Phụng vụ Lời Chúa: Chúa nhật 4 Thường niên năm A
Xp 2,3 ; 3,12-13; 1 Cr 1,26-31; Mt 5,1-12a
“Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó”
Nước Trời là nơi mà lòng khiêm tốn, hiền lành, niềm vui, công bằng, lòng thương xót, trong sạch, hoà bình, v.v... luôn luôn hiện hữu.
I. CÁC BÀI ĐỌC
1. Bài đọc 1 : Xp 2,3 ; 3,12-13
Đức Chúa đã giấu, đã giữ lại
1. Là một đất nước nằm trên một hành lang quan trọng, ở giữa nhiều quốc gia thù địch và lắm tham vọng, dân Ít-ra-en không thể nào bình chân như vại đứng đó và dửng dưng với mọi biến động của lịch sử. Có lẽ chính vì tương lai của đất nước, vì sự tồn vong của một dân tộc tự nhận mình là dân riêng của Chúa mà họ có những lầm lẫn đáng trách. Các đế quốc đang ào ạt thôn tính xứ này nước nọ, đang tiến quân ngay bên hông Ít-ra-en ; phải làm sao đây ? Phải cầu viện hay phải liên minh ? Phải củng cố quân lực và trang bị vũ khí hay phải tin tưởng tuyệt đối vào Thiên Chúa và sống theo những chỉ thị của Người ?
Chúng ta đang ở vào thế kỷ VII trước Công nguyên, tình hình ở Ít-ra-en thật tồi tệ vì vua Giô-si-gia-hu lên ngôi lúc mới tám tuổi, sau khi cha của ông, vua A-môn bị các thuộc hạ giết chết, vì tân vương còn quá nhỏ, mọi việc triều chính hầu như nằm gọn trong tay các quan đại thần.
Bối cảnh chính trị, xã hội và tôn giáo lúc ngôn sứ Xô-phô-ni-a bắt đầu rao giảng thật là bi thảm. Về đời sống tôn giáo, người ta từ bỏ Thiên Chúa để thờ lạy các ngẫu thần mà vua Mơ-na-se và A-môn đã đưa vào Giu-đa. Về đời sống đức tin, người ta nghi ngờ sự hiện diện và hành động của Thiên Chúa trong lịch sử cũng như trong cuộc đời của họ. Họ chỉ cậy dựa vào vật chất, bạc tiền và không còn mảy may quan tâm đến Thiên Chúa. Về đời sống xã hội và văn hoá, người ta chạy theo những thói đời, những cách sống ngoại lai, từ bỏ chính cái gốc rễ và bản sắc dân tộc của mình. Dân chúng thì như thế, còn các nhà lãnh đạo Ít-ra-en cũng chẳng hơn gì ! Như hậu quả còn sót lại của hai triều vua vô đạo và nhu nhược trước kia, các thủ lãnh thì như sư tử rống, các thẩm phán thì như sói ăn đêm, các ngôn sứ là hạng người khoác lác ba hoa, là những kẻ phản bội, các tư tế làm ô uế Đền Thờ và vi phạm Lề Luật ... Trong bối cảnh đó, ngôn sứ Xô-phô-ni-a được Thiên Chúa sai đến để cảnh cáo, để kêu gọi mọi người thay đổi và canh tân đời sống, may ra sẽ thoát được ngày nổi giận của Chúa. “Ta sẽ dang tay đánh phạt Giu-đa và toàn thể dân cư Giê-ru-sa-lem : Ta sẽ tận diệt khỏi nơi này số còn sót lại của Ba-an và xoá bỏ tên của hàng tư tế bất hợp pháp” (Xp 1,4). Đây là nguồn gốc của bài hát nổi tiếng trong thánh lễ an táng “Dies Irae” (Requiem).
2. Song song với những lời đe doạ, sách ngôn sứ Xô-phô-ni-a cũng gửi một sứ điệp khích lệ đến những người khiêm tốn. Ta thấy sứ điệp của ngôn sứ Xô-phô-ni-a gồm hai khía cạnh : lời đe doạ dành cho những kẻ kiêu căng, ngạo mạn, lời động viên, khích lệ dành cho những ai khiêm nhường, những người thành tâm thiện chí, những người đó không phải sợ cơn thịnh nộ của Chúa : “Hỡi tất cả những ai nghèo hèn trong xứ sở, những kẻ thi hành mệnh lệnh của Đức Chúa, anh em hãy tìm kiếm Người ; hãy tìm sự công chính, hãy tìm đức khiêm nhường thì may ra anh em sẽ được che chở trong ngày thịnh nộ của Đức Chúa.” Ngày thịnh nộ đó, chính là ngày Thiên Chúa thực hiện cuộc tạo dựng mới, ngày huy hoàng cho tất cả những ai đặt trọn niềm tin vào Chúa : cái Ác dưới mọi hình thức sẽ bị huỷ diệt hoàn toàn. Chúng ta đừng quên rằng trong Kinh Thánh, sự báo thù của Thiên Chúa lúc nào cũng chỉ có một nghĩa duy nhất là chống lại cái Ác, luôn muốn dìm con cái Người xuống vực sâu của tội lỗi. Thiên Chúa luôn đồng hành với con cái Người để vực họ dậy, giúp họ tìm lại can đảm, niềm vui để vững vàng tiến bước trên con đường theo Chúa.
3. Chúng ta tham dự vào việc phán xét : Thiên Chúa sẽ không trừng phạt người công chính cùng với kẻ tội lỗi. Tất cả chúng ta đều biết nhân loại gồm hai hạng người : một bên là những người công chính, những người tốt, những người khiêm tốn ; một bên là những kẻ tội lỗi, những kẻ kiêu căng, ngạo mạn. Chúng ta có thể thuộc về một trong hai hạng người đó.
Chủ đề phán xét đi đôi với một chủ đề khác, chủ đề số sót của Ít-ra-en, xuất hiện trong các sách I-sai-a, A-mốt, Mi-kha : đó là một sự quảng diễn, một kiểu diễn tả mới về niềm tin vào sự trung thành của Thiên Chúa ; bởi vì thứ nhất, Thiên Chúa đã chọn Ít-ra-en như là một khí cụ đặc biệt để thực hiện kế hoạch cứu độ của Người dành cho nhân loại ; thứ hai, Thiên Chúa là Đấng trung tín, cho nên dù bất cứ chuyện gì xảy ra, Thiên Chúa vẫn luôn cố gắng sắp xếp để cứu độ ít ra một số sót của dân Ít-ra-en. Ngôn sứ Xô-phô-ni-a lấy lại chủ đề này : khi tất cả mọi điều xấu xa bị huỷ diệt hết khỏi Giê-ru-sa-lem, Thiên Chúa để cho tồn tại một số sót nhỏ bé những người luôn trung thành với Thiên Chúa : Ít-ra-en, “Ta sẽ cho sót lại giữa ngươi một dân nghèo hèn và bé nhỏ ; chúng sẽ tìm nương ẩn nơi danh Đức Chúa. Số dân Ít-ra-en còn sót lại sẽ không làm chuyện tàn ác bất công, cũng không ăn gian nói dối và miệng lưỡi chúng sẽ không còn phỉnh gạt.”
Chúng ta, các Ki-tô hữu, chúng ta cũng hãy sống như vậy : nương ẩn nơi Chúa, đặt trọn niềm tin vào Người, không làm chuyện tàn ác bất công, không ăn gian nói dối, không lừa gạt ai.
2. Đáp ca : Tv 145
Thánh vịnh 145 là một lời xác nhận những người cậy trông Chúa chắc chắn sẽ tìm được hạnh phúc mà mình mong muốn, vì “Chúa là Đấng giữ lòng trung tín mãi muôn đời, xử công minh cho người bị áp bức, ban lương thực cho kẻ đói ăn, giải thoát những ai tù tội, mở mắt cho kẻ mù loà, cho kẻ bị dìm xuống đứng thẳng lên, yêu chuộng những người công chính, phù trợ những khách ngoại kiều, nâng đỡ cô nhi quả phụ, phá vỡ mưu đồ bọn ác nhân. Chúa nắm giữ vương quyền muôn muôn thuở.”
Khi hát thánh vịnh này, dân Ít-ra-en ôn lại toàn bộ lịch sử của mình và dâng lời tạ ơn Thiên Chúa là Cha giàu lòng thương xót, vì chính họ đã bị áp bức bên Ai-cập, bên Ba-by-lon.
Thánh vịnh 145 hôm nay được soạn sau khi dân Ít-ra-en từ chốn lưu đày Ba-by-lon trở về, thấm đẫm niềm vui khi được trở về quê cha đất tổ, vì Thiên Chúa chứng tỏ lòng trung tín của Người.
Dân Ít-ra-en đã trải qua đói khát ở sa mạc Xi-nai trong cuộc Xuất hành, Chúa đã gửi cho họ man-na, chim cút và nước uống thoả thuê. Dần dần, người ta khám phá ra rằng Chúa luôn quan tâm giúp đỡ những người đang gặp hoạn nạn, đau khổ vì bệnh tật, phù trợ những khách ngoại kiều và nâng đỡ cô nhi quả phụ.
Hãy đặt trọn niềm tin vào Thiên Chúa để được hạnh phúc mà ta mong muốn.
3. Bài đọc 2: 1 Cr 1,26-31
Sự khôn ngoan của thế gian và sự khôn ngoan theo Ki-tô giáo
Trong cả đoạn này, thánh Phao-lô đặt cái khôn của loài người đối lập với sự khôn ngoan của Thiên Chúa. Sự khôn ngoan của Thiên Chúa là thể hiện công trình cứu độ toàn diện: công chính hoá, thánh hoá và cứu chuộc loài người. Vì vậy, tất cả các phương tiện Người dùng để hoàn thành công cuộc đó đều được coi là khôn ngoan, tuy loài người cho là điên dại : thập giá, lời rao giảng, những gì yếu kém, hèn mạt, không đáng kể, thánh Phao-lô không lên án phần trí tuệ của khôn ngoan loài người, vì nó là một ân huệ Chúa ban, giúp con người có khả năng nhận biết Thiên Chúa. Hơn nữa, kể từ vua Sa-lô-môn, đó là một nhân đức người ta xin khi cầu nguyện và ngôn sứ I-sai-a nói về sự khôn ngoan như là một ân huệ của Chúa Thánh Thần. Khi nói về Đấng Mê-si-a, ngôn sứ I-sai-a đã nói : “Ta cho Thần Khí Ta ngự trên ngươi, thần khí khôn ngoan và hiểu biết” ; điều đáng lên án là sự khôn ngoan lý sự, tự mãn của phần đông người Hy-lạp hoặc đòi hỏi Thiên Chúa làm theo nguyện vọng của mình, như đa số người Do-thái đòi hỏi. Sức mạnh của Thiên Chúa là dùng chính những gì thế gian cho là điên dại, để thắng cái khôn ngoan của nó, làm cho kế hoạch cứu độ của Người được thành tựu. Khi đối chiếu hai lẽ khôn ngoan trên, thánh Phao-lô cũng nói rõ lập trường hoạt động của ngài : không rập theo óc tính toán của xã hội Cô-rin-tô, nhưng theo đường lối của thập giá Đức Ki-tô.
4. Bài Tin Mừng : Mt 5,1-12a
1. Chúa Giê-su đã khởi đầu sứ vụ công khai của Người, rao giảng Tin Mừng cứu độ với những thành công rực rỡ, với đám đông dân chúng luôn bám theo Người, và Người thấy đã đến lúc cần phải công bố sứ điệp của mình. Thánh Mát-thêu nêu những lời nói của Chúa Giê-su theo kiểu nói của các ngôn sứ thời Cựu Ước : “Người mở miệng giảng dạy họ.” Đây là kiểu nói sê-mít cho thấy tính cách trang trọng của những gì Chúa Giê-su sắp nói với đám đông dân chúng. Mười hai thế kỷ trước, trên một ngọn núi khác, núi Xi-nai, ông Mô-sê đã truyền đạt cho dân chúng Mười Điều Răn của Chúa. Còn trên một ngọn núi ở miền Ga-li-lê, Chúa Giê-su đi xa hơn nữa khi mặc khải về một cách thức mới để sống các điều răn này. Người trình bày sự nghịch lý mà thánh Phao-lô nói đến trong thư gửi tín hữu Cô-rin-tô, sự nghịch lý giữa khôn ngoan của Thiên Chúa hoàn toàn trái ngược với khôn ngoan của loài người.
2. Mỗi câu trong bài Tin Mừng bắt đầu bằng từ “Phúc thay” rất quen thuộc trong Cựu Ước, một lời chúc mừng đẹp nhất. Bằng cách này, Chúa Giê-su mời gọi chúng ta có một cái nhìn khác, nhìn mọi sự việc với cái nhìn của chính Thiên Chúa. Người cho ta thấy sự hiện diện của Nước Trời ở trong những tình trạng mà chúng ta không trông đợi : tâm hồn nghèo khó, hiền lành, sầu khổ, khát khao nên người công chính, thương người, xây dựng hoà bình. Việc khám phá này hoàn toàn trái ngược với những gì người ta thường nghĩ. Ta có thể nói tất cả các mối phúc đều hiện hữu trong mối phúc đầu tiên : “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ.” Ở đây, Chúa Giê-su không hề lý tưởng hoá sự khó nghèo vật chất đâu. Kinh Thánh luôn trình bày sự nghèo khó là một sự dữ mà ta cần phải vượt thắng. Tuy nhiên, trước tiên ta cần phải nói rằng đám đông theo Chúa Giê-su không phải là những người quan trọng, có ảnh hưởng trong xã hội Do-thái lúc bấy giờ. Thứ hai, từ “người nghèo” trong Cựu Ước không bao giờ liên quan gì đến tài khoản ở ngân hàng cả : người nghèo theo nghĩa Kinh Thánh (anawim) là những người không có tâm hồn cao ngạo hoặc cái nhìn kiêu căng. Người ta gọi là những người lưng còng. Đó là những người bé mọn, khiêm tốn theo ngôn ngữ của các ngôn sứ. Họ không nổi tiếng và hài lòng về chính bản thân mình, nhưng họ cảm thấy mình còn thiếu một cái gì đó, mà chỉ một mình Thiên Chúa mới có thể ban cho họ những gì họ còn thiếu. Chúng ta lại thấy ở đây dưới ngòi bút của thánh Mát-thêu một tiếng dội của dụ ngôn người Pha-ri-sêu và người thu thuế. Người Pha-ri-sêu thấy mình là một người rất đạo đức và cảm thấy mình không cần đến ơn cứu độ của Thiên Chúa nữa, vì tâm hồn ông tràn ngập cái tôi của mình ; trong khi người thu thuế, tự nhận mình là kẻ tội lỗi, nên ông hướng về Thiên Chúa và chờ đợi Người ban ơn cứu độ, và Chúa đã ban cho ông như lòng ông mong ước.
3. Vấn đề ta bàn ở đây là “tinh thần nghèo khó”, nghĩa là ta đề cập đến “người tìm Chúa làm nơi ẩn náu của mình”, như ngôn sứ Xô-phô-ni-a đã nói, ai cần Chúa, sẽ nhận được ơn Chúa như là quà tặng của cuộc đời để phục vụ Nước Trời. Điều đặc biệt quan trọng đối với chúng ta là bắt chước Chúa Giê-su. Người là người nghèo tuyệt vời nhất, hiền lành và khiêm nhường trong lòng. Bài Tin Mừng hôm nay đưa ra một dung mạo của chính Chúa Giê-su. Ta thấy Người hiền lành và hay thương xót, chạnh lòng thương trước nỗi thống khổ của con người, tha cho những kẻ đã giết mình, khóc trước sự đau khổ của những người này, sự cứng lòng của những người khác, đói khát sự công chính và chấp nhận bị bách hại, nhất là luôn sống “tinh thần nghèo khó”, nghĩa là chờ đợi tất cả từ Chúa Cha và tạ ơn Chúa Cha vì đã “mặc khải” điều ấy cho những người bé mọn (chuyện các thiếu niên Do-thái ở Ba-by-lon trong sách Đa-ni-en). Ta cũng có thể đọc bài Tin Mừng hôm nay như là một mô tả về Nước Trời : đó là nơi mà lòng khiêm tốn, hiền lành, niềm vui, công bằng, lòng thương xót, trong sạch, hoà bình, v.v... luôn luôn hiện hữu.
Kết: Một khi đã gia nhập Nước Trời qua bí tích Thánh Tẩy và bằng lòng tin vào lời Chúa Giê-su, các mối phúc trở thành chương trình sống của chúng ta như sau : nếu tin vào Chúa Giê-su, thì nghèo khó, hèn mọn, sầu khổ không hẳn là bất hạnh, mà trái lại, của cải, danh vọng và sung sướng lại có thể trở thành trở ngại cho con người tìm được hạnh phúc mà mình mong muốn. Ba mối phúc đầu dạy ta phải vượt qua được những trở ngại đó. Ba mối phúc tiếp theo giúp xây dựng đời sống trên ba cơ sở vững chắc, theo ba hướng căn bản : Thiên Chúa (khát khao nên người công chính), tha nhân (thương người) và bản thân (tâm hồn trong sạch). Phúc thứ bảy nói đến sứ mạng hoà giải của người môn đệ : biến cả thế giới thành một gia đình, trong đó mọi người đều là anh em, cùng một Cha với nhau trong Chúa Giê-su. Cuối cùng, phúc thứ tám là tột đỉnh của đời sống người môn đệ, được đồng hoá với Thầy của mình.
Ta hãy sống theo tinh thần “tám mối phúc thật”, vì đó là con đường dẫn ta tới hạnh phúc mà mỗi người chúng ta trông đợi.
Cầu nguyện :
Lạy Chúa Giê-su, “tám mối phúc thật” có thể nói là “Hiến chương Nước Trời” mà người Ki-tô hữu chúng con phải nỗ lực sống trong đời sống đức tin thường ngày. Xin Chúa ban thêm ơn trợ giúp cho tất cả chúng con.
Tự vấn :
Chúng ta đã sống tinh thần nghèo khó của “tám mối phúc thật” chưa?
II. LỜI NGUYỆN TÍN HỮU
Chủ tế: Anh chị em thân mến, Chúa Giêsu đã đến công bố các mối phúc Nước Trời và Người đã chỉ cho chúng ta con đường đích thật để đạt đến hạnh phúc ấy. Với tâm tình lắng nghe và đáp lại lời dạy của Chúa, chúng ta cùng dâng lời nguyện xin.
- Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó. Xin cho mọi thành phần trong Hội Thánh biết sống thanh thoát trước của cải, vật chất và những gì đối nghịch lại với tinh thần của Tin Mừng trên bước đường lữ hành trần thế, để được chính Chúa là nguồn Bình an và Hạnh phúc đích thật trong cuộc sống hiện tại và đời sống vĩnh cửu mai sau.
- Phúc thay ai xây dựng hoà bình. Xin cho các nhà lãnh đạo trên thế giới biết đề cao phẩm giá của con người và sự chung sống hòa bình giữa các dân nước, để góp phần kiến tạo một nền hòa bình bền vững dựa trên tinh thần công bình, chính trực và thắm đượm tình bác ái.
- Phúc thay ai sầu khổ. Xin cho những ai đang gặp những đau khổ và thất vọng trong cuộc sống, biết giữ vững lòng trông cậy nơi Chúa, để giữa những nỗi gian truân họ luôn cảm nhận được niềm ủi an của Chúa, và giữa bao thử thách họ có Chúa là sức mạnh để vượt qua.
- Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính. Xin cho mỗi người trong cộng đoàn chúng ta đang quy tụ nơi đây, biết can đảm sống những giá trị yêu thương của Tin Mừng trong những hoàn cảnh hiện tại, hầu trở nên những chứng nhân đích thực cho tình yêu của Chúa giữa xã hội hôm nay.
Chủ tế: Lạy Cha, là Đấng hằng yêu thương và dẫn dắt chúng con đến nguồn hạnh phúc đích thực. Xin ban Chúa Thánh Thần để chúng con biết lắng nghe tiếng Chúa Kitô, Con Cha, và hằng trung thành sống những mối phúc thật mà Người đã dạy, để đạt đến hạnh phúc vĩnh cửu là Nước Trời mai sau. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô Chúa chúng con.
bài liên quan mới nhất
- Phụng vụ Lời Chúa: Chúa nhật 3 Thường niên năm A
-
Phụng Vụ Lời Chúa: Chúa nhật 2 Thường niên năm A -
Phụng vụ Lời Chúa: Chúa nhật Lễ Chúa Giêsu chịu phép Rửa năm A -
Phụng vụ Lời Chúa: Lễ Chúa Hiển Linh năm A -
Phụng vụ Lời Chúa: Lễ Thánh Gia Thất năm A -
Phụng vụ Lời Chúa: Chúa nhật 4 mùa Vọng năm A -
Phụng vụ Lời Chúa: Chúa nhật 3 mùa Vọng năm A -
Phụng vụ Lời Chúa: Chúa nhật 2 mùa Vọng năm A -
Phụng vụ Lời Chúa: Chúa nhật 1 mùa Vọng năm A -
Phụng vụ Lời Chúa: Chúa nhật 33 Thường niên năm C - Lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam
bài liên quan đọc nhiều
- Phụng vụ Lời Chúa: Chúa nhật lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống
-
Phụng vụ Lời Chúa: Chúa nhật Lễ Thánh Gia Thất năm C -
Phụng Vụ Lời Chúa: Chúa nhật 25 Thường niên năm C -
Phụng vụ Lời Chúa: Chúa nhật 1 mùa Vọng năm B -
Phụng vụ Lời Chúa: Chúa nhật 30 Thường niên năm B - Chúa nhật Truyền giáo -
Phụng vụ Lời Chúa: Chúa nhật 3 Thường niên năm C -
Phụng vụ Lời Chúa: Chúa nhật 1 mùa Chay năm C -
Phụng vụ Lời Chúa: Chúa nhật 2 mùa Vọng năm C -
Phụng vụ Lời Chúa: Lễ Chúa Hiển Linh -
Phụng vụ Lời Chúa: Chúa nhật 2 Thường niên năm B