem Lịch sử thành lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam, Nxb Tôn Giáo, tháng 8.2010, tr 152-167.
[48] Xem Lịch sử thành lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam, Nxb Tôn Giáo, tháng 8.2010, tr 174-228.
[49] Hai mươi vị Giám chức gồm:
- 4 vị Philippines: Đức cha Ruffino Santos, Tổng Giám mục Giáo phận Manila – Đức cha Edigio Vagnozzi, người Ý, là Sứ thần Tòa thánh tại Philippines – Đức cha Alexandro Alalia, Giáo phận Lipa – Đức ông Thomas Q. Avenido, Tổng Đại diện giáo phận Dumaguete, đại diện cho Đức cha Epifanio Surban.
- 2 vị Malaysia: Đức cha Michel Olcomendy, người Pháp, Tổng Giám mục Giáo phận Malacca-Singapore – Đức cha Phanxico Chang, Giám mục Pénang.  - 2 vị Hàn quốc: Đức cha Phaolo Ro, Giám mục Giáo phận Colbasa – Đức cha Bartholomeo Kim, Giám mục Giáo phận Chonju.
- 2 vị Thái Lan: Đức cha Pierre Carreto, Giám mục Giáo phận Rajabury – Đức ông John Gordon, đại diện cho Đức Khâm sứ tại Thái Lan và Malaysia.
- 2 vị Lào: Đức cha Stephano Loosdregt, Giám mục giáo phận Vientiane – Đức cha Jean Arnaud, Giám mục Giáo phận Thakhek.
- 2 vị Indonesia: Đức cha Adriano Djajasepoetra, Giám mục giáo phận Jakarta và cha thư ký – Đức ông Gaetano Alibrandi, Sứ thần Tòa thánh tại Indonêsia.
- 1 vị Trung hoa: Đức cha Phaolo Yu-Pin, Cựu Tổng Giám mục Giáo phận Nam Kinh.
- 1 vị Pháp: Đức cha Jean Rupp, Giám mục phó Paris.
- 1 vị Campuchia: Đức cha Gustave Raballand, Giám mục giáo phận Nam Vang.
- 1 vị Hongkong: Đức cha Loresso Bianchi, Giám mục giáo phận Hongkong.
- 1 vị Macao: Đức cha Policarpo Da Costa Vaz, Giám mục giáo phận Macao và cha thư ký.
[50] Xem Lịch sử thành lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam, Nxb Tôn Giáo, tháng 8.2010, tr 237-242.
[51] Sylloge preacipiorum documentorum recentium Summorum Pontificum et S.C de Prop. Fide, Urbianiana I, Roma, Typis Polyglottis Valicanis 1939, tr. 118.
[52] Xem Lịch sử thành lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam, Nxb Tôn Giáo, tháng 8.2010, tr 271-274.
[53] Xem Lịch sử thành lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam, Nxb Tôn Giáo, tháng 8.2010, tr 261-266.

 

Top