Chúa nhật 3 Thường niên năm A (Mt 4,12-23)

Chúa nhật 3 Thường niên năm A (Mt 4,12-23)

Chúa nhật 3 Thường niên năm A (Mt 4,12-23)

Đức Giê-su đến ở Ca-phác-na-um,
để ứng nghiệm lời ngôn sứ I-sai-a.

Bài đọc 1: Is 8,23b - 9,3

Tại Ga-li-lê vùng đất của dân ngoại, dân đã thấy một ánh sáng huy hoàng.

Bài trích sách ngôn sứ I-sai-a.

8 23b Thời đầu, Chúa đã hạ nhục đất Dơ-vu-lun và đất Náp-ta-li, nhưng thời sau, Người sẽ làm vẻ vang cho con đường ra biển, miền bên kia sông Gio-đan, vùng đất của dân ngoại.

91Dân đang lần bước giữa tối tăm
đã thấy một ánh sáng huy hoàng;
đám người sống trong vùng bóng tối,
nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi.

2Chúa đã ban chứa chan niềm hoan hỷ,
đã tăng thêm nỗi vui mừng.
Họ mừng vui trước nhan Ngài
như thiên hạ mừng vui trong mùa gặt,
như người ta hỷ hoan khi chia nhau chiến lợi phẩm.

3Vì cái ách đè lên cổ dân, cây gậy đập xuống vai họ,
và ngọn roi của kẻ hà hiếp, Ngài đều bẻ gãy
như trong ngày chiến thắng quân Ma-đi-an.

 

Đáp ca: Tv 26,1.4.13-14 (Đ. c.1a)

Đ.Chúa là nguồn ánh sáng và ơn cứu độ của tôi.

1Chúa là nguồn ánh sáng và ơn cứu độ của tôi,
tôi còn sợ người nào?
Chúa là thành luỹ bảo vệ đời tôi,
tôi khiếp gì ai nữa?

Đ.Chúa là nguồn ánh sáng và ơn cứu độ của tôi.

4Một điều tôi kiếm tôi xin,
là luôn được ở trong đền Chúa tôi
mọi ngày trong suốt cuộc đời,
để chiêm ngưỡng Chúa tuyệt vời cao sang,
ngắm xem thánh điện huy hoàng.

Đ.Chúa là nguồn ánh sáng và ơn cứu độ của tôi.

13Tôi vững vàng tin tưởng
sẽ được thấy ân lộc Chúa ban trong cõi đất dành cho kẻ sống.
14Hãy cậy trông vào Chúa, mạnh bạo lên, can đảm lên nào!
Hãy cậy trông vào Chúa.

Đ.Chúa là nguồn ánh sáng và ơn cứu độ của tôi.

 

Bài đọc 2: 1 Cr 1,10-13.17

Tất cả anh em hãy nhất trí với nhau trong lời ăn tiếng nói.

Bài trích thư thứ nhất của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Cô-rin-tô.

10 Thưa anh em, nhân danh Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, tôi khuyên tất cả anh em hãy nhất trí với nhau trong lời ăn tiếng nói, và đừng để có sự chia rẽ giữa anh em, nhưng hãy sống hoà thuận, một lòng một ý với nhau. 11 Thật vậy, thưa anh em, người nhà của bà Khơ-lô-e cho tôi hay tin có chuyện bè phái giữa anh em. 12 Tôi muốn nói là trong anh em có những luận điệu như: “Tôi thuộc về ông Phao-lô, tôi thuộc về ông A-pô-lô, tôi thuộc về ông Kê-pha, tôi thuộc về Đức Ki-tô.” 13 Thế ra Đức Ki-tô đã bị chia năm xẻ bảy rồi ư? Có phải Phao-lô đã chịu đóng đinh vào khổ giá vì anh em chăng? Hay anh em đã chịu phép rửa nhân danh Phao-lô sao?

17 Quả vậy, Đức Ki-tô đã chẳng sai tôi đi làm phép rửa, nhưng sai tôi đi rao giảng Tin mừng, và rao giảng không phải bằng lời lẽ khôn khéo, để thập giá Đức Ki-tô khỏi trở nên vô hiệu.

 

Tin mừng: Mt 4,12-23 

12 Khi Đức Giê-su nghe tin ông Gio-an đã bị nộp, Người lánh qua miền Ga-li-lê.

13 Rồi Người bỏ Na-da-rét, đến ở Ca-phác-na-um, một thành ven biển hồ Ga-li-lê, thuộc địa hạt Dơ-vu-lun và Náp-ta-li, 14 để ứng nghiệm lời ngôn sứ I-sai-a đã nói: 15 Này đất Dơ-vu-lun, và đất Náp-ta-li, hỡi con đường ven biển, và vùng tả ngạn sông Gio-đan, hỡi Ga-li-lê, miền đất của dân ngoại!

16 Đoàn dân đang ngồi trong cảnh tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng, những kẻ đang ngồi trong vùng bóng tối của tử thần, nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi.

17 Từ lúc đó, Đức Giê-su bắt đầu rao giảng và nói rằng: “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần.”

18 Người đang đi dọc theo biển hồ Ga-li-lê, thì thấy hai anh em kia, là ông Si-môn, cũng gọi là Phê-rô, và người anh là ông An-rê, đang quăng chài xuống biển, vì các ông làm nghề đánh cá.

19 Người bảo các ông: “Các anh hãy đi theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá.”

20 Lập tức hai ông bỏ chài lưới mà theo Người.

21 Đi một quãng nữa, Người thấy hai anh em khác con ông Dê-bê-đê, là ông Gia-cô-bê và người em là ông Gio-an. Hai ông này đang cùng với cha là ông Dê-bê-đê vá lưới ở trong thuyền. Người gọi các ông.

22 Lập tức, các ông bỏ thuyền, bỏ cha lại mà theo Người.

23 Thế rồi Đức Giê-su đi khắp miền Ga-li-lê, giảng dạy trong các hội đường, rao giảng Tin mừng Nước Trời, và chữa hết mọi kẻ bệnh hoạn tật nguyền trong dân.

 

Giáo lý cho bài giảng Chúa nhật 3 Thường niên năm A

WHĐ (20/01/2026) - Để hỗ trợ các nhà giảng thuyết thuận tiện hơn trong việc thêm giáo lý vào bài giảng, Ban Biên tập xin được trích dẫn những điểm giáo lý phù hợp với các bài đọc Kinh Thánh của lễ Chúa nhật 3 Thường niên năm A theo sự theo hướng dẫn của Bộ Phụng tự và Kỷ luật các Bí tích.

Số 551, 765: Chọn Nhóm Mười Hai

Số 541-543: Triều Đại Thiên Chúa kêu gọi và quy tụ người Do Thái và Dân Ngoại

Số 813-822: Sự hợp nhất của Hội Thánh

Bài Ðọc I: Is 9, 1-4 (Hr 8, 23b - 9, 3)

Bài Ðọc II: 1 Cr 1, 10-13. 17

Phúc Âm: Mt 4, 12-23 (bài dài)

Hoặc đọc bài vắn này: Mt 4, 12-17

Số 551, 765: Chọn Nhóm Mười Hai

Số 551. Chúa Giêsu, khi khởi đầu đời sống công khai của Người, đã chọn Nhóm Mười Hai người đàn ông để các ông ở với Người và tham dự vào sứ vụ của Người[1]. Người cho các ông tham dự vào quyền hành của Người và “sai các ông đi rao giảng Nước Thiên Chúa và chữa lành bệnh nhân” (Lc 9,2). Các ông được liên kết vĩnh viễn với Nước của Đức Kitô, bởi vì Người sẽ dùng các ông mà điều khiển Hội Thánh:

“Thầy sẽ trao Vương Quốc cho anh em, như Cha Thầy đã trao cho Thầy, để anh em được đồng bàn ăn uống với Thầy trong Vương Quốc của Thầy, và ngự toà xét xử mười hai chi tộc Israel” (Lc 22,29-30).

Số 765. Chúa Giêsu đã thiết lập cho cộng đoàn của Người một cơ cấu tồn tại cho tới khi Nước Thiên Chúa được hoàn thành trọn vẹn. Trước hết, Người tuyển chọn nhóm Mười Hai với ông Phêrô làm thủ lãnh[2]. Những vị này, đại diện cho mười hai chi tộc Israel[3], là những tảng đá nền móng của Giêrusalem mới[4]. Nhóm Mười Hai[5] và các môn đệ khác[6] được tham dự vào sứ vụ của Đức Kitô, vào quyền năng của Người, và cả số phận của Người[7]. Bằng tất cả các hành động này, Đức Kitô chuẩn bị và xây dựng Hội Thánh của Người.

 Số 541-543: Triều Đại Thiên Chúa kêu gọi và quy tụ người Do Thái và Dân Ngoại

Số 541. “Sau khi ông Gioan bị nộp, Chúa Giêsu đến miền Galilêa, rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa. Người nói: ‘Thời kỳ đã mãn, và Triều đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng’” (Mc 1,14-15). “Để chu toàn thánh ý Chúa Cha, Đức Kitô đã khởi đầu Nước Trời nơi trần gian”[8]. Và thánh ý Chúa Cha là “nâng loài người lên, cho họ được dự phần vào sự sống của Thiên Chúa”[9]. Thiên Chúa thực hiện điều này bằng cách quy tụ người ta quanh Con của Ngài, là Chúa Giêsu Kitô. Cộng đồng được quy tụ này, chính là Hội Thánh, là “hạt giống và điểm khởi đầu của Nước Thiên Chúa” trên trần gian[10].

Số 542. Đức Kitô là trung tâm của cộng đồng nhân loại này trong “gia đình của Thiên Chúa”. Người triệu tập họ quanh Người bằng lời nói, bằng những dấu chỉ biểu lộ Nước Thiên Chúa, bằng việc sai phái các môn đệ của Người. Ngươi sẽ làm cho Nước Người đến, chủ yếu nhờ mầu nhiệm cao cả là cuộc Vượt Qua của Người, tức là cái Chết trên thập giá và sự Sống lại của Người. “Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi ngươi lên với tôi” (Ga 12,32). Mọi người đều được mời gọi tham dự vào sự kết hợp này với Đức Kitô[11].

Số 543. Mọi người đều được mời gọi gia nhập Nước Thiên Chúa. Nước này của Đấng Messia trước tiên được loan báo cho con cái Israel[12], nhưng hướng đến việc đón nhận mọi người thuộc mọi dân tộc[13]. Để vào Nước Thiên Chúa, cần phải đón nhận lời của Chúa Giêsu:

“Lời Chúa được ví như hạt giống gieo trong ruộng: ai nghe Lời Chúa với đức tin và gia nhập đàn chiên nhỏ của Đức Kitô, thì đã đón nhận chính Nước Người; rồi do sức của nó, hạt giống nẩy mầm và lớn lên cho tới mùa gặt”[14].

 Số 813-822: Sự hợp nhất của Hội Thánh

Số 813. Hội Thánh là duy nhất vì nguồn mạch của mình: “Khuôn mẫu mực tối cao và nguyên lý của mầu nhiệm này, là sự hợp nhất trong Ba Ngôi của Thiên Chúa duy nhất là Chúa Cha và Chúa Con trong Chúa Thánh Thần”[15]. Hội Thánh là duy nhất vì Đấng Sáng Lập của mình: “Quả thật, chính Chúa Con nhập thể … đã nhờ cây thập giá của mình mà giao hoà mọi người với Thiên Chúa … tái lập sự hợp nhất mọi người trong một dân tộc và một thân thể”[16]. Hội Thánh là duy nhất vì “linh hồn” của mình: “Chúa Thánh Thần, Đấng ngự trong các tín hữu, đầy tràn và điều khiển toàn Hội Thánh, làm cho các tín hữu hiệp thông với nhau cách kỳ diệu và kết hợp tất cả trong Đức Kitô cách rất mật thiết, cho nên Ngài là nguyên lý của sự hợp nhất của Hội Thánh”[17]. Vì vậy, theo bản chất, Hội Thánh là duy nhất:

“Ôi mầu nhiệm lạ lùng thay! Có Chúa Cha duy nhất của vũ trụ, có Ngôi Lời duy nhất của vũ trụ, và Chúa Thánh Thần duy nhất, và chính Ngài ở khắp nơi. Cũng có một người Mẹ Đồng Trinh duy nhất; mà tôi thích gọi người mẹ đó là Hội Thánh”[18].

Số 814. Tuy nhiên, ngay từ khởi đầu, Hội Thánh duy nhất đó cho thấy mình rất đa dạng, điều này vừa xuất phát từ những hồng ân khác nhau của Thiên Chúa đồng thời vừa từ vô số những người lãnh nhận các hồng ân đó. Những đa dạng của các dân tộc và các nền văn hoá được quy tụ thành sự duy nhất của dân Thiên Chúa. Giữa các phần tử của Hội Thánh có sự đa dạng về các hồng ân, các chức năng, các hoàn cảnh và các cách sống; “trong sự hiệp thông của Hội Thánh, có sự hiện diện cách chính đáng của các Giáo Hội địa phương với những truyền thống riêng”[19]. Những phong phú lớn lao của sự đa dạng này không nghịch lại tính duy nhất của Hội Thánh. Tuy nhiên tội lỗi và những hậu quả nặng nề của nó không ngừng đe doạ hồng ân là sự duy nhất. Vì vậy thánh Tông Đồ đã khuyên phải duy trì “sự hợp nhất mà Thần Khí đem lại, bằng cách ăn ở thuận hoà gắn bó với nhau” (Ep 4,3).

Số 815. Những mối dây của sự duy nhất này là gì? Trên hết mọi sự, đó là đức mến, là “mối dây liên kết tuyệt hảo” (Cl 3,l4). Nhưng sự duy nhất của Hội Thánh lữ hành cũng được nâng đỡ bằng những mối dây hiệp thông hữu hình:

– Nhờ việc tuyên xưng một đức tin duy nhất đã tiếp nhận từ các Tông Đồ;

– Nhờ sự cử hành chung việc phượng tự thần linh, nhất là các bí tích;

– Nhờ sự kế nhiệm tông truyền qua bí tích Truyền Chức Thánh, điều này duy trì sự hòa hợp huynh đệ của gia đình Thiên Chúa[20].

Số 816. “Đây là Hội Thánh duy nhất của Đức Kitô, … mà Đấng Cứu Độ chúng ta, sau khi Người phục sinh, đã trao cho ông Phêrô chăn dắt, và truyền cho ông và các tông đồ khác phải truyền bá và cai quản…. Được thiết lập trên trần gian như một xã hội có phẩm trật, Hội Thánh ấy tồn tại trong (subsistit in) Hội Thánh Công giáo, do Vị kế nhiệm thánh Phêrô và các Giám mục hiệp thông với ngài điều khiển”[21].

Sắc lệnh về Đại Kết (de Oecumenismo) của Công đồng Vaticanô II giải thích: “Quả vậy, nhờ Hội Thánh duy nhất công giáo của Đức Kitô, là sự trợ giúp thông thường của ơn cứu độ, người ta có thể đạt được cách viên mãn các phương tiện cứu độ. Thật sự, chúng tôi tin, Chúa đã ủy thác tất cả sản nghiệp Tân Ước cho riêng Tông Đồ Đoàn do thánh Phêrô lãnh đạo, để tạo thành một Thân Thể duy nhất của Đức Kitô nơi trần thế; tất cả những ai thuộc về dân Thiên Chúa một cách nào đó, đều phải được tháp nhập một cách đầy đủ vào Thân Thể này”[22].

Những vết thương của sự duy nhất

Số 817. Thật ra, “trong Hội Thánh duy nhất và độc nhất này của Thiên Chúa, ngay từ buổi sơ khai, đã xuất hiện một số rạn nứt mà thánh Tông Đồ đã nặng lời khiển trách là đáng lên án. Trong những thế kỷ sau đó, còn phát sinh những xung đột trầm trọng hơn và những cộng đoàn không nhỏ đã tách biệt khỏi sự hiệp thông đầy đủ với Hội Thánh Công giáo, có khi không phải không do lỗi của những người ở cả hai bên[23]. Những sự đoạn tuyệt, làm tổn thương sự duy nhất của Thân Thể Đức Kitô (được phân biệt là lạc giáo, bội giáo và ly giáo)[24], đã xảy ra do tội lỗi của con người:

“Ở đâu có tội lỗi, ở đó có lộn xộn, ly giáo, lạc giáo, và xung đột; còn ở đâu có nhân đức, ở đó có sự duy nhất, sự kết hợp, nhờ đó tất cả các tín hữu chỉ có một trái tim, và một linh hồn”[25].

Số 818. Ngày nay những người sinh ra trong các cộng đoàn phát sinh từ những cuộc ly khai ấy “và đang sống đức tin vào Đức Kitô, không thể bị tố cáo về tội chia rẽ, và Hội Thánh Công giáo quý mến họ với lòng tôn trọng và yêu thương huynh đệ…. Được công chính hóa bởi đức tin trong bí tích Rửa Tội, họ được tháp nhập vào Đức Kitô, và vì vậy họ có quyền mang danh Kitô hữu, và xứng đáng được con cái của Hội Thánh Công giáo nhìn nhận là anh em trong Chúa”[26].

Số 819. Hơn nữa, “nhiều yếu tố của sự thánh hóa và của chân lý”[27] hiện hữu bên ngoài những giới hạn hữu hình của Hội Thánh Công giáo: “Lời Chúa bằng văn tự, đời sống trong ân sủng, đức tin, đức cậy, đức mến, và những hồng ân nội tâm khác của Chúa Thánh Thần cùng những yếu tố hữu hình”[28]. Thần Khí của Đức Kitô dùng những Giáo Hội và những cộng đoàn giáo hội đó như những phương tiện cứu độ, sức mạnh của những phương tiện này xuất phát từ sự sung mãn của ân sủng và của chân lý mà Đức Kitô đã giao phó cho Hội Thánh Công giáo. Tất cả những điều thiện hảo đó đều xuất phát từ Đức Kitô và dẫn đến Người[29], và tự chúng là lời kêu gọi tiến đến “sự hợp nhất phổ quát”[30].

Trên đường tiến đến hợp nhất

Số 820. “Đức Kitô từ ban đầu đã rộng ban cho Hội Thánh ơn hợp nhất. Chúng tôi tin rằng sự hợp nhất ấy tồn tại mãi trong Hội Thánh Công Giáo và chúng tôi hy vọng sự hợp nhất ngày càng phát triển cho đến ngày tận thế”[31]. Đức Kitô vẫn luôn luôn ban cho Hội Thánh ơn hợp nhất, nhưng Hội Thánh phải luôn luôn cầu nguyện và hành động để duy trì, tăng cường và hoàn chỉnh sự hợp nhất như Đức Kitô muốn. Vì thế, chính Chúa Giêsu cầu nguyện trong giờ khổ nạn và không ngừng cầu xin Chúa Cha cho các môn đệ được hợp nhất: “Để tất cả nên một, như Cha ở trong Con và Con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta. Như vậy, thế gian sẽ tin rằng Cha đã sai Con” (Ga l7,2l). Lòng ao ước lập lại sự hợp nhất của tất cả các Kitô hữu là một hồng ân của Đức Kitô và một lời kêu gọi của Chúa Thánh Thần[32].

Số 821. Để đáp lại lời kêu gọi hợp nhất của Chúa Thánh Thần, Hội Thánh cần:

– canh tân thường xuyên để ngày càng trung thành hơn với ơn gọi của mình; sự canh tân này là động lực của phong trào hợp nhất[33].

– hối cải tận đáy lòng “để sống phù hợp hơn với Tin Mừng”[34], vì chính sự bất trung với ân sủng của Đức Kitô là nguyên nhân gây chia rẽ giữa các chi thể;

– cầu nguyện chung, vì “sự hối cải tận đáy lòng và sự thánh thiện trong đời sống, cùng với những lời kinh chung và riêng cầu cho sự hợp nhất các Kitô hữu, phải được coi như là linh hồn của mọi phong trào đại kết và có thể xứng đáng được mệnh danh là sự đại kết trong tinh thần”[35];

– hiểu biết nhau trong tình huynh đệ[36];

– đào tạo tinh thần đại kết cho các tín hữu và nhất là cho các linh mục[37];

– đối thoại giữa các nhà thần học và gặp gỡ giữa các Kitô hữu của các Giáo Hội và các cộng đoàn khác nhau[38];

– hợp tác giữa các Kitô hữu trong các lãnh vực khác nhau để phục vụ con người[39].

Số 822. “Toàn thể Hội Thánh, tín hữu cũng như mục tử, đều có bổn phận quan tâm đến việc tái lập sự hợp nhất”[40]. Nhưng cũng cần ý thức rằng “ý nguyện thánh thiện muốn giao hoà toàn thể Kitô hữu trong sự hợp nhất của Hội Thánh duy nhất và độc nhất của Đức Kitô, vượt quá sức lực và khả năng loài người”. Vì thế, chúng ta đặt hết hy vọng “vào lời Đức Kitô cầu nguyện cho Hội Thánh, vào tình thương của Chúa Cha đối với chúng ta và vào quyền năng của Chúa Thánh Thần”[41].

 

Huấn dụ của các Đức Giáo Hoàng

Dưới đây là những bài giảng và huấn dụ của các Đức giáo hoàng trong các thánh lễ và các buổi đọc kinh Truyền tin với các tín hữu vào Chúa nhật 3 Thường niên năm A.

Đức Phanxicô, Bài giảng Chúa nhật 3 Thường niên năm A (22/01/2023) - Lời Chúa dành cho mọi người

Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 3 Thường niên năm A (22/01/2023) - Thời điểm của cuộc gặp gỡ quyết định

Đức Phanxicô, Bài giảng Chúa nhật 3 Thường niên năm A (26/01/2020) - Cách thế, nơi chốn và đối tượng của lời rao giảng của Chúa Giêsu

Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 3 Thường niên năm A (26/01/2020) - Chúng ta tin tưởng vào Lời Chúa Kitô

Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 3 Thường niên năm A (22/01/2017) - Hãy ra vùng ngoại vi

Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 3 Thường niên năm A (26/01/2014) - Các miền Galilea thời nay

Đức Bênêđictô XVI, Huấn dụ Chúa nhật 3 Thường niên năm A (23/01/2011) - Cầu nguyện hiệp nhất

Đức Bênêđictô XVI, Huấn dụ Chúa nhật 3 Thường niên năm A (27/01/2008) - Tin mừng Nước Thiên Chúa

 

Suy niệm (TGM Giuse Nguyễn Năng)

Suy niệm: Ðức Giêsu đến loan báo Tin Mừng cứu độ. Ngài kêu gọi con người canh tân để được đón nhận vào triều đại nước Thiên Chúa.

Trong chương trình của Thiên Chúa: Mọi người đều được hưởng ơn cứu độ. Vì thế các tông đồ, những người kế vị được kêu gọi để cùng với Ðức Giêsu đem Tin Mừng cho toàn thế giới.

Là người Kitô hữu, tôi cũng được tuyển chọn để thi hành sứ vụ này. Tôi đã làm gì để đóng góp vào chương trình của Chúa?

Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu, Chúa muốn các tông đồ cộng tác với Chúa trong sứ mệnh loan báo Tin Mừng. Ngày nay Chúa cũng muốn nơi mỗi Kitô hữu chúng con. Xin cho chúng con có tâm hồn quảng đại, mau mắn đáp lại lời mời gọi của Chúa. Xin cho chúng con biết sống một đời Kitô hữu tốt: tốt đạo, đẹp đời. Cách sống gương mẫu của chúng con là một lời loan báo sống động cho Tin Mừng cứu độ. Amen.

Ghi nhớ: “Người vào Capharnaum để ứng nghiệm lời tiên tri Isaia đã tiên báo”.

 

Suy niệm (Lm Ignatio Hồ Văn Xuân)

CHIA SẺ LỜI CHÚA

Bài Tin Mừng hôm nay kể lại cho chúng ta những bước đầu trong sứ vụ của Đức Giê-su với việc gọi bốn môn đệ đầu tiên. Sứ vụ này được Đức Giê-su thực hiện tại vùng đất dân ngoại như ngôn sứ I-sai-a đã tiên báo. Bài đọc 2 nói với chúng ta về các Tông Đồ một cách khá đặc biệt, khiến chúng ta hiểu rằng các ngài chỉ là những khí cụ của Đức Giê-su và không hề mong muốn bất cứ một vinh dự nào cả.

* Bài Tin Mừng cho ta biết khi nghe tin ông Gio-an Tẩy Giả đã bị nộp, Người lánh qua miền Ga-li-lê, một vùng đất bị cô lập, nơi đó Người có thể sống bình an. Miền đất này bị người Do-thái, những người thuộc chi tộc Giu-đa xem thường, coi khinh. Miền này được gọi là “Ga-li-lê của các quốc gia”. Đối với người Do-thái, chỉ có một từ duy nhất để chỉ các quốc gia và dân ngoại. Do đó, chúng ta cũng có thể gọi là “Ga-li-lê của dân ngoại”. Cư dân thuộc nhiều nguồn gốc khác nhau và bị người Do-thái khinh bỉ. Vì thế việc làm của Đức Giê-su thật ý nghĩa khi Người khởi đầu sứ vụ tại miền đất bị khinh dể này. Một điểm nhấn như thế sẽ luôn được tìm thấy trong toàn bộ sứ vụ của Người. Đức Giê-su luôn đi đến với những người bé mọn nhất, những người khiêm tốn nhất, những người nghèo khổ nhất. Thánh Mát-thêu nhấn mạnh đến lúc khởi đầu sứ vụ của Đức Giê-su là ứng nghiệm lời ngôn sứ I-sai-a : tác giả Tin Mừng xác nhận Ca-phác-na-um thuộc địa hạt Dơ-vu-lun và Náp-ta-li như ngôn sứ I-sai-a đã nói trong bài đọc 1 : “Này đất Dơ-vu-lun và Náp-ta-li, hỡi con đường ven biển, và vùng tả ngạn sông Gio-đan, hỡi Ga-li-lê, miền đất của dân ngoại.” “Đoàn dân đang ngồi trong cảnh tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng.” Bản văn này của ngôn sứ I-sai-a được sử dụng vào lễ Đêm Giáng Sinh, vì ngay sau những câu này, bản văn nói đến việc chào đời của một trẻ thơ. Tuy nhiên, phần đầu của lời sấm này áp dụng hoàn toàn cho sứ vụ của Đức Giê-su vì chính Người là ánh sáng huy hoàng, như Người đã nói : “Tôi là ánh sáng thế gian” (Ga 8,12). Ngay từ khi bắt đầu rao giảng, Người tỏ ra mình là ánh sáng này.

Đức Giê-su bắt đầu rao giảng bằng những lời sau đây : “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần.” Lời mời gọi sám hối này dựa trên một Tin Mừng “Nước Trời đã đến gần”. Lúc đó người Do-thái đang mong đợi Nước Trời, nghĩa là sự hiện diện của triều đại Thiên Chúa trên mặt đất và làm thay đổi bộ mặt thế giới, thiết lập trên đó công lý, bình an, tình yêu và niềm vui. Đức Giê-su xác nhận Nước Trời đã đến gần, nhưng Người thêm để vào được Nước Trời, người ta phải sám hối, vì Nước Trời không phải là một thực thể chính trị, mà là một vương quốc được thiết lập trong tâm hồn nhờ sám hối. Chúng ta phải xa lánh sự dữ và gắn bó với tình yêu theo ý của Thiên Chúa.

* Sau đó, tác giả Tin Mừng kể cho chúng ta về việc Chúa gọi bốn môn đệ đầu tiên, đó là các ông Si-môn, An-rê, Gia-cô-bê và Gio-an. Điều có ý nghĩa là ngay từ đầu sứ vụ, Đức Giê-su đã gọi vài người để liên kết với họ. Đức Giê-su không phải là một con người cô độc, làm việc một mình, không có ai cộng tác. Quả thật, Người có thể hành động một mình vì Người là Con Một duy nhất : Con Thiên Chúa làm người. Ngay từ đầu, Người muốn gọi các Tông Đồ để liên kết các ông vào công trình cứu độ của Người. Như vậy, Đức Giê-su nối kết hai chiều kích của tình yêu : Người phải chứng tỏ tình yêu đối với Cha trên trời khi rao giảng Nước Trời và tình yêu đối với những người anh em của mình, vì Người liên kết họ vào những công trình của Người.

* Những người được gọi đầu tiên chỉ là những người chài lưới đang thả lưới xuống biển. Đức Giê-su bảo các ông : “Các anh hãy đi theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá.” Người nói lên ý định của Người là tạo ra một công việc hoàn toàn khác : các ông không lưới cá nữa mà là lưới người, để giải thoát họ khỏi sự dữ và cho họ một cuộc sống xứng đáng là con Thiên Chúa. “Si-môn và An-rê lập tức bỏ chài lưới mà đi theo Người.” Quyền năng của Đức Giê-su thật phi thường. Hai ông hiểu ngay Đức Giê-su là Thầy, là Chúa, là Đấng Cứu Độ, nên không ngần ngại đi theo Người ngay. Cũng vậy, Chúa gọi hai ông Gia-cô-bê và Gio-an khi các ông đang vá lưới trong thuyền. Các ông cũng bỏ thuyền và cha của mình mà đi theo Người. Ở đây chúng ta có những gương mẫu tuyệt vời về việc mau mắn đáp lại lời mời gọi của Chúa. Ngày hôm nay, điều rất quan trọng là có nhiều người nam cũng như nữ, trẻ trung cũng mau chóng đáp lại tiếng gọi của Đức Giê-su và dấn thân theo Người. Chúng ta có cảm tưởng là ơn gọi hiện nay đang thiếu ở khắp nơi trên thế giới. Tuy nhiên, trong thực tế, Chúa vẫn tiếp tục mời gọi nhiều người bước theo Chúa trong cuộc sống tu trì, nhưng vấn đề là việc đáp lại lời mời gọi đó không còn như trước đây do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan. Dù vậy vẫn có những người đã bỏ tất cả mọi sự mà theo Chúa. Vì thế, việc cầu nguyện cho ơn thiên triệu linh mục và tu sĩ vẫn là việc cần phải làm hằng ngày.

Bài đọc 2 nhấn mạnh đến một khía cạnh quan trọng khác của đời sống dấn thân theo Chúa. Các Tông Đồ chỉ là những khí cụ của Chúa. Các ngài hành động là tuân theo thánh ý Chúa, vì thế không bao giờ được phép cho mình là người quan trọng. Thánh Phao-lô nói điều này vì ngài biết trong giáo đoàn Cô-rin-tô có những bất hoà, chia rẽ giữa các tín hữu trong việc đề cao thần tượng của mình. “Người thì nói : ‘Tôi thuộc về ông Phao-lô’, kẻ khác lại nói : ‘Tôi thuộc về ông A-pô-lô.’” Ông A-pô-lô không phải là một Tông Đồ nhưng là một môn đệ có tài hùng biện, am hiểu sâu sắc Kinh Thánh và rất có uy tín trong cộng đoàn. Kẻ khác nữa lại nói : “Tôi thuộc về ông Kê-pha”, tên Đức Giê-su đã đặt cho ông Phê-rô theo ngôn ngữ A-ram, nghĩa là “tảng đá”.

* Các tín hữu Cô-rin-tô chia rẽ với nhau vì họ gắn bó với các Tông Đồ khác nhau. Thánh Phao-lô phản ứng gay gắt về tình trạng chia rẽ này. Ngài hỏi : “Thế ra Đức Ki-tô đã bị chia năm xẻ bảy rồi ư, có phải Phao-lô đã chịu đóng đinh vào thập giá vì anh em chăng ? Hay anh em đã chịu phép rửa nhân danh Phao-lô sao ?” Rõ ràng là chỉ một mình Đức Ki-tô đã chịu đóng đinh vì tất cả mọi người và phép rửa được ban nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, chứ không phải nhân danh ông Phê-rô hay ông Phao-lô. Chúng ta cần nhớ rằng các thừa tác viên của Chúa chỉ có một tầm quan trọng tương đối thôi. Đây là Thầy, là Chúa duy nhất, chính là Đức Ki-tô. Công cuộc loan báo Tin Mừng là công việc của Chúa và các Tông Đồ chỉ là những khí cụ Chúa dùng để thực hiện kế hoạch cứu độ của Người, và phải luôn liên kết chặt chẽ với Đức Ki-tô, và không bao giờ coi mình là tác giả của công trình cứu độ. Nếu các ông làm khác đi, các ông không còn là Tông Đồ của Chúa nữa. Vì thế, chúng ta hãy vui mừng khi biết rằng Đức Ki-tô vẫn tiếp tục công cuộc cứu độ của Người qua các Tông Đồ, các giám mục và linh mục. Chúng ta chỉ gắn bó với một mình Chúa chứ đừng gán cho vị này vị kia một tầm quan trọng quá đặc biệt, vì các ngài chỉ là khí cụ Chúa dùng mà thôi.

Cầu nguyện :

Lạy Chúa Giê-su, xin dạy chúng con luôn nhớ rằng sám hối là việc chúng con phải làm thường xuyên suốt cả cuộc đời, vì mang lấy thân phận tội lỗi con cháu A-đam, chúng con rất dễ phạm tội, dễ phản bội tình yêu Chúa dành cho chúng con.

Tự vấn :

Trong đời sống đức tin thường ngày, giữa những người có cùng một niềm tin, có cùng một Cha chung trên trời, chúng ta có sống hoà thuận, thương yêu nhau và nâng đỡ nhau không, hay là bất hoà, chia rẽ, ghen ghét, đố kỵ ?

C. BÀI ĐỌC THÊM

1. Bình minh của hy vọng
(Mgr. L. Daloz, “Le Règne de cieux s’est approché”).

Đức Giê-su vào cuộc có nghĩa là ánh sáng đến với nhân loại. Trích dẫn I-sai-a không đơn thuần đem lại một chỉ dẫn về địa lý. Đó là một biểu tượng : là lối thoát của dân tộc Do-thái, sinh ở Bê-lem, vì là dòng dõi vua Đa-vít, trở thành người Ga-li-lê ở Na-da-rét, Đức Giê-su đến đó trước các dân tộc. Tức thì sứ mạng của Người mang lấy tầm vóc phổ quát. Tự bản thân chúng ta cũng phải cúi chào tia sáng đầu tiên này loé lên soi cho các dân đang sống trong bóng tối : Đức Giê-su đến gặp gỡ ta, đó là khởi đầu ơn cứu độ của ta, là bình minh của niềm hy vọng. Ta có thể chiêm ngưỡng vẻ đẹp của ánh bình minh này với lòng biết ơn, rồi làm sống lại trong ta cảm giác kỳ diệu khi ta khám phá ra Đức Ki-tô, ánh sáng bừng lên soi chiếu vào mắt ta. Vâng, đối với ta vì cả mọi dân tộc, ánh sáng chính là Lời nói lạ lùng mà Tin Mừng không cho ta biết đối tượng : Từ lúc đó, Đức Giê-su bắt đầu rao giảng và nói rằng : “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần.” Lời của Đức Giê-su trên vũ trụ, vượt qua những biên cương của vùng đất hứa cho dân của Giao ước cũ, biến cả thế giới thành vùng đất hứa của Nước Trời. Những nỗ lực và toan tính của các vị truyền giáo đều phát xuất từ một lời duy nhất này. Bây giờ đến phiên chúng ta phải chuyển tải chứng từ Tin Mừng, tạo âm vang cho lời kêu gọi đầu tiên của Đức Giê-su khi Người đứng trước miền Ga-li-lê của các dân tộc, trên bờ sông thế giới.

2. Cuộc phiêu lưu vĩ đại khởi đi từ một vùng đất bị khinh khi
(F. Deleclos, Prends et mange la Parole Centurion).

Đối với dân thủ đô, Ga-li-lê chỉ là tỉnh lẻ. Đối với người mộ đạo sùng tín, miền Bắc thật đáng ngờ vực. Đó là miền hầu như thuộc ngoại bang, nơi hội tụ dân ngoại. Một dân cư pha tạp, nông dân và ngư dân có giọng nói nặng chịch vốn là đề tài phong phú cho các câu chuyện giễu cợt hằng ngày …

Trong khi những tín đồ chính thống ở kinh đô nghiền ngẫm sự khinh khi, chiêm ngưỡng sự siêu việt của mình, chế giễu và tránh xa những người bị loại trừ ở phía Bắc, thì Đức Mê-si-a – Cứu Chúa, ánh sáng muôn dân, “tới cư ngụ tại Ca-phác-na-um, bên bờ hồ”. Xa khỏi kinh đô vĩnh hằng, khỏi thói ngạo mạn, tự tôn, và sự mù quáng của họ.

Gio-an Tiền Hô, vị ngôn sứ của lòng thống hối, đã trở thành kẻ sách nhiễu, gây rối. Ông bị chém đầu. Từ đó, Tin Mừng bị nghi ngờ và sứ giả Tin Mừng bị theo dõi gắt gao … Nhưng Đức Giê-su đã gặp những tâm hồn cởi mở đón tiếp nơi những người hiếu động và bé nhỏ nhất của dân Người.

Chính trên bờ hồ chứ không phải trên các bậc cấp của đền thờ, giữa đám ngư phủ bận rộn công việc chứ không phải nơi những vị tư tế chuyên lo phụng tự mà Đức Giê-su sẽ chọn các môn đệ của Người. Đúng là một nước cờ ngược lại mọi lô-gích.

Chính những người ít khả năng nhất, ít được chuẩn bị nhất lại là những người đầu tiên nhận được ánh sáng và đi theo Đấng là “Đường, là Sự Thật và là Sự Sống”.

Ngay tức khắc, thành phần lao động đơn sơ chất phác nhưng có trái tim nhạy bén đã tin tưởng vào ngôn sứ, người rao giảng chẳng có danh nghĩa chính thức, người chạy trốn chính quyền hợp pháp câu nệ thói tục và lối giải thích của họ. Những người tội lỗi bỗng nhiên bị chất vấn, đã cảm thấy ánh sáng mà ngay những kẻ rắc rối khó tính nhất cũng phải nhượng bộ … và họ đã đi theo Người.

Cuộc phiêu lưu vĩ đại đã khởi đi từ một miền đất bị nguyền rủa. Thế giới đổi mới đã ăn rễ sâu vào vùng đất nhơ uế, nhưng cởi mở đón tiếp mọi bất ngờ của Thánh Thần, của Thiên Chúa …

Hôm nay cũng thế, Đấng Phục Sinh vẫn tiếp tục sứ mạng của Người không theo cách người ta nghĩ. Người tỏ mình ra, dạy dỗ, và kêu gọi không theo những chuẩn mực hay lý luận của người phàm chúng ta. Không khác gì vào thời của Đền Thờ, Đức Giê-su không chịu giam mình trong các truyền thống nhân loại, trong các tính toán của các chuyên gia, trong phán quyết của các quyền lực. Người không bị giam hãm trong Giáo Hội của Người, Giáo Hội đang bị chia rẽ, nơi người thì tự cho mình là thuộc phe các ông Phao-lô và Gia-cô-bê, An-rê, Mát-thêu như thể Đức Ki-tô đã bị chia cắt và như thể là giáo huấn của Người không quan trọng bằng giáo huấn của môn đệ Người ! Trong khi con cái trong nhà cãi cọ, xâu xé thân thể mầu nhiệm Đức Ki-tô và đóng đinh Người, Người trốn chạy đến nơi “hội tụ dân ngoại” và tìm được sự tiếp đón nồng hậu, tìm được môn đệ trong đám người bị khai trừ và những người sống ngoài lề xã hội.

 

Suy niệm (Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu SJ) 

Khi Gioan bị bắt, Ðức Giêsu đã lánh qua Galilê. 
Galilê là vùng ven, ít nguy hiểm cho Ngài. 
Dân cư ở đây phần đông là dân ngoại. 
Người Do thái ở đây bị coi là những kẻ sống bên lề Dân Chúa. 
Nhưng Galilê lại là nguyên quán của Ngôi Lời làm người, 
và là nơi Ðức Giêsu chọn để bắt đầu thi hành sứ vụ. 
Từ Galilê, Ngài sẽ sai môn đệ đi khắp thế gian (Mt 28,19). 
Ðức Giêsu rời bỏ Nadarét, để đến cư ngụ tại Caphácnaum. 
Caphácnaum là địa bàn hoạt động được Ngài ưa thích. 
Có lúc nó được gọi là thành của Ngài (9,1), dù bất xứng (11,23). 
Galilê, Nadarét, Caphácnaum chẳng có chút tiếng tăm (Ga 1,46), 
nhưng Ðức Giêsu vẫn là một ngôn sứ xuất thân từ đó (Mt 21,11). 


Hãy ngắm nhìn Ðức Giêsu trên những nẻo đường. 
Ngài rút về Galilê, Ngài đến Caphácnaum, đi dọc theo bờ biển. 
Khắp miền Galilê in dấu chân của Ngài (Mt 4,23), 
Ngài không vào hoang địa như Gioan, rồi gọi người ta đến. 
Ngài đích thân đến với con người ngay giữa đời thường. 
Ngài cứ đi không nghỉ, không đóng đô ở một chỗ. 
Nhu cầu quá lớn không cho phép Ngài dừng lại (Mc 1,38). 
Ðức Giêsu chuyển động và kéo người ta theo Ngài. 
Những người đầu tiên là các ngư phủ mà Ngài quen biết. 
Tuy là những người ít học, không giàu có hay địa vị, 
nhưng đối với Ngài, họ có đủ tố chất cần thiết 
để trở nên những cộng sự viên của Ngài. 
Sự kiên trì khi thả lưới giúp họ biết nhẫn nại chờ đợi. 
Sự hòa đồng giúp họ chấp nhận nhau và làm việc chung. 
Sự can đảm trước sóng gió giúp họ đối diện với nghịch cảnh. 
Khả năng nhận ra khi nào và chỗ nào nên thả lưới 
sẽ giúp họ khám phá những vùng truyền giáo màu mỡ. 


“Các anh hãy theo Tôi”: một lời mời gọi lên đường. 
Hãy gắn bó với Tôi và chia sẻ thao thức của Tôi. 
Ðể lên đường cần bỏ lại cái êm ấm được phép, 
êm ấm bên gia đình, bên vợ con như Phêrô, 
êm ấm bên khoang thuyền, cạnh người cha đang vá lưới. 
Theo Chúa là chấp nhận ra khơi 
hay đúng hơn là chấp nhận lên bờ, 
bóc mình ra khỏi khung cảnh sống quen thuộc. 
Chấp nhận bấp bênh, không nhà cửa, không nghề nghiệp, 
để có thể đi đến mọi nhà, gặp mọi người, 
và tận tụy cho sứ mệnh loan báo Nước Thiên Chúa. 


Ðức Giêsu đã đi rao giảng Tin Mừng về Nước Trời gần bên. 
Ðể đón lấy quà tặng đó, cần sám hối, hoán cải. 
Hoán cải là để Ngài kéo vào một chuyển động, 
là quay lại, là bỏ con đường mình đã quen từ lâu, 
để đi cùng chiều với Chúa và ngược chiều với cái tôi ích kỷ. 
Ðức Giêsu gieo rắc niềm vui khắp nơi. 
Niềm vui cho người nghe, niềm vui cho người khỏi bệnh. 
Bước chân không mỏi, lời nói thiết tha, trái tim gần gũi… 
Hôm nay Hội Thánh vẫn sống giữa những Galilê dân ngoại. 
Chúng ta có đủ niềm vui để làm Galilê bừng sáng không?

 

Cầu Nguyện

Lạy Chúa Giêsu, 
các sách Tin Mừng chẳng khi nào nói Chúa cười, 
nhưng chúng con tin Chúa vẫn cười 
khi thấy các trẻ em quấn quýt bên Chúa. 
Chúa vẫn cười khi hồn nhiên ăn uống với các tội nhân. 
Chúa đã cố giấu nụ cười trước hai môn đệ Emmau 
khi Chúa giả vờ muốn đi xa hơn nữa. 
Nụ cười của Chúa đi đôi với Tin Mừng Chúa giảng. 
Nụ cười ấy hòa với niềm vui 
của người được lành bệnh. 
Lạy Chúa Giêsu, 
có những niềm vui 
Chúa muốn trao cho chúng con hôm nay, 
có sự bình an sâu lắng Chúa muốn để lại. 
Xin dạy chúng con biết tươi cười, 
cả khi cuộc đời chẳng mỉm cười với chúng con. 
Xin cho chúng con biết mến yêu cuộc sống, 
dù không phải tất cả đều màu hồng. 
Chúng con luôn có lý do để lo âu và chán nản, 
nhưng xin đừng để nụ cười tắt trên môi chúng con. 
Ước gì chúng con cảm thấy hạnh phúc, 
vì biết mình được Thiên Chúa yêu thương 
và được sai đi thông truyền tình thương ấy. Amen.

 

Suy niệm (Lm. Nguyễn Vinh Sơn, SCJ.)

Câu chuyện

Từ ngày 15/1/2011, toàn thể cộng đoàn Dòng Lm Thánh Tâm chúng tôi đến Manila, Phi Luật Tân để tham dự và chia sẻ niềm vui với hai người anh em Gioan Baotixita và Giuse lãnh tác vụ Lm vào sáng 19 tháng 1. Thánh chức được trao ban cho thầy qua sự đặt tay của Đức Cha Antonio Tobias giám mục địa phận Novaliches. Ngỏ lời trước thánh lễ, Đức Giám mục gợi mở về ý nghĩa của việc phong chức: Chúng ta thánh hiến các người anh em để phục vụ Thiên Chúa và Giáo hội…

Khi cha bề trên gọi tên tân chức, các thầy sốt sắng thưa có mặt như là lời đáp trả tiếng gọi của Thiên Chúa trong sứ mạng mới: Thiên chức người môn đệ Lm Chúa Kitô. Các tân chức đáp trả lời mời gọi, gợi trong tôi hình ảnh tiếng mời gọi của Chúa Giêsu đến với các môn đệ...

Suy niệm

Đức Kitô là hiện thân của ánh sáng tình yêu Thiên Chúa đến với thế gian như Giacria tóm gọn bằng lời tiên tri:

Thiên Chúa ta đầy lòng trắc ẩn
Cho Vầng Đông từ chốn cao vời đến viếng thăm ta
(Lc 1, 78).

Chúa Kitô, Đấng mang và ban ánh sáng cứu độ, Ngài gọi các môn đệ “Các anh hãy theo Thầy” (Mt 4, 19) một lời mời gọi lên đường. Hãy gắn bó với Thầy và chia sẻ thao thức của Thầy: Lên đường cùng Thầy chung tay gánh vác sứ vụ mang ánh sáng tình yêu cứu độ.

Lời mời gọi đến với Anrê và Simon, “Lập tức hai ông bỏ chài lưới mà đi theo Người” (Mt 4, 20). Với Giacôbê và Gioan: “Người gọi các ông, lập tức các ông bỏ thuyền, bỏ cha lại mà theo Người” (Mt 4, 22).

Thật thế, người theo Chúa bỏ lại cái an toàn êm ấm bên gia đình, bên vợ con như Phêrô, êm ấm bên nghề nghiệp trong khoang thuyền, cạnh người cha đang vá lưới như Giacôbê và Gioan, chấp nhận ra khơi, là chấp nhận dấn thân bóc mình ra khỏi khung cảnh sống quen thuộc. Chấp nhận bấp bênh, không nhà cửa, không nghề nghiệp…

Các môn đệ không sợ hãi như Phaolô cảm nghiệm: “Tôi có thể làm được tất cả nhờ Đấng ban sức mạnh cho tôi” (Pl 4, 13), vì “đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được” (Lc 1, 37), các ông đã trở nên những tông đồ can đảm, luôn luôn mạnh dạn làm chứng cho Đức Giêsu, không chút sợ hãi (x. Cv 4, 29.31; 9, 27-28; 18, 26; 19, 8; 28, 31). Vì Chúa Giêsu đã khẳng định các ông trở thành “ngư phủ bắt người”, nghĩa là chứng nhân can đảm không mệt mỏi rao giảng tình yêu và nước Trời – Vương quốc tràn ngập ánh sáng.

Trong cuộc sống hằng ngày, Thiên Chúa vẫn gọi tôi và bạn trở nên môn đệ, bạn hữu trong bất cứ vị trí nào của cuộc sống: Người Lm, tu sĩ qua ơn gọi thánh hiến cho sứ mạng. Là bạn hữu và là người môn đệ, chúng ta đem ánh sáng Tin Mừng cho anh chị em. Là người tín hữu Chúa Kitô trong bí tích Thanh tẩy, chúng ta được trao một ngọn nến cháy sáng, ánh sáng đó trong thời gian trở nên sáng rực trong tinh thần nghe tiếng gọi và từ bỏ bước theo…

“Hãy theo Thầy”, Chúa vẫn luôn nói với tôi với bạn suốt đời, theo Chúa là được triển nở trong tự do yêu mến như lời mời gọi: “Hãy lưu lại trong tình yêu của Thầy”, lưu lại trong tình yêu trong thái độ từ bỏ mọi sự theo Ngài. Thái độ đó trở thành thước đo tình yêu của người môn sinh đối với Thiên Chúa mà chính chúng ta nghiệm được trong sự gắn bó ơn gọi theo Thầy.

Thật thế, đời người Kitô hữu là một cuộc lắng nghe không ngừng những tiếng gọi mời của Thiên Chúa. Nghe, theo, gắn bó và yêu khi thực hiện ý Chúa tỏ lộ qua từng ngày, từng biến cố của đời mình, đó cũng là sứ vụ cùng Thầy mang và gieo ánh sáng trên khắp nẻo đường trần gian.

Ý lực sống

“Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em,
và cắt cử anh em để anh em ra đi,
sinh được hoa trái và hoa trái anh em tồn tại” (Ga 15, 16).

Top