Chúa nhật 11 Thường niên năm A (Mt 9,36-10,8)

Bài Ðọc I: Xh 19, 2-6a

"Ðối với Ta, các ngươi sẽ là một vương quốc tư tế, một dân tộc hiến thánh".

Trích sách Xuất Hành.

Trong những ngày ấy, con cái Israel đi đến hoang địa Sinai, và đóng trại ở đó. Israel cũng dựng nhà xếp trên triền núi. Còn Môsê thì lên cùng Thiên Chúa. Từ trên núi, Chúa gọi ông và bảo: "Ngươi hãy nói với nhà Giacóp và thông báo cho con cái Israel thế này: Chính các ngươi đã thấy những gì Ta làm cho người Ai-cập. Ta đã mang các ngươi trên cánh phượng hoàng và đem các ngươi đến với Ta. Từ nay, nếu các ngươi nghe lời Ta và giữ giao ước Ta, thì các ngươi sẽ là sở hữu của Ta được tách biệt khỏi mọi dân, vì cả trái đất là của Ta. Ðối với Ta, các ngươi sẽ là một vương quốc tư tế, một dân tộc hiến thánh".

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 99, 2. 3. 5

Ðáp: Ta là dân tộc, là đoàn chiên Chúa chăn nuôi (c. 3c).

Xướng: 1) Hãy phụng sự Chúa với niềm vui vẻ, hãy vào trước thiên nhan với lòng hân hoan khoái trá.

Ðáp: Ta là dân tộc, là đoàn chiên Chúa chăn nuôi (c. 3c).

2) Hãy biết rằng Chúa là Thiên Chúa, chính Người đã tạo tác thân ta, và ta thuộc quyền sở hữu của Người; ta là dân tộc, là đoàn chiên Chúa chăn nuôi.

Ðáp: Ta là dân tộc, là đoàn chiên Chúa chăn nuôi (c. 3c).

3) Vì chưng Chúa thiện hảo, lòng từ bi Người tồn tại muôn đời, và lòng trung tín còn tới muôn muôn thế hệ.

Ðáp: Ta là dân tộc, là đoàn chiên Chúa chăn nuôi (c. 3c).

 

Bài Ðọc II: Rm 5, 6-11

"Nếu chúng ta được giao hoà cùng Thiên Chúa nhờ cái chết của Con Ngài, ắt chúng ta sẽ được cứu độ trong sự sống của Ngài".

Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Rôma.

Anh em thân mến, Chúa Kitô theo kỳ hẹn đã chịu chết vì chúng ta là kẻ tội lỗi. Ít có ai chết thay người công chính, hoạ chăng có những người dám chết vì kẻ lành. Nhưng Thiên Chúa chứng tỏ tình yêu của Người đối với chúng ta, nghĩa là trong lúc chúng ta còn là tội nhân, thì theo kỳ hẹn, Chúa Kitô đã chết vì chúng ta. Vậy phương chi bây giờ, chúng ta đã nên công chính trong máu của Người, và nhờ Người chúng ta sẽ được cứu khỏi cơn thịnh nộ. Bởi chưng, nếu khi chúng ta còn là thù nghịch, mà chúng ta đã được giao hoà cùng Thiên Chúa nhờ cái chết của Con Ngài, thì huống chi khi đã được giao hoà, ắt chúng ta sẽ được cứu độ trong sự sống của chính Chúa Kitô, và không những thế, chúng ta còn được vinh hiển trong Thiên Chúa nhờ Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, nhờ Người mà bây giờ chúng ta được lãnh ơn giao hoà.

Ðó là lời Chúa.

 

Alleluia: Ga 6, 64b và 69b

Alleluia, alleluia! - Lạy Chúa, lời của Chúa là thần trí và là sự sống; Chúa có những lời ban sự sống đời đời. - Alleluia.

 

Tin mừng: Mt 9, 36 - 10, 8

"Sau khi triệu tập mười hai môn đệ, Người sai các ông đi".

Khi ấy, Chúa Giêsu thấy đoàn lũ dân chúng, liền động lòng xót thương họ: vì họ tất tưởi bơ vơ như những con chiên không có người chăn, Người liền bảo môn đệ rằng: “Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt thì ít. Các con hãy xin chủ ruộng sai thợ đi gặt lúa”.

Và Người liền triệu tập mười hai môn đệ, ban cho họ quyền năng trên các thần ô uế, để họ xua đuổi chúng, và chữa lành mọi bệnh hoạn tật nguyền.

Ðây là tên của mười hai tông đồ: trước hết là Simon cũng gọi là Phêrô, rồi đến Anrê em ông; Giacôbê con của Giêbêđê và Gioan em ông; Philipphê và Bartôlômêô; Tôma và Matthêu người thu thuế; Giacôbê con của Alphê và Tađêô; Simon người Cananêô và Giuđa Iscariốt, kẻ nộp Người.

Chúa Giêsu sai mười hai ông này đi và truyền lệnh cho các ông rằng: “Các con đừng đi về phía dân ngoại, và đừng vào thành các người Samaritanô. Nhưng tốt hơn, các con hãy đi đến cùng chiên lạc của nhà Israel trước đã, và rao giảng rằng: “Nước Trời đã đến gần”. Hãy chữa lành người liệt, phục sinh kẻ chết, chữa lành người phung, và xua trừ ma quỷ. Các con đã lãnh nhận nhưng không, thì hãy cho nhưng không”

Giáo lý cho bài giảng lễ Chúa nhật 11 Thường niên năm A

Để hỗ trợ các nhà giảng thuyết thuận tiện hơn trong việc thêm giáo lý vào bài giảng, Ban Biên tập xin được trích dẫn những điểm giáo lý phù hợp với các bài đọc Kinh Thánh của lễ Chúa nhật 11 Thường niên năm A theo hướng dẫn của Bộ Phụng tự và Kỷ luật các Bí tích.

Số 551, 761-766: Hội Thánh được tiên báo trước trong cộng đoàn Cựu Ước

Số 783-786: Hội Thánh là dân tư tế, tiên tri và vương đế

Số 849-865: Sứ vụ tông đồ của Hội Thánh

Số 551, 761-766: Hội Thánh được tiên báo trước trong cộng đoàn Cựu Ước

Số 551. Chúa Giêsu, khi khởi đầu đời sống công khai của Người, đã chọn Nhóm Mười Hai người đàn ông để các ông ở với Người và tham dự vào sứ vụ của Người[1]. Người cho các ông tham dự vào quyền hành của Người và “sai các ông đi rao giảng Nước Thiên Chúa và chữa lành bệnh nhân” (Lc 9,2). Các ông được liên kết vĩnh viễn với Nước của Đức Kitô, bởi vì Người sẽ dùng các ông mà điều khiển Hội Thánh:

“Thầy sẽ trao Vương Quốc cho anh em, như Cha Thầy đã trao cho Thầy, để anh em được đồng bàn ăn uống với Thầy trong Vương Quốc của Thầy, và ngự toà xét xử mười hai chi tộc Israel” (Lc 22,29-30).

Hội Thánh được chuẩn bị trong Giao Ước Cũ

Số 761. Việc tập họp dân Thiên Chúa bắt đầu ngay từ lúc tội lỗi phá hủy sự hiệp thông giữa con người với Thiên Chúa và giữa con người với nhau. Việc tập họp Hội Thánh là như sự phản ứng của Thiên Chúa trước cảnh hỗn độn do tội lỗi gây ra. Công cuộc tái hợp âm thầm này được thực hiện giữa lòng tất cả các dân tộc: “Hễ ai kính sợ Thiên Chúa và ăn ngay ở lành, thì dù thuộc bất cứ dân tộc nào, cũng đều được Ngài tiếp nhận” (Cv 10,35)[2].

Số 762. Việc chuẩn bị xa cho cuộc tập họp dân Thiên Chúa bắt đầu bằng ơn gọi của ông Abraham, Thiên Chúa hứa cho ông trở thành cha tương lai của một dân tộc vĩ đại[3]. Việc chuẩn bị gần bắt đầu bằng việc tuyển chọn Israel làm dân Thiên Chúa[4]. Nhờ việc được tuyển chọn, Israel phải là dấu chỉ cuộc tập họp trong tương lai gồm tất cả các dân tộc[5]. Nhưng các Tiên tri tố cáo Israel đã phản bội Giao ước và đã hành xử như một gái điếm[6]. Các ngài loan báo một Giao Ước mới và vĩnh cửu[7]. “Giao ước mới này, chính Đức Kitô đã thiết lập”[8].

Hội Thánh được Đức Kitô thiết lập

Số 763. Chúa Con là Đấng thực hiện kế hoạch cứu độ của Chúa Cha vào lúc thời gian đến hồi viên mãn: đó là lý do Người được sai đến[9]. “Chúa Giêsu đã khởi đầu Hội Thánh của Người bằng việc rao giảng Tin Mừng, nghĩa là rao giảng Nước Thiên Chúa ngự đến, Nước đã được hứa trong Thánh Kinh từ nhiều thế kỷ[10]. Để chu toàn ý Chúa Cha, Đức Kitô đã khai mạc Nước Trời nơi trần thế. Hội Thánh là Nước của Đức Kitô đã hiện diện trong mầu nhiệm[11].

Số 764. “Quả thật, Nước Thiên Chúa sáng tỏ trước mặt mọi người trong lời nói, hành động và sự hiện diện của Đức Kitô”[12]. Ai đón nhận lời của Chúa Giêsu là đón nhận “chính Nước Thiên Chúa”[13]. Mầm mống và điểm khởi đầu của Nước Thiên Chúa là “một đoàn chiên nhỏ bé” (Lc 12,32), gồm những người được Chúa Giêsu đến triệu tập quanh Người và chính Người là mục tử của họ[14]. Những người đó họp thành gia đình đích thực của Chúa Giêsu[15]. Những ai Người đã quy tụ quanh Người, Người đã dạy cho họ một “cách hành động” mới, và cả một kinh nguyện riêng[16].

Số 765. Chúa Giêsu đã thiết lập cho cộng đoàn của Người một cơ cấu tồn tại cho tới khi Nước Thiên Chúa được hoàn thành trọn vẹn. Trước hết, Người tuyển chọn nhóm Mười Hai với ông Phêrô làm thủ lãnh[17]. Những vị này, đại diện cho mười hai chi tộc Israel[18], là những tảng đá nền móng của Giêrusalem mới[19]. Nhóm Mười Hai[20] và các môn đệ khác[21] được tham dự vào sứ vụ của Đức Kitô, vào quyền năng của Người, và cả số phận của Người[22]. Bằng tất cả các hành động này, Đức Kitô chuẩn bị và xây dựng Hội Thánh của Người.

Số 766. Nhưng Hội Thánh được sinh ra một cách chủ yếu từ việc hiến thân trọn vẹn của Đức Kitô để cứu độ chúng ta, việc hiến thân ấy được thể hiện trước trong việc thiết lập bí tích Thánh Thể và được thực hiện trên thập giá. “Sự khởi đầu và tăng trưởng của Hội Thánh được đánh dấu bằng việc máu và nước trào ra từ cạnh sườn rộng mở của Chúa Giêsu bị đóng đinh trên thập giá”[23]. “Chính từ cạnh sườn của Đức Kitô yên nghỉ trên thập giá đã phát sinh bí tích kỳ diệu là toàn thể Hội Thánh”.[24] Như bà Evà được tạo ra từ cạnh sườn của ông Ađam, thì cũng vậy, Hội Thánh được sinh từ trái tim bị đâm thâu của Đức Kitô chết trên thập giá[25].

 

Số 783-786: Hội Thánh là dân tư tế, tiên tri và vương đế

Số 783. Chúa Cha đã dùng Thánh Thần xức dầu và thiết đặt Chúa Giêsu Kitô làm “Tư tế, Tiên tri và Vương đế”. Toàn thể dân Thiên Chúa tham dự vào ba chức năng này của Đức Kitô và lãnh trách nhiệm về sứ vụ và về sự phục vụ, xuất phát từ ba chức năng đó[26].

Số 784. Khi một người gia nhập dân Thiên Chúa nhờ đức tin và nhờ bí tích Rửa Tội, thì người đó được tham dự vào ơn gọi duy nhất của dân đó: vào ơn gọi làm tư tế của dân Thiên Chúa. “Chúa Kitô được cất nhắc làm Thượng tế giữa loài người, đã làm cho dân mới ‘thành một nước, thành những tư tế cho Thiên Chúa, Cha của Người’. Thật vậy, những ai đã lãnh Phép Rửa, nhờ ơn tái sinh va việc xức dầu bằng Chúa Thánh Thần, đều được thánh hiến để trở thành ngôi nhà thiêng liêng và hàng tư tế thánh”[27].

Số 785. “Dân thánh của Thiên Chúa cũng được tham dự vào chức năng tiên tri của Đức Kitô”. Chủ yếu nhờ cảm thức siêu nhiên của đức tin, một cảm thức riêng của toàn thể dân Thiên Chúa, giáo dân và giáo phẩm, khi họ “luôn luôn gắn bó với đức tin đã được truyền lại cho các Thánh một lần cho mãi mãi”[28], khi họ đào sâu để hiểu biết đức tin hơn, và trở thành chứng nhân cho Đức Kitô giữa trần gian này.

Số 786. Cuối cùng, dân Thiên Chúa được tham dự vào chức năng vương đế của Đức Kitô. Đức Kitô thực thi quyền vương đế của Người khi Người lôi kéo mọi người đến với mình qua cái Chết và sự Sống lại của Người[29]. Đức Kitô, là Vua và là Chúa của vũ trụ, đã trở nên tôi tớ mọi người, vì “Người đến không phải để được người ta phục vu, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá cứu chuộc muôn người” (Mt 20,28). Đối với Kitô hữu, “cai trị là phục vụ” Đức Kitô[30]; Hội Thánh đặc biệt “nhận ra trong những người nghèo khó và đau khổ hình ảnh của Đấng Sáng Lập nghèo khó và đau khổ của mình”[31]. Dân Thiên Chúa thực hiện “phẩm giá vương đế” của mình khi sống theo ơn gọi phục vụ cùng với Đức Kitô.

“Quả thật, tất cả những người được tái sinh trong Đức Kitô, dau thánh giá làm cho họ trở thành Vua, việc xức dầu bằng Chúa Thánh Thần thánh hiến họ làm tư tế, để, ngoại trừ sự phục vụ đặc biệt của thừa tác vụ của chúng tôi, tất cả các Kitô hữu có tinh thần và có lý trí đều nhận ra mình thuộc dòng dõi vương đế và có chức vụ tư tế. Thật vậy, có gì mang tính vương đế đối với một tâm hồn cho bằng hướng dẫn thân xác mình quy phục Thiên Chúa? Và có gì mang tính tư tế cho bằng dâng lên Chúa một lương tâm trong sạch và dâng những lễ vật tinh tuyền của lòng đạo hạnh trên bàn thờ của trái tim?”[32]

 

Số 849-865: Sứ vụ tông đồ của Hội Thánh

Số 849. Lệnh truyền giáo. “Được Thiên Chúa sai đến với muôn dân để nên ‘bí tích cứu độ phổ quát’, do những đòi hỏi sâu sắc của tính công giáo, vâng theo lệnh truyền của Đấng Sáng Lập của mình, Hội Thánh cố gắng loan báo Tin Mừng cho tất cả mọi người”[33]. “Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thay ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,l9-20).

Số 850. Nguồn gốc và mục đích của việc truyền giáo. Lệnh truyền giáo của Chúa bắt nguồn từ tình yêu vĩnh cửu của Ba Ngôi Chí Thánh: “Tự bản chất, Hội Thánh lữ hành phải truyền giáo, vì chính Hội Thánh bắt nguồn từ sứ vụ của Chúa Con và sứ vụ của Chúa Thánh Thần, theo ý định của Thiên Chúa Cha”[34]. Mục đích tối hậu của việc truyền giáo là làm cho loài người được tham dự vào sự hiệp thông giữa Chúa Cha và Chúa Con trong Thần Khí tình yêu của chính các Ngài[35].

Số 851. Động lực của việc truyền giáo. Hội Thánh luôn nhận lấy bổn phận và sức mạnh thúc đẩy việc truyền giáo của mình từ chính tình yêu của Thiên Chúa đối với tất cả mọi người: Quả vậy, “tình yêu Đức Kitô thôi thúc chúng tôi…” (2 Cr 5,l4)[36]. Thật vậy, “Thiên Chúa muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý” (1 Tm 2,4). Thiên Chúa muốn tất cả mọi người được cứu độ nhờ nhận biết chân lý. Ơn cứu độ được gặp thấy trong chân lý. Những ai vâng theo sự thúc đẩy của Thánh Thần chân lý, thì đã ở trên đường cứu độ; nhưng chân lý này đã được uỷ thác cho Hội Thánh, nên Hội Thánh phải đáp ứng khát vọng của những người đó là mang chân lý đến cho họ. Bởi vì Hội Thánh tin vào kế hoạch phổ quát của ơn cứu độ, nên Hội Thánh phải truyền giáo.

Số 852. Những nẻo đường truyền giáo. “Chúa Thánh Thần là Đấng chủ xướng toàn bộ việc truyền giáo của Hội Thánh”[37]. Chính Ngài dẫn dắt Hội Thánh trên các nẻo đường truyền giáo. “Hội Thánh tiếp tục và triển khai qua dòng lịch sử sứ vụ của chính Đức Kitô, Đấng đã được sai đi rao giảng Tin Mừng cho những người nghèo; được Thần Khí Đức Kitô thúc đẩy, Hội Thánh phải tiến bước trên chính con đường Đức Kitô đã đi, là con đường khó nghèo, vâng phục, phục vụ và tự hiến cho đến chết, từ đó Người đã chiến thắng nhờ sự sống lại của Người”[38]. Theo cách đó, “máu là hạt giống trổ sinh các Kitô hữu”[39].

Số 853. Nhưng trên đường lữ hành, Hội Thánh cũng cảm nghiệm “khoảng cách giữa sứ điệp mà Hội Thánh phải rao giảng và sự yếu hèn nhân loại của những người được ủy thác Tin Mừng”[40]. Chỉ bằng con đường “sám hối và canh tân”[41] và “qua cửa hẹp của Thập Giá”[42], Dân Thiên Chúa mới có thể mở rộng Nước Đức Kitô[43]. “Cũng như Đức Kitô đã hoàn thành công trình cứu chuộc trong nghèo khó và bị bách hại, Hội Thánh cũng được kêu gọi tiến bước trên chính con đường đó, để truyền thông cho người ta những hoa trái của ơn cứu độ”[44].

Số 854. Do chính sứ vụ của mình, “Hội Thánh đồng hành với toàn thể nhân loại và cảm nghiệm cùng một số phận trần thế với trần gian, và Hội Thánh hiện hữu như men, như linh hồn của xã hội nhân loại phải được canh tân trong Đức Kitô và phải được biến đổi thành gia đình của Thiên Chúa”[45]. Vì thế nỗ lực truyền giáo đòi hỏi sự kiên nhẫn. Công việc truyền giáo bắt đầu bằng việc rao giảng Tin Mừng cho các dân tộc và các nhóm người chưa tin vào Đức Kitô[46]; tiếp đến là thiết lập những cộng đoàn Kitô hữu, là dấu chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa trên trần gian[47], và thành lập những Giáo Hội địa phương[48]; tiến trình hội nhập văn hóa được thúc đẩy, để Tin Mừng nhập thể vào các nền văn hóa của các dân tộc[49]; tiến trình đó sẽ không thiếu lúc gặp sự chống đối. “Đối với người ta, các tập thể và các dân tộc, Hội Thánh chỉ tiếp xúc và thâm nhập dần dần, và như vậy đón nhận họ vào sự sung mãn của tính công giáo”[50].

Số 855. Công việc truyền giáo của Hội Thánh đòi hỏi nỗ lực để hợp nhất các Kitô hữu[51]. “Sự chia rẽ giữa các Kitô hữu ngăn trở Hội Thánh thực hiện đầy đủ tính công giáo đặc thù của mình nơi những con cái đó, những người đã liên kết với Hội Thánh bằng Phép Rửa, nhưng còn bị tách biệt chưa hiệp thông trọn vẹn với Hội Thánh. Hơn nữa, chính Hội Thánh cũng khó diễn tả sự sung mãn của tính công giáo về mọi phương diện trong đời sống thực tế”[52].

Số 856. Nhiệm vụ truyền giáo bao hàm sự đối thoại đầy tôn trọng đối với những ai chưa đón nhận Tin Mừng[53]. Các tín hữu có thể nhận được điều bổ ích cho chính mình từ cuộc đối thoại này, nhờ học biết thêm rằng “bất cứ điều gì thuộc về chân lý và ân sủng đã có nơi các dân tộc, đều được nhận ra như một sự hiện diện bí ẩn của Thiên Chúa”[54]. Chính các tín hữu loan báo Tin Mừng cho những người không biết, để củng cố, bổ túc, và nâng cao chân lý và sự thiện mà Thiên Chúa đã tuôn đổ cho người ta, cho các dân tộc, và để thanh luyện họ khỏi sự sai lầm và sự dữ “để Thiên Chúa được vinh danh, ma quỷ phải hổ thẹn, và con người được hạnh phúc”[55].

Số 857. Hội Thánh có đặc tính tông truyền vì được đặt nền trên các Tông Đồ, và điều này được hiểu theo ba nghĩa:

– Hội Thánh đã và đang được xây dựng trên “nền móng là các Tông Đồ” (Ep 2,20)[56], là những chứng nhân đã được chính Đức Kitô tuyển chọn và sai đi[57];

– Với sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần, Đấng hằng ngự trong Hội Thánh, Hội Thánh gìn giữ và lưu truyền giáo huấn[58], kho tàng quý báu, những lời lành thánh nghe được từ các Tông Đồ[59];

– Hội Thánh tiếp tục được giảng dạy, thánh hóa và hướng dẫn bởi các Tông Đồ cho đến khi Đức Kitô trở lại nhờ những vị kế nhiệm các ngài trong nhiệm vụ mục tử: Giám mục đoàn, “với sự trợ giúp của các linh mục, hợp nhất với Đấng kế nhiệm thánh Phêrô là mục tử tối cao của Hội Thánh”[60].

“Lạy Chúa là Mục Tử hằng hữu, Chúa không bỏ rơi đoàn chiên Chúa, nhưng nhờ các Thánh Tông Đồ, Chúa luôn che chở giữ gìn để đoàn chiên được hướng dẫn nhờ các vị lãnh đạo Chúa đã đặt làm mục tử nhân danh Con Chúa…”[61].

Sứ vụ của các Tông Đồ

Số 858. Chúa Giêsu là Đấng được Chúa Cha sai đi. Ngay từ đầu sứ vụ của Người, Người “gọi đến với mình những kẻ Người muốn…. Người lập nhóm Mười Hai, để các ông ở với Người, và để Người sai các ông đi rao giảng” (Mc 3,13-14). Từ đó, họ là “những người được sai đi” (thuật ngữ Hy Lạp Apostoloi nói lên ý nghĩa đó). Qua họ, Đức Kitô tiếp tục sứ vụ riêng của Người: “Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em” (Ga 20,2l)[62]. Như vậy, thừa tác vụ của họ là sự tiếp tục sứ vụ của Đức Kitô. Chính Người nói với nhóm Mười Hai: “Ai đón tiếp anh em, là đón tiếp Thầy” (Mt l0,40)[63].

Số 859. Chúa Giêsu kết hợp họ vào sứ vụ mà Người lãnh nhận từ Chúa Cha: cũng như “Chúa Con không thể tự mình làm gì” (Ga 5,19.30) nhưng lãnh nhận tất cả từ Chúa Cha, Đấng đã sai Người, thì những người Chúa Giêsu sai đi cũng vậy, họ không thể làm được gì nếu không có Người[64], từ nơi Người, họ đã lãnh nhận lệnh truyền sai đi và quyền năng để hoàn thành điều đó. Vì thế, các Tông Đồ của Đức Kitô biết rằng họ đã được Thiên Chúa làm cho trở thành “những thừa tác viên của Tân Ước ”(2 Cr 3,6), “những thừa tác viên của Thiên Chua” (2 Cr 6,4), “những sứ giả thay mặt Đức Kitô” (2 Cr 5,20), “những đầy tớ của Đức Kitô, những người quản lý các mầu nhiệm của Thiên Chúa” (1 Cr 4,l).

Số 860. Trong nhiệm vụ của các Tông Đồ, có một khía cạnh không thể được lưu truyền: đó là các ngài là những chứng nhân đặc tuyển về sự sống lại của Chúa và là những nền móng của Hội Thánh. Nhưng cũng có một khía cạnh trương tồn trong nhiệm vụ của các ngài: Đức Kitô đã hứa với các ngài rằng Người sẽ ở với các ngài cho đến tận thế[65]. “Sứ vụ thần linh, mà Đức Kitô ủy thác cho các Tông Đồ, sẽ tồn tại cho đến tận thế, bởi vì Tin Mừng, được truyền lại bởi các ngài, phải luôn luôn là nguyên lý của toàn bộ sự sống đối với Hội Thánh. Chính vì vậy các Tông Đồ … đã cẩn thận thiết đặt những người kế nhiệm”[66].

Các Giám mục – những vị kế nhiệm các Tông Đồ

Số 861. “Để sứ vụ đã được ủy thác cho các ngài vẫn được tiếp tục sau khi các ngài qua đời, các Tông Đồ đã trao cho các cộng sự viên trực tiếp của mình, như trao một di chúc, nhiệm vụ phải hoàn thành và củng cố công trình các ngài đã khởi sự, khuyên nhủ họ lưu ý đến hết đoàn chiên mà trong đó Chúa Thánh Thần đã đặt họ chăn dắt Hội Thánh của Thiên Chúa. Các ngài đã thiết đặt những người như vậy và quy định rằng sau đó, khi những người nay chết, thì những người đàn ông khác đã được thử thách sẽ lãnh nhận thừa tác vụ của họ”[67].

Số 862. “Cũng như nhiệm vụ được Chúa ủy thác cho một mình ông Phêrô, vị thứ nhất của các Tông Đồ, phải được lưu truyền cho các vị kế nhiệm ông, là một nhiệm vụ trường tồn, thì cũng vậy, nhiệm vụ của các Tông Đồ là phải chăn dắt Hội Thánh, và được thực thi liên tục bởi việc truyền chức thánh cho các Giám mục, nhiệm vụ đó cũng trường tồn”. Vì vậy, Hội Thánh dạy rằng: “Chính Chúa đã thiết đặt các Giám mục kế nhiệm các Tông Đồ làm các mục tử của Hội Thánh, nên ai nghe các ngài là nghe Đức Kitô, còn ai khinh miệt các ngài là khinh miệt Đức Kitô và Đấng đã sai Đức Kitô đến”[68].

Việc tông đồ

Số 863. Toàn thể Hội Thánh có đặc tính tông truyền vì, nhờ các vị kế nhiệm thánh Phêrô và các Tông Đồ, Hội Thánh vẫn giữ nguyên nguồn gốc của mình trong sự hiệp thông đức tin và sự sống. Hội Thánh còn có đặc tính tông truyền vì “được sai đi” khắp trần gian; tất cả các chi thể của Hội Thánh, tuy bằng những cách khác nhau, đều tham dự vào tính chất “được sai đi” này. “Quả vậy, ơn gọi Kitô hữu, tự bản chất, cũng là ơn gọi làm việc tông đồ”. Được gọi là “Việc tông đồ”, là “mọi hoạt động của Nhiệm Thể” nhằm “làm cho Nước Đức Kitô ở mọi nơi trên trần thế” được rộng mở[69].

Số 864. “Vì Đức Kitô, Đấng được Chúa Cha sai đến, là nguồn mạch và là nguồn gốc của mọi việc tông đồ trong Hội Thánh, nên việc tông đồ”, của các thừa tác viên có chức thánh cũng như của các giáo dân, “có sinh hoa kết quả hay không đều tùy thuộc vào sự kết hợp sống động của chính họ với Đức Kitô”[70]. Việc tông đồ, tuỳ theo các ơn gọi, các nhu cầu thời đại, các hồng ân khác nhau của Chúa Thánh Thần, mang những hình thức hết sức đa dạng. Nhưng đức mến, được múc nguồn đặc biệt từ bí tích Thánh Thể, luôn “như là linh hồn của mọi việc tông đồ”[71].

Số 865. Hội Thánh là Hội Thánh duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền trong căn tính sâu xa và tối hậu của mình, bởi vì nơi Hội Thánh, “Nước Trời”, “Nước Thiên Chua”[72] đã hiện hữu và sẽ được hoàn thành trong ngày tận thế, Nước đó đã đến nơi Ngôi Vị của Đức Kitô và trong trái tim của những ai được tháp nhập vào Người, đang lớn lên cách âm thầm cho đến khi nước đó tỏ hiện trọn vẹn lúc cánh chung. Lúc đó, tất cả mọi người đã được Người cứu chuộc, đã được Người “thánh hóa và làm cho nên tinh tuyền trước tôn nhan Thiên Chúa trong tình yêu”[73], sẽ được quy tụ thành dân duy nhất của Thiên Chúa, “Hiền Thê của Con Chiên”[74], “Thành Thánh tự trời, từ nơi Thiên Chúa mà xuống, chói lọi sự huy hoàng của Thiên Chúa”[75]; và “tường thành xây trên mười hai nền móng, trên đó có tên mười hai Tông Đồ của Con Chiên” (Kh 21,14).

Suy niệm (TGM Giuse Nguyễn Năng)

Suy niệm: Các tông đồ được Ðức Giêsu tuyển chọn để gặt trên cánh đồng lúa của Người. Nhiệm vụ truyền giáo cần thiết và cấp bách, vì biết bao người anh em còn chưa nhận biết Thiên Chúa là Cha, chưa tin tưởng vào tình yêu vô biên và tận hưởng sự êm ái hạnh phúc ở trong nhà Cha.

Cầu nguyện: Lạy Cha, ngày nay Cha cũng không ngừng mời gọi chúng con là thợ gặt trên cánh đồng truyền giáo của Cha. Xin cho chúng nhận biết nhiệm vụ cao cả của mỗi người tín hữu chúng con. Ðể chúng con mau mắn lên đường bằng lời cầu nguyện, bằng lời rao giảng, bằng đời sống chưng nhân... để danh Cha được vinh sáng. Xin Ðức Kitô Con Cha cầu bầu cho chúng con. Amen.

Suy niệm (Lm. I-nha-xi-ô Hồ Văn Xuân)

A. CHIA SẺ LỜI CHÚA

Phụng vụ Lời Chúa hôm nay mời chúng ta nghe Tin Mừng về sứ vụ rao giảng, một đoạn Tin Mừng kể lại trong đó Đức Giê-su chạnh lòng thương đám đông, nên đã chọn mười hai Tông Đồ và sai các ông đi loan báo Tin Mừng.

Chúng ta cần ghi nhận rằng tất cả đều phát xuất từ con tim của Đức Giê-su : Người chạnh lòng thương đám đông. Đức Giê-su có một con tim tràn ngập lòng yêu thương thần linh. Người chạnh lòng thương đám đông “vì họ lầm than vất vưởng như bầy chiên không người chăn dắt”. Người thương xót tất cả mọi người không trừ ai. Tình yêu của Người là tình yêu phổ quát. Người hiểu rằng đám đông cần có những mục tử để hướng dẫn, để chăm sóc họ. Đức Giê-su bày tỏ lòng thương xót của Người khi mời gọi họ cầu nguyện cùng Thiên Chúa, Chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về, vì lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Ở đây, một lần nữa, chúng ta lại thấy những tâm tình và bận tâm sâu xa của Đức Giê-su, Người muốn đáp ứng những nhu cầu của một đám đông khổng lồ, của toàn thể nhân loại. Vì thế, Người có sáng kiến : Người chọn “Nhóm Mười Hai Tông Đồ”. Tông đồ có nghĩa là được sai đi, sai đi đến với đám đông, rao giảng sứ điệp Tin Mừng, và như thế đáp ứng những nhu cầu tâm linh của con người. Tuy nhiên, lúc đầu Đức Giê-su giới hạn sứ vụ của các Tông Đồ là đến với các con chiên lạc nhà Ít-ra-en : “Anh em đừng đi tới vùng các dân ngoại, cũng đừng vào thành nào của người Sa-ma-ri. Tốt hơn là hãy đến với các con chiên lạc nhà Ít-ra-en.” Lệnh truyền này khiến chúng ta ngạc nhiên vì chúng ta quen nghe lệnh truyền của Đức Giê-su ở cuối Tin Mừng Mát-thêu : “Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ, nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần” (Mt 28,19). Chúng ta tự hỏi tại sao Đức Giê-su lại hạn chế sứ vụ rao giảng của các Tông Đồ trong dân Ít-ra-en mà thôi ? Chúng ta biết rằng Đức Giê-su luôn vâng lời Chúa Cha. Ở đây chúng ta tìm thấy một lời giáo huấn quan trọng cho mỗi người chúng ta : Chúng ta phải tôn trọng những giới hạn. Chúng ta không phải là Chúa Quan Phòng, chúng ta không thể cung cấp cho những người anh em chúng ta tất cả những gì họ cần, vì thế chúng ta phải biết giới hạn ơn gọi của mình để có thể sống trọn vẹn ơn gọi đó. Nếu chúng ta không biết giới hạn của mình thì chúng ta không thể hoàn thành một việc hữu ích nào cả và kết quả chỉ là ảo tưởng mà thôi. Khi trả lời cho người đàn bà Ca-na-an xin Đức Giê-su chữa lành cho con gái của bà, Đức Giê-su đã xác nhận “Người được sai đến với những con chiên lạc nhà Ít-ra-en” (Mt 15,24). Ở đây, chúng ta thấy lại ý định của Thiên Chúa đã chọn một dân riêng, hứa ban cho họ ơn cứu độ, vì thế Người sai Đấng Mê-si-a đến với dân tộc mà Người đã hứa cứu chuộc họ.

Bài đọc 1 minh hoạ khía cạnh này trong ý định của Thiên Chúa. Người nói với dân Ít-ra-en, qua ông Mô-sê khi họ đến chân núi Xi-nai : “Giờ đây, nếu các ngươi thật sự nghe tiếng Ta, và giữ giao ước của Ta, thì giữa hết mọi dân, các ngươi sẽ là sở hữu riêng của Ta, vì toàn cõi đất đều là của Ta. Ta sẽ coi các ngươi là một vương quốc tư tế, một dân thánh.” Thiên Chúa đã chọn một dân tộc nhỏ bé và yếu đuối, hứa ban cho họ một mối liên hệ đặc biệt với Người, và Người vẫn luôn trung thành với lời hứa này. Nhưng thật ra, ý định của Người liên quan đến toàn thể nhân loại trong lời hứa Người ngỏ với ông Áp-ra-ham : “Ta sẽ chúc phúc cho những ai chúc phúc cho ngươi. Nhờ ngươi, mọi gia tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc” (St 12,3). Kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa là dành cho toàn thể nhân loại. Tính phổ quát này sẽ trở thành hiện thực từng giai đoạn một, vì không thể đem lại cho toàn thể nhân loại có được mối liên hệ với Thiên Chúa trong một thời gian ngắn được. Chính vì lý do đó mà Đức Giê-su, trong cuộc đời công khai của mình, luôn tôn trọng phương pháp sư phạm tiệm tiến của Thiên Chúa ; trước hết ơn cứu độ được ban cho nhà Ít-ra-en, rồi sau đó, qua trung gian của dân tộc này mà toàn thể nhân loại nhận được ơn cứu độ, như lời Đức Giê-su nói với Nhóm Mười Hai khi sai các ông đi rao giảng : “Trước tiên, anh em đừng đi tới vùng các dân ngoại, cũng đừng vào thành nào của người Sa-ma-ri. Tốt hơn là hãy đến với các con chiên lạc nhà Ít-ra-enđể cho những lời hứa dành cho dân tộc này trở thành hiện thực, sau đó ý định cứu độ của Thiên Chúa sẽ lan toả đến toàn thể nhân loại. Sự lan toả này sẽ phải trả giá bằng cuộc Thương Khó và Phục Sinh của Đức Giê-su, trong đó mọi giới hạn đã bị huỷ bỏ vì Đức Giê-su đã chết vì tội lỗi, mà tất cả mọi người đều là kẻ có tội.

Bài đọc 2 cho ta hiểu rằng thập giá mặc khải tình yêu của Thiên Chúa dành cho kẻ có tội. “Bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta là Đức Ki-tô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi.” Đó là một việc phi thường. Trong cuộc Thương Khó của Đức Giê-su, người Do-thái tượng trưng cho những kẻ tội lỗi, những người tội lỗi xấu xa nhất, bởi vì, nhân danh mọi người, họ kết án bất công Con Thiên Chúa. Tất cả chúng ta đều có trách nhiệm trước cái chết của Đức Giê-su vì tất cả chúng ta đều là kẻ tội lỗi. Tuy nhiên, chính dân tộc được tuyển chọn này tượng trưng cho chúng ta vào thời điểm Đức Giê-su bị đóng đinh trên thập giá. Ý định nhiệm mầu của Thiên Chúa cũng nằm trong sự kiện này. Cái chết của Đức Giê-su đều có giá trị đối với từng người chúng ta. Sau cái chết và sự phục sinh của Đức Giê-su, ơn cứu độ được ban cho toàn thể nhân loại. Điều kiện duy nhất để được lãnh nhận ơn cứu độ là phải gắn bó trong đức tin vào Người, đã chết và đã sống lại để chúng ta được nên công chính. Thánh Phao-lô quả quyết : “Bây giờ chúng ta được nên công chính, nhờ máu của Đức Ki-tô đổ ra, hẳn chúng ta sẽ được Người cứu khỏi cơn thịnh nộ của Thiên Chúa.” Sau khi Đức Giê-su phục sinh, việc lan toả ý định cứu độ của Thiên Chúa trở nên rõ rệt hơn bao giờ hết. Toàn bộ các Tin Mừng cho ta thấy rằng ơn cứu độ đã được ban đến tận cùng cõi đất. Thánh Phao-lô quả quyết rằng Thiên Chúa biểu lộ sự công chính của Người khi làm cho kẻ có tội trở nên công chính. Trong cái chết và sự phục sinh của mình, Đức Giê-su làm lan toả ý định cứu độ của Người. Chúng ta hoàn toàn không có khả năng làm việc này, nhưng chúng ta có thể và phải đón nhận sứ điệp đức tin Người đã loan báo cho chúng ta. Ơn cứu độ được hứa cho dân Ít-ra-en, đồng thời cũng được hứa ban cho tất cả các dân tộc vì Chúa muốn cứu độ tất cả mọi người, lời chúc phúc dành cho tất cả mọi dân tộc mà Chúa đã phán cho con ông Áp-ra-ham, con vua Đa-vít, cho Đấng Mê-si-a là Đức Giê-su Ki-tô, Đấng cứu độ chúng ta.

Kết luận : Mỗi người chúng ta cũng được sai đi loan truyền ơn cứu độ cho người khác. Đó là sứ mạng của tất cả chúng ta chứ không chỉ dành riêng cho các Tông Đồ. Chúng ta thực hiện sứ mạng này theo nhiều cách khác nhau, nhưng trước tiên là cầu nguyện. Đức Giê-su nói với chúng ta : “Anh em hãy xin chủ mùa gặt ra gặt lúa về.” Chúng ta cũng có thể đóng góp cho sứ mạng này bằng sự nâng đỡ kinh tế, nhưng nhất là bằng chứng từ của một đời sống gương mẫu. Chúng ta hãy đón nhận lòng thương xót đám đông mệt mỏi của Đức Giê-su vào trong tâm hồn chúng ta. “Họ như bầy chiên vất vưởng không người chăn dắt.” Nếu chúng ta có được lòng thương xót này trong tâm hồn, đời sống chúng ta sẽ hướng đến sứ vụ phù hợp với thánh ý Thiên Chúa là giúp cho mọi người nhận biết Chúa để họ cũng được cứu độ như chúng ta.

Cầu nguyện :

Lạy Chúa Giê-su, xin cho chúng con nhiều thợ gặt lành nghề, hăng say hoạt động trên cánh đồng truyền giáo thật bát ngát mênh mông.

Tự vấn :

Trong đời sống đức tin thường ngày, chúng ta tham gia vào sứ mạng loan báo Tin Mừng của Giáo Hội bằng cách nào ?

 

B. BÀI ĐỌC THÊM

1. Chính nơi trái tim Đức Giê-su, ta tìm thấy động lực cho việc truyền giáo, sứ mạng của ta

(Mgr. L. Daloz, “Le Règne de Dieu s’est approché”, Desclée de Brouwer).

Cho tới nay, Đức Giê-su chưa trao cho những kẻ Người kêu gọi một nhiệm vụ nào. Giờ đây Người sắp trao cho họ và sai họ đi. Trước đó, thánh Mát-thêu đã cho ta thấy nguồn cội của sứ mạng của họ : “Đức Giê-su thấy đám đông thì chạnh lòng thương, vì họ lầm than vất vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt.” Rất nhiều lần, Tin Mừng đã nói về lòng thương của Ðức Giê-su đối với đám đông. Nguồn cội của việc sai đi, của sứ mạng truyền giáo là tình thương của Đức Giê-su, tình thương mà ta gọi là lòng thương xót, không phải là sự hạ cố, nhưng vì tình thương ấy đã nhìn thấy đám đông “lầm than vất vưởng” và Đức Giê-su đã xúc động … Từ ngữ Hy-lạp còn nói mạnh hơn : Người đau thắt ruột lại. Chính nơi trái tim Đức Giê-su, nơi sự âu yếm của Người, nơi sự xúc động tâm can của Người, ta tìm thấy động lực của sứ mạng truyền giáo của ta … Có lẽ ta nghĩ rằng lời kế tiếp sẽ là lời mời gọi lên đường làm việc thu hoạch mùa màng, vì có quá ít thợ ! Nhưng Đức Giê-su lại không nói điều đó với các môn đệ. Hãy nghe Người : Anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về. Tự nguyện chưa đủ. Quảng đại chưa đủ. Còn phải hiệp thông với tình yêu của Chúa Cha, ông chủ ruộng nữa. “Lòng thương xót” của Đức Giê-su diễn dịch tình yêu của Thiên Chúa đối với nhân loại lầm lạc. Vâng, thật cần thiết, những người muốn làm việc cho mùa gặt, loan báo Nước Trời, làm chứng cho Tin Mừng, đi kín múc từ nguồn tình yêu làm cho hoạt động của họ có ý nghĩa. Lời kêu gọi trước hết là theo Đức Giê-su, hiểu biết Đức Giê-su, nhận biết Người là Đấng Cứu Thế, Đấng đến nhân danh Chúa Cha, để Người khai tâm mở trí, chiêm ngắm Người, năng lui tới với Người, khám phá bằng nghe Người nói, nhìn Người hành động không mỏi mệt, và tặng ban chính sự sống của Người, thấy Người xúc động vì “thương xót” đến mức nào, thổn thức vì khổ đau của nhân loại … và như thế, chia sẻ sự bao la, sự sâu xa của tình yêu Thiên Chúa, một tình yêu không giới hạn cháy bỏng : Thiên Chúa muốn nhân loại bước vào một cuộc Xuất hành khác với cuộc Xuất hành do Mô-sê hướng dẫn, muốn ban cho nhân loại một cuộc giải phóng vĩ đại hơn ! Đó là tất cả điều kiện của một “sứ mạng thật sự” không phải là trước khi lên đường, nhưng không ngừng, ở nền tảng của sứ mạng. Trước đây, không biết điều đó, ta vẫn có thể xúc động trước nỗi khổ của con người, trước sự thiếu thốn của họ và dấn thân phục vụ họ, can đảm hành động. Điều đó rất quan trọng, và đó cũng là công việc của Thánh Thần Thiên Chúa. Nhưng Tin Mừng còn đưa ta đi xa hơn : Nó mặc khải tình yêu mà chính Thiên Chúa mang đến cho nhân loại, say mê, không mỏi mệt. Đời sống và cái chết của Đức Giê-su là bằng chứng hùng hồn về điều đó. Người mời gọi ta đến chia sẻ tình yêu ấy, làm tôi tớ phục vụ tình yêu ấy cho anh em ta, bắt tay vào hành động, vì Người sai ta đi truyền giáo. Truyền giáo không phải là tác phẩm của ta. Cũng không do sáng kiến của ta. Truyền giáo đâm rễ sâu trong lời cầu nguyện làm trái tim và ý chí ta phù hợp với tình yêu trong trái tim Thiên Chúa. Truyền giáo không thể tách rời cầu nguyện : Hãy cầu nguyện xin chủ ruộng sai thợ gặt đến.

2. Chúng ta là Giáo hội

(L. Sintas, “Parole de Dieu pour la méditation et l’homélie”, Médias Paul).

Sứ mạng trao ban cho các Tông Đồ cũng là sứ mạng trao ban cho ta hôm nay. Giáo Hội hôm nay chính là chúng ta. Vậy đến lượt ta phải loan báo Nước Thiên Chúa đã đến. Chắc rằng ta không đi tìm mặt trời giữa đêm khuya. Xuyên qua hoạt động hằng ngày, cuộc sống gia đình, nghề nghiệp, ta có thể, hoặc trở nên tôi tớ của Vương Quốc sự dữ khi ta gieo rắc chia rẽ, vun trồng ghen tuông, ích kỷ, hoặc trở nên chứng nhân cho hoạt động của Thiên Chúa khi trở thành men tình bạn, men bình an, men hoà giải. Cần cầu nguyện để nhắc nhớ những gì Thiên Chúa đã làm cho ta dù ta tội lỗi. Nhưng cầu nguyện còn có mục đích giúp ta kiên vững trong sứ mạng là tác nhân hoà bình, chữa lành bệnh và hiệp thông. Muốn là Ki-tô hữu, phải làm cho cách hành động của ta phù hợp với niềm tin. Đó là cách duy nhất để trở thành Tông Đồ, làm cho Giáo Hội nên sống động và có sức hấp dẫn. Thật vậy, đối với những người không cùng chia sẻ niềm tin với ta, thành phần hữu hình của Giáo Hội mà họ thấy được chính là các Ki-tô hữu cụ thể ở làng ta, trong khu phố ta ở, là chính chúng ta. Chúng ta có trách nhiệm tạo cho Giáo Hội một khuôn mặt của Thiên Chúa, khuôn mặt ấy có sức lôi cuốn mọi người sống quanh ta. Đó là loan báo Nước Thiên Chúa đã đến.

3. Cầu nguyện và truyền giáo

(Mgr. R. Coffy, cine Ezlla qui célèbre et qui prie, Le Centurion).

Truyền giáo là lãnh nhận trước khi là hành động. Truyền giáo chỉ là hành động nhân danh Đấng sai đi. Được sai đi chính là hành động nhân danh ai. Nó giả thiết mối quan hệ quen thuộc thông thường giữa người sai và kẻ được sai, trong sứ mạng tông đồ, đó là cầu nguyện. Hoạt động truyền giáo không dựa trên cầu nguyện sẽ có nguy cơ trở nên hoạt động thuần tuý nhân loại chứ không còn là hoạt động của Chúa Thánh Thần nơi con người. Nói về truyền giáo mà không nói trong cầu nguyện, có thể vi phạm tính cách chân thật của sứ mạng.

Suy niệm (Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J)

Suy niệm:

Ðức Giêsu thấy đám đông theo Ngài,
vất vưởng bơ vơ như chiên không người chăn dắt.
Người chạnh lòng thương,
lòng thương bắt nguồn từ con tim biết nhói đau
trước nỗi khổ của người khác.
Ðức Giêsu đã làm tất cả để xoa dịu, đỡ nâng
và mời gọi các môn đệ cộng tác trong công cuộc ấy.

Trước một thế giới buồn,
Ngài sai họ rao giảng Tin Mừng về Nước Trời gần đến.
Trước một thế giới bệnh hoạn,
Ngài cho họ khả năng chữa lành.
Trước một thế giới bị nô lệ cho thần ô uế,
Ngài cho họ quyền đem lại tự do.
Trước một thế giới đầy chết chóc,
Ngài cho họ quyền trả lại sự sống.

Ðức Giêsu sai các môn đệ đi vào cuộc đời,
đi hai người một để nâng đỡ nhau.
Ngài không chọn những người giỏi giang, học thức,
nhưng chọn những người đánh cá đơn sơ và quảng đại.
Trước hết, Ngài sai họ đến với chính dân tộc của họ,
để rồi sau này đến với cả thế giới.
Ðức Giêsu muốn họ cho đi tất cả những gì đã nhận
mà không đòi hỏi chút quyền lợi hay đặc ân nào.

Hôm nay, Ðức Giêsu mời chúng ta nhìn thấy đám đông
gần 6 tỉ người trên mặt đất.
Ngài mời chúng ta thấy 50 ngàn trẻ em chết đói mỗi ngày.
Từ 12-18 triệu người chết đói một năm.
1,3 tỉ người sống trong cảnh đói nghèo cùng cực.
800 triệu người thất nghiệp, một tỉ người lớn mù chữ.
Ngài mời chúng ta thấy những trẻ em bị sida ở Châu Phi,
những người trẻ trí thức bị bơ vơ ở Nhật,
những sa đọa và hưởng thụ, ma tuý và tội ác,
những hố sâu hơn giữa các nước giàu và nước nghèo,
giữa người giàu và người nghèo,
ngay cả trong các nước tiên tiến.
Ngài mời chúng ta nhìn thế giới này bằng đôi mắt của Ngài,
nhìn thấy mà chạnh lòng thương.
Chính cái nhìn đầy chạnh thương đưa ta lên đường.

Thế giới hôm nay cũng như hôm qua,
vẫn là một thế giới cần đến ơn cứu độ.
Người nghèo cần được tôn trọng phẩm giá,
người giàu cần mở ra để thấy đời mình có ý nghĩa.
Chúng ta không bi quan trước thế giới hôm nay
mênh mông nỗi đau, tràn ngập sự ác.
Tôi phải làm gì để chữa lành một thế giới bị thương?
Tôi phải nói gì với một thế giới không biết mình nô lệ?
Chỉ xin lên đường với Chúa Giêsu trong tin yêu,
và xin Cha cho có nhiều người cùng tiếp bước.

 

Cầu nguyện:

Lạy Cha,
thế giới hôm nay cũng như hôm qua
vẫn có những người bơ vơ lạc hướng
vì không tìm được một người để tin;
vẫn có những người đã chết từ lâu
mà vẫn tưởng mình đang sống;
vẫn có những người bị ám ảnh bởi thần ô uế,
ô uế của bạc tiền, của tình dục, của tiếng tăm;
vẫn có những người mang đủ thứ bệnh hoạn,
bệnh hoạn trong lối nhìn, lối nghĩ, lối sống;
vẫn có những người sống bên lề xã hội,
dù không phải là người phong...

Xin Cha cho chúng con nhìn thấy họ
và biết chạnh lòng thương như Con Cha.
Nhưng trước hết,
xin cho chúng con
nhìn thấy chính bản thân chúng con.

 

Suy niệm (Lm Giuse Đinh lập Liễm)

CHÚA KÊU MỜI

          1.  Tin Mừng Nước Trời.

          Trong suốt ba năm, Chúa Giêsu đã đi rao giảng Tin mừng Nước Trời. Thánh Matthêu đã tóm tắt trong một câu rất gọn :”Đức Giêsu rao giảng khắp các thành, các làng, giảng dạy trong các hội đường của họ và loan Tin mừng về Nước Trời cùng chữa lành mọi tật nguyền bện hoạn”(Mt 9,35).

          Trong khi đi rao giảng như thế, hình như Chúa Giêsu  có cái nhìn và cái cảm nghĩ không mấy lạc quan. Ngài thấy dân chúng mệt mỏi về thể xác, tinh thần bạc nhược vì thiếu sự săn sóc của chủ chăn. Giáo lý của các nhà Biệt phái rỗng tuếch, nhạt nhẽo mà lại quá phức tạp. Dân chúng có cảm nghĩ bị bỏ rơi, các vị chủ chăn chỉ lo săn sóc những chiên béo tốt xén lông và được danh dự.

          Thánh Matthêu cho ta biết cái cảm nghĩ của Chúa Giêsu trước tình trạng dân chúng đó :”Chúa Giêsu thấy đoàn lũ dân chúng liền động lòng thương xót họ””(Mt 9,36). Chúa thương họ như con chiên không có người chăn, như cánh đồng lúa chín không người gặt. Vì thế, Chúa bảo các môn đệ:”Lúc chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít, vậy hãy xin chủ ruộng sai thợ gặt đến”.

          Để giải quyết hoàn cảnh đáng thương đó, Chúa đã chọn 12 tông đồ làm những cộng sự viên, sai họ đi truyền giáo, đến những nơi mà Ngài sẽ đến.  Chúa ban cho các ông quyền hành rộng rãi :làm nhiều phép lạ... kể cả việc làm cho kẻ chết sống lại. Còn đề tài rao giảng của các ông là :”Nước Trời đã gần”,  đấy cũng là đề tài rao giảng của thánh Gioan Tẩy giả, và cũng là đề tài của chính Chúa Giêsu đang rao giảng.

          2.  Giáo huấn của Giáo hội.

          Công đồng Vatican II khẳng định :”Tự bản tính, Giáo hội lữ hành phải truyền giáo” (TG 2). Bản tính Giáo hội là truyền giáo tức là đem Tin mừng cứu rỗi cho nhân loại. Nhiệm vụ đó buộc tất cả mọi phần tử của Giáo hội tức là mọi người đã được rửa tội.  Công đồng đặc biệt chú trọng đến  phương diện tông đồ giáo dân :”Giáo dân làm tông đồ tức là tham gia vào chính sứ mạng cứu rỗi của Hội thánh. Chính Chúa – do phép rửa tội và phép thêm sức – giao cho tất cả mọi người bổn phận tông đồ ấy” (LG số 33).

          Đức thánh Cha Gioan Phaolô II cũng quả quyết :”Không một ai trong những người tin vào Chúa Kitô, không một tổ chức nào trong Giáo hội được miễn khỏi trách vụ cao cả này : Đó là loan báo Đức Kitô cho mọi dân tộc” (Sứ vụ Đấng Cứu độ, 3).

          3.  Đồng lúa chín kêu gọi.

          “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít”. Đấy là một lời báo động và cũng là một lời kêu gọi tha thiết  và khẩn thiết.  Chúng ta đang ở trong thời kỳ gặt lúa. Nhìn cánh đồng lúa chín vàng ối ai lại không thích ? Nhưng không may, ở đâu thiếu người gặt mà để cho đồng lúa bị lụt lội hay bão táp tàn phá làm hư hỏng thì ai không tiếc ?

          Nhìn vào cánh đồng truyền giáo rộng bao la bát ngát, Giáo hội có một ưu tư lớn lao : lấy ai ra mà gặt cánh đồng này ? Trên thế giới có tới hơn 6 tỷ người, mà số tín hữu Công giáo mới có gần

1,1 tỷ. Nếu kể cả những anh em tin theo Chúa Kitô thì mới được 2 tỷ. Còn lại hơn tỷ nữa. Riêng Á châu chiếm một nửa dân số thế giới, mà mới được 3% người biết Chúa. Ở Việt nam thân yêu của chúng ta, dân số lên tới 84 triệu người mà mới có 6 triệu người Công giáo. Cánh đồng truyền giáo của quê hương thân yêu chúng ta cũng còn rất rộng.  Trách nhiệm của những người Việt nam Công giáo cũng còn rất nặng.  Chúa kêu gọi mọi người cộng tác vào công việc truyền giáo này.

Truyện : Ta không có tay.

          Câu truyện xẩy ra tại Đức vào khoảng cuối thế chiến thứ hai.  Tại một ngôi làng kia, một toán binh sĩ Mỹ tình nguyện giúp dân chúng xây dựng lại cuộc sống của họ. Nhưng họ không xin thực phẩm, thuốc men, nông cụ, mà chỉ xin tái thiết một pho tượng bị đổ nát vì bom đạn.

          Từ nhiều thế kỷ qua, pho tượng là niềm tự hào của họ, giờ đây, chỉ còn là những mảnh vụn. Liệu những binh sĩ Mỹ có thể làm được công việc khó khăn này không ?  Qua bao ngày tìm tòi vất vả, họ cũng đã nhặt lại được từng mảnh và dựng lại pho tượng, chỉ có điều là có hai phần trong pho tượng họ không thể tìm thấy.

          Họ dựng pho tượng lên giữa quảng trường ngôi làng và phủ lên bằng tấm vải lụa, tấm vải này chỉ được mở ra bằng một nghi thức do ông Thị trưởng chủ tọa.

          Khi dân chúng trong làng tề tựu đông đủ, ông Thị trưởng đọc diễn văn cảm ơn các binh sĩ Mỹ và cho mở tấm lụa ra. Mọi người ồ lên với tất cả kinh ngạc, vì pho tượng tuyệt đẹp nhưng lại không có đôi cánh tay. Dưới chân pho tượng mọi người đọc được hàng chữ lớn :”Ta không có tay, các ngươi có thể cho ta mượn cánh tay của các ngươi không” ?

          Trước khi về trời, Chúa Giêsu, qua các Tông đồø, đã trao phó cho Hội thánh tiếp tục sứ mạng của Ngài cho đến tận thế. Vì vậy, Hội thánh chính là Chúa Kitô nối dài. Và một cách nào đó, Chúa Kitô đang xử dụng đôi cánh tay của Hội thánh để tiếp tục công cuộc cứu rỗi của Ngài. Chúng ta cũng là cánh tay nối dài của Hội thánh nên chúng ta cũng phải cộng tác vào trong việc cứu rỗi này.

 

II. TA ĐÁP TRẢ.

          Chúng ta hãy đáp trả lời kêu gọi của Chúa Giêsu bằng cách SỐNG ĐỜI CHỨNG NHÂN. Có nhiều cách rao giảng Tin mừng, nhưng cách rao giảng Tin mừng hay nhất là sống đời chứng nhân vì nó phù hợp với hết mọi người, mọi nơi, mọi lúc.  Qua kinh nhgiệm, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã nói :”Người thời nay không thích những thầy dạy cho bằng những chứng nhân”.

          Người ta thường nói :”Văn kỳ thanh, bất kiến kỳ hình”, trăm nghe không bằng một thấy. Nghe thì biết vậy, người ta vẫn còn bán tín bán nghi. chưa có tính cách thuyết phục cao.  Ví dụ : người ta thường dọa trẻ con là đừng có khóc kẻo “ông Ba Bị chín quai, mười hai con mắt, bắt trẻ bỏ bồ” ! Còn bé chúng ta tin lắm, nhưng làm gì có ông Ba Bị như thế !  Khi đã nhìn thấy, trông thấy rõ ràng, khi đã “kiến kỳ hình” một người hay một sự việc rồi thì người ta không thể phủ nhận được

, người ta phải chấp nhận một sự kiện ngay cả khi lòng không muốn.

          Chúng ta có thể sống “đời chứng nhân” theo hai phương diện tích cực và tiêu cực :

          1.  Phương diện tích cực                                          

a)   Trở nên muối đất và ánh sáng thế gian.

 Ta là Kitô hữu, đó là người được mang danh Chúa Kitô. Nhưng người ta có thể thắc mắc có thật là có Chúa Kitô không hay chỉ là một huyền thoại ?  Hay ít ra, người ta không biết Chúa Kitô như thế nào, cần chúng ta phải phác họa cho họ đôi nét về Chúa Kitô. Chúng ta có thể họa cho họ đôi nét trong đời sống được không ?

          Người Kitô hữu có nhiệm vụ họa lại khuôn mặt đích thực của Chúa Kitô và cả con người của Ngài bằng đời sống cụ thể của mình để người ta có thể có vài hình ảnh tốt đẹp về Chúa Kitô. Chúng ta phải thể hiện con người của Đức Kitô ra trong con người của chúng ta để chúng ta dám nói như thánh Phaolô :”Anh em hãy bắt chước tôi như tôi đã bắt chước Chúa Kitô” ! Nói như thế là thánh Phaolô có ý nói rằng Ngài đã được  “Kitô hóa” rồi,  vì Ngài đã nói :”Tôi sống nhưng không phải là tôi, mà Chúa Kitô sống trong tôi”.

          Muốn được thế, cuộc sống của người Kitô hữu phải trở nên muối đất và ánh sáng cho trần gian.  Chúa Giêsu đã dạy cho các môn đệ :”Chính anh em là muối cho đời, nhưng muối mà nhạt đi, thì lấy gì muối nó cho mặn lại ? Nó đã thành vô dụng, thì chỉ còn quăng ra ngoài cho người ta chà đạp thôi.  Chính anh em là ánh sáng trần gian... Ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm. mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời” (Mt 5,13-16).

 Hai hình ảnh xem ra khác nhau nhưng đều giống ở sức tác động tốt :

          - Muối thì thấp hèn, âm thầm và khiêm tốn. Nhưng muối giữ cho môi trường chung quanh nó khỏi hư, lại mặn mà.

          - Ánh sáng thì rực rỡ, huy hoàng. Ánh sáng soi sáng cho người ta biết đường đi, nhận rõ các đồ vật.

          Cả hai đều phải chịu sự hao mòn hy sinh thì mới gây tác động : muối tan dần đi, ngọn đèn nến ngày càng lụn xuống.

          Lý do tồn tại của cả hai là để gây tác động tốt : nếu muối không mặn và đèn không sáng thì không có ích gì nữa và phải bị vất đi.

          Thân phận và hoàn cảnh của mỗi Kitô hữu khác nhau : có người âm thầm hèn mọn như muối, có người rực rỡ huy hoàng như ánh sáng. Nhưng mọi người đều có sứ mạng tác động tốt lên môi trường mình sống. Không tác động tốt thì không còn là Kitô hữu nữa.

          Chính con người của ta phải thể hiện hình ảnh Chúa Kitô ra trong đời sống hằng ngày, để thực sự con người ta là tấm gương phản chiếu Chúa Kitô cho người khác.  Qua cuộc sống tốt đẹp của ta, người ta sẽ thấy Chúa tốt đẹp như thế nào.  Nếu ta đã tốt đẹp như thế, thì Chúa còn tốt đẹp biết dường nào. Đúng là :

 Xem mặt mà bắt hình dong,

Con lợn có béo thì lòng mới ngon.

(Ca dao)

 

Truyện : nhà bác học Louis Pasteur.

          Trên chuyến xe lửa tiến về Paris, người sinh viên trẻ ngồi bên cạnh một cụ già. Chỉ ít phút sau khi đoàn tầu chuyển bánh, cụ rút trong túi áo ra một cỗ tràng hạt và từ từ chìm đắm trong sự cầu nguyện.

          Người sinh viên quan sát cử chỉ của cụ già với vẻ bực bội. Sau một hồi lâu, xem chừng không còn đủ kiên nhẫn, anh ta mới lên tiếng :

          - Thưa ông, ông vẫn còn tin vào những chuyện nhảm nhí à ?

          Cụ già thản nhiên trả lời :

          - Đúng vậy, tôi vẫn tin. Còn cậu, cậu không tin sao ?

          Người sinh viên cười ngạo mạn quả quyết :

          - Lúc nhỏ tôi có tin, nhưng bây giờ làm sao mà tôi có thể tin vào những chuyện ấy được. Khoa học đã thực sự mở mắt cho tôi. Ông cứ tin tôi đi, hãy quẳng chuỗi hạt ấy đi, và hãy học hỏi những khám phá mới. Ông sẽ thấy rằng những gì ông tin từ trước đến giờ đều là mê tín dị đoan.

          Cụ già nhỏ nhẹ hỏi người sinh viên :

          - Cậu vừa nói về những khám phá mới của khoa học. Cậu có cách nào giúp tôi hiểu được điều này không ?

          Người sinh viên hăng hái đề nghị :

          - Ông cứ cho địa chỉ, tôi sẽ gửi đến cho ông một quyển sách. Ông sẽ say mê đi vào thế giới phong phú của khoa học.

          Cụ già từ từ lấy trong túi áo ra một tấm danh thiếp và trao cho người sinh viên. Đọc qua tấm danh thiếp, người sinh viên bỗng xấu hổ đến tái mặt và lặng lẽ rời sang toa khác. Bởi vì trên tấm danh thiếp ấy có ghi : Louis Pasteur, Hàn lâm viện khoa học Paris.

b)   Gia đình củng cố ơn kêu gọi:

          Trước tiên gia đình hãy cầu nguyện cho ơn kêu gọi. Mỗi ngày hãy thêm vào trong giờ kinh tối lời nguyện cầu xin cho ơn kêu gọi. Điều này có tác dụng như một lời nhắc nhở tế nhị cho con em chúng ta cân nhắc ơn gọi đi tu.

          Tiếp đến, mỗi gia đình vun trồng ơn kêu gọi Linh mục và tu sĩ, lo cho gia đình của mình  có nhiều người tận hiến đi truyền giáo, như gia đình ông bà Martin cha mẹ của thánh nữ Têrêsa Hài đồng Giêsu. Để được vậy cha mẹ hãy lo sống đạo đức, làm gương sáng. Năng gợi tư tưởng dâng mình cho Chúa với con cái  mỗi khi trò chuyện thân mật, sau những buổi kinh tối gia đình.

          2. Phương diện tiêu cực.

          Phải tránh cách sống  giả hình mà người ta gọi là “tốt mã giẻ cùi”, chỉ có cái mã bên ngoài, còn bên trong thì chẳng ra cái gì. Phải tập sống trung thực với lòng mình, phải làm cho danh và thực đồng nhất, có thì nói có, không thì nói không. Đừng theo lối sống giả hình như bọn Luật sĩ và Biệt phái, chính cách sống giả hình làm cho họ mất uy tín. Phải sống theo  nguyên tắc :

Hữu ư trung, xuất hình ư ngoại.

          Đừng bao giờ để cho “ngôn hành bất nhất”, đừng để cho cách sống bên ngoài phá hoại đời sống bên trong, làm cho người ta mất tin tưởng. Giả hình sẽ bị lột mặt nạ : cái kim giấu trong túi áo có ngày sẽ lòi ra vì như người ta nói : đi đêm có ngày gặp ma .

          Phải đóng đúng vai trò của mình, vai nào đóng đúng vai đó, càng đúng càng hay : vua cho ra vua, tôi cho ra tôi, cha ra cha, con ra con... theo như đường lối giáo dục của Khổng Tử :”Quân, thần, phụ, tử”.  Đóng đúng vai trò thì được khen, ngược lại thì người ta chê và làm hỏng vai trò mình đóng, lại còn tác hại đến cả vở kịch nữa.

Truyện : Bộ mặt của anh hề.

          Có một gánh xiếc bị hỏa hoạn, ông chủ gánh xiếc sai anh hề chạy đi kêu dân chúng trong làng đến tiếp tay chữa cháy, chẳng vậy lửa bốc to có thể lan sang khu vực họ đang ở. Anh hề vội vàng chạy đi, nhưng anh càng gào thét, múa máy bao nhiêu dân chúng lại càng cười lớn bấy nhiêu, vì họ nghĩ rằng anh hề đang diễn một màn hài hước.

          Thấy không ai tin mình, anh hề giật râu, giật tóc và bật khóc nức nở, khiến khuôn mặt đầy phấn sáp của anh  càng lọ lem hơn. Gào thét hết cả hơi sức, nhưng chẳng có ai tin anh, cuối cùng ngọn lửa cháy lớn lan tới thiêu hủy cả làng ra tro.

          Sống đạo là truyền đạo. Ai cũng biết rằng không có lời rao giảng nào hùng hồn hơn chứng tá của cuộc sống ; không sứ điệp nào đáng tin hơn là gương sáng. Không gì khôi hài bằng đi loan báo tin buồn với khuôn mặt một anh hề, và cũng không gì khôi hài bằng mang tin vui với bộ mặt u buồn của người đi đưa đám.

          Nhiều khi trong cuộc sống đạo, chúng ta cũng mang lấy bộ mặt của những anh hề. Sứ điệp mà chúng ta loan báo không được đón nhận, bởi vì cung cách chúng ta  không phù hợp với nội dung của sứ điệp ấy. Chúng ta loan tin vui cứu độ, nhưng chúng ta có bộ mặt của những người không được cứu rỗi. Chúng ta loan báo tin vui của bác ái, hòa bình, nhưng cuộc sống chúng ta lại chỉ có những hành động của oán thù, ích kỷ, chiến tranh, hận thù  (Chờ đợi Chúa, tr 147).

          Để kết thúc, chúng ta hãy nghe một đoạn văn trích từ lá thư thánh Phanxicô Xavie gửi cho thánh Inhaxiô Loyola, bề trên của ngài :

Con thường cảm thấy bị thôi thúc muốn đi đến các đại học Âu châu đặc biệt là đại học Sorbonne ở Paris và la lên như một gã điên cho những kẻ giầu tri thức hơn là thiện chí để yêu cầu họ sử dụng tri thức của họ sao cho có lợi ích... Phải chi trong khi nghiên cứu về các nhân văn họ cũng đồng thời nghiên cứu sổ kế toán mà Thiên Chúa sẽ đòi hỏi họ về tài năng Ngài đã ban cho họ ! Lúc đó nhiều người hẳn sẽ xúc động thốt lên :”Lạy Chúa, này con đây, Chúa muốn bảo con làm gì” ?

 

Suy niệm Chúa Nhật XI Thường niên năm A: Phục vụ mà không tính toán thiệt hơn

Tác giả: Linh mục Luke Gregory, OFM

Cao Trí biên dịch

TGPSG/Vatican News -- Khi Hội Thánh cử hành Chúa Nhật XI Thường Niên, linh mục Luke Gregory, OFM, suy niệm về chủ đề: “Phục vụ mà không tính toán thiệt hơn”.

Trước cảnh đám đông dân chúng, trái tim đầy yêu thương của Đức Giêsu đã chạnh lòng thương xót những người dường như lạc lối, rối bời và bị bỏ rơi: “như đàn chiên không người chăn dắt”.

Hình ảnh đầy xúc động ấy nhắc nhớ chúng ta về trách nhiệm chung đối với nhau và tính cấp thiết của sự gắn kết con người trong những thời khắc đầy biến động. Trong một thế giới còn nhiều thách đố, Đức Giêsu đã nhận ra nỗi khổ của những người xung quanh Người.

Sự bất an mà những con người ấy trải qua - nhiều người cảm thấy bị bỏ rơi và cần được hướng dẫn - hôm nay cũng mời gọi chúng ta nhìn lại chính cộng đoàn của mình. Mỗi người đều mang trong mình những gánh nặng vô hình, và với tư cách là môn đệ Đức Kitô, chúng ta được mời gọi đáp lại bằng cùng một lòng trắc ẩn và dấn thân như Người đã thể hiện.

Đoạn Tin Mừng làm nổi bật một giáo huấn quan trọng: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít.” Lời ấy vang lên sâu xa, nhắc chúng ta rằng trong khi nhu cầu về lòng thương xót và phục vụ chưa bao giờ lớn như hôm nay, thì sự sẵn sàng dấn thân lại thường không tương xứng.

Đức Giêsu dạy: “Hãy xin Chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa của Người.” Lời mời gọi ấy thúc đẩy chúng ta cầu nguyện và tìm kiếm ơn Chúa, để có thêm những tâm hồn sẵn sàng dâng hiến thời giờ và khả năng cho thiện ích của nhân loại.

Khi suy niệm giáo huấn này, chúng ta được mời gọi nhớ đến các Tông đồ, những người đã được tuyển chọn và trao ban quyền năng để thực thi các việc phục vụ phi thường. Đức Giêsu đã gọi mười hai môn đệ và ban cho các ông quyền trừ quỷ, chữa lành mọi bệnh hoạn tật nguyền.

Hồng ân ấy không phải là điều nhẹ nhàng, nhưng đi kèm với trách nhiệm phục vụ vô vị lợi. Danh sách mười hai Tông đồ, một nhóm đa dạng với những xuất thân và câu chuyện khác nhau, nhắc chúng ta rằng lời mời gọi phục vụ mang tính phổ quát. Từ ông Simon Phêrô và Anrê, những người làm nghề chài lưới, đến Mátthêu, người thu thuế, mỗi người được chọn cho một sứ mạng riêng.

Sự đa dạng ấy cho thấy lời mời gọi phục vụ vượt lên trên địa vị xã hội, hoàn cảnh hay nghề nghiệp, và mang lại niềm hy vọng rằng mỗi người chúng ta đều có thể góp phần trong “mùa gặt” của Chúa.

Khi sai các môn đệ lên đường, Đức Giêsu nhấn mạnh ưu tiên: “Hãy đến với những con chiên lạc của nhà Ítraen.” Lời này cũng gợi mở cho chúng ta suy nghĩ về “những con chiên lạc” trong thế giới hôm nay là ai.

Họ có thể là những người bị gạt ra bên lề, những người đang đau khổ, không có tiếng nói, hoặc những ai đã lạc mất phương hướng đời mình. Mỗi người chúng ta được mời gọi đáp lại nhu cầu của những người xung quanh: gia đình, bạn bè, láng giềng và cộng đồng rộng lớn hơn.

Cùng với sứ điệp được trao ban, chúng ta cũng được mời gọi công bố: “Nước Trời đã đến gần.” Đây vừa là ánh sáng hy vọng vừa là lời mời gọi hành động. Nó nhắc chúng ta rằng ngay cả giữa thất vọng, vẫn luôn có cơ hội đổi mới và chữa lành. Đức tin phải được thể hiện bằng hành động cụ thể trong việc phục vụ tha nhân.

Lệnh truyền: “Hãy chữa lành người đau yếu, làm cho kẻ chết sống lại, thanh tẩy người phong hủi, trừ khử ma quỷ” vẫn vang vọng đến hôm nay. Dù hiểu theo nghĩa đen có thể vượt quá khả năng con người, nhưng tinh thần của lệnh truyền ấy vẫn nguyên giá trị: chúng ta được mời gọi xoa dịu mọi đau khổ nơi bất cứ ai chúng ta gặp gỡ. Những hành vi bác ái, yêu thương và chữa lành không chỉ giới hạn ở thể xác, mà còn bao gồm nỗi đau tinh thần và tâm lý.

Đáng suy nghĩ nhất là lời kết: “Anh em đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy.” Nguyên tắc trao ban vô vị lợi này diễn tả trọn vẹn bản chất của việc phục vụ. Tài năng, thời giờ và của cải của chúng ta không phải để tích lũy cho riêng mình, nhưng để nâng đỡ người khác.

Điều đó thách đố xu hướng tự nhiên của con người là quy đổi mọi giá trị thành lợi ích, và thay vào đó mời gọi chúng ta trao đi với đôi tay rộng mở và con tim quảng đại. Việc phục vụ vừa là ân huệ vừa là trách nhiệm. Mỗi người đều có khả năng, và thực sự có bổn phận, tham dự vào mùa gặt của Thiên Chúa. Dù là phục vụ trực tiếp, tham gia các hoạt động bác ái, hay đơn giản là sống tử tế trong đời thường, chúng ta đều góp phần xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn.

Khi dấn thân vào đời sống cộng đoàn, điều quan trọng là xây dựng bầu khí cảm thông và thấu hiểu. Chúng ta cần nỗ lực tháo gỡ những rào cản gây chia rẽ và mở ra đối thoại dẫn đến chữa lành. Như thế, chúng ta trở nên chứng nhân của tình yêu và ân sủng mà Đức Giêsu đã thể hiện trong sứ vụ của Người.

Hơn nữa, khi chiêm ngắm di sản của các Tông đồ, chúng ta hiểu rằng sứ mạng của các ngài không kết thúc với cuộc đời trần thế, nhưng tiếp tục nơi mỗi thế hệ Kitô hữu. Mỗi thế hệ đều được mời gọi loan báo Tin Mừng và mang ánh sáng Đức Kitô đến cho thế giới.

Ánh nhìn đầy yêu thương của Đức Giêsu từ trái tim nhân hậu của Người vẫn tiếp tục mời gọi chúng ta sống lòng thương xót và hành động cụ thể. Người kêu gọi chúng ta trở nên những thợ gặt trong mùa gặt dồi dào, phục vụ không tính toán, và chia sẻ niềm vui đức tin cách quảng đại. Thế giới hôm nay, cũng như những đám đông năm xưa, vẫn đang cần những người mục tử, những người mang lại hy vọng, chữa lành và tình yêu.

Ước gì chúng ta trở nên những người mục tử ấy, sống theo tinh thần Đức Kitô, cùng nhau xây dựng một cộng đoàn nơi mọi người đều được trân trọng và nâng đỡ. Thật vậy, mùa gặt đang chờ; chúng ta hãy đáp lại với con tim rộng mở và đôi tay sẵn sàng.

Linh mục Luke Gregory, OFM - Dòng Phanxicô, Đất Thánh

 

bài liên quan mới nhất

bài liên quan đọc nhiều

Top