Đức Hồng y Parolin: Chuyến thăm Pháp của Đức Giáo hoàng soi sáng sự sống, hòa bình và châu Âu

Tác giả: Massimiliano Menichetti

Xuân Đại biên dịch

TGPSG/Vatican News -- Quốc vụ khanh Tòa Thánh hướng tới chuyến thăm Pháp và UNESCO của Đức Giáo hoàng, nhấn mạnh “nền ngoại giao gặp gỡ” và những “nỗ lực sáng tạo” có khả năng giải thoát châu Âu khỏi lối tư duy bạo lực.

Có sự mong đợi lớn đối với chuyến Tông du quốc tế lần thứ năm của Đức Giáo hoàng Lêô XIV. Trong chuyến đi này, ngài sẽ củng cố đức tin của các tín hữu Pháp và mang ánh sáng của Đức Kitô, Đấng có khả năng đổi mới mọi tâm hồn.

Ngài sẽ nói với một xã hội đa văn hóa, thế tục và ngày càng thế tục hóa, nơi số người trưởng thành trẻ tuổi dự tòng đang gia tăng. Ngài sẽ đề cập đến những vấn đề trọng tâm như bảo vệ sự sống, xây dựng hòa bình, những thách đố do trí tuệ nhân tạo đặt ra và căn tính của châu Âu.

Đức Giáo hoàng nhìn về nước Pháp như một quốc gia được mời gọi dựa vào truyền thống văn hóa, nhân văn và ngoại giao của mình để tái khám phá và củng cố sự hiểu biết về con người và mối tương quan của con người với Đấng Tạo Hóa. Thách đố còn là làm sống lại những cội nguồn Kitô giáo của Cựu Lục địa, vốn khẳng định tính thánh thiêng của sự sống và kêu gọi xây dựng những nhịp cầu, những con đường đối thoại theo hướng đa phương, vốn ngày nay đang bị suy yếu nghiêm trọng.

Đối với Quốc vụ khanh Tòa Thánh, Đức Hồng y Pietro Parolin, niềm hy vọng là “chuyến đi này có thể tạo nên một động lực mới: một xưởng mở rộng lớn về tư tưởng và hành động, nơi những người có niềm tin và không có niềm tin có thể cùng bước đi và làm việc với nhau.”

Thưa Đức Hồng y, khẩu hiệu được chọn cho chuyến Tông du sắp tới của Đức Giáo hoàng là: “Để thế giới được sống”. Khẩu hiệu này muốn chuyển tải cách cụ thể sứ điệp nào từ nước Pháp?

Khi nghĩ đến sự sống mà thế giới cần, có ba khía cạnh hiện lên trong tâm trí.

Trước hết là sự sống tự nhiên. Chắc chắn, sứ điệp đầu tiên chúng ta muốn chuyển tải là giá trị của sự sống con người, vốn phải được đón nhận, yêu thương và chăm sóc từ lúc thụ thai cho đến khi chết tự nhiên. Bối cảnh hiện nay tại nhiều quốc gia có xu hướng đưa ra và biện minh cho những thực hành, thậm chí cả những luật lệ, không tôn trọng giá trị này.

Trong bối cảnh tỷ lệ sinh đang giảm tại châu Âu, chuyến đi đến Pháp mang lại cơ hội tái khám phá sự sống như một món quà cần được đón nhận với lòng biết ơn và trách nhiệm. Nhưng sự sống thể xác sẽ là gì nếu không có linh hồn? Điều này đưa tôi đến ý nghĩa thứ hai, đó là sự sống tinh thần.

Ngày nay, nước Pháp nổi bật với số lượng lớn người trưởng thành trẻ tuổi đang học giáo lý dự tòng. Đây là một cơ hội để làm nổi bật cơn khát đời sống tinh thần đang hiện diện trong thế giới hôm nay. Đằng sau khẩu hiệu “để thế giới được sống”, người ta có thể đọc thấy “để thế giới tin”. Bởi không có sự sống của thân xác nếu không có sự sống của linh hồn.

Cuối cùng, công trình tuyệt vời trong việc tái thiết Nhà thờ Đức Bà Paris cho thấy tay nghề thủ công và lao động trí tuệ mà con người ngày nay có khả năng thực hiện. Vì thế, trong một thế giới ngày càng công nghệ hóa và nhân tạo hóa, khẩu hiệu của chuyến đi đến Paris giúp hướng sự chú ý đến sức sống sáng tạo của con người. Ước gì việc sử dụng các công nghệ mới, trong đó có AI, không bao giờ khiến nhân loại quên đi khía cạnh này của sự sống.

Đức Giáo hoàng sẽ đến thăm UNESCO, nơi dành cho văn hóa, giáo dục và sự hợp tác giữa các dân tộc. Cùng với chính trị, văn hóa và giáo dục có thể đóng vai trò như thế nào trong việc xây dựng hòa bình? Và Giáo hội có thể đóng vai trò gì trong tiến trình này?

Trong Magnifica humanitas, Đức Giáo hoàng Lêô XIV nhấn mạnh sự cần thiết phải chuyển từ “văn hóa quyền lực” sang “văn hóa thương lượng”, trong đó “đối thoại và các mối quan hệ ngoại giao trở thành phương thức thông thường để giải quyết các xung đột” (số 221). Đây là một sự chuyển đổi về văn hóa trước khi là một sự chuyển đổi về chính trị; trên thực tế, điều này đòi hỏi phải giáo dục con người, đặc biệt là các thế hệ trẻ, nhìn nhận việc tương tác với người khác không phải là một sự yếu đuối nhưng là một hình thức trách nhiệm, và nhìn nhận đối thoại như một phương thế xây dựng công ích.

Đương nhiên, chính trị có một trách nhiệm không thể thay thế: phải xây dựng các thể chế công bằng, bảo vệ pháp luật và tìm kiếm các giải pháp cho xung đột thông qua ngoại giao. Nhưng nếu chỉ dựa vào chính trị thì có nguy cơ can thiệp quá muộn khi những chia rẽ đã trở nên sâu sắc. Văn hóa và giáo dục có thể có tác động sớm hơn nhiều, giúp hình thành những con người biết nhìn nhận người khác như anh chị em trong tình đồng loại, thay vì coi họ là kẻ thù.

Từ góc nhìn này, UNESCO là một nơi đặc biệt có ý nghĩa: một nơi mà văn hóa và giáo dục trở thành những phương tiện cụ thể của sự hợp tác giữa các dân tộc. Một trường học, một trường đại học, một viện bảo tàng, một không gian văn hóa có thể trở thành những phòng thí nghiệm đích thực của hòa bình khi dạy con người hiểu lịch sử của người khác, phân biệt sự thật với tuyên truyền, đối thoại không sợ hãi và nhận ra điều gì, vượt lên trên những khác biệt, làm nên con người chúng ta.

Và ở đây tôi cũng thấy vai trò của Giáo hội, trong việc đáp lại ơn gọi đặc thù của mình: giúp đào luyện lương tâm dưới ánh sáng Tin Mừng, xây dựng những nhịp cầu, giáo dục con người hướng đến gặp gỡ và lên tiếng thay cho những người có nguy cơ không có tiếng nói. Tự bản chất, Giáo hội được mời gọi trở thành một không gian nơi con người, các dân tộc và những nền văn hóa khác nhau học cách lắng nghe nhau, hiểu biết nhau và nhận ra nhau trong phẩm giá chung là con cái Thiên Chúa.

Mối tương quan giữa đức tin và lý trí là một trong những chủ đề lớn của truyền thống văn hóa Pháp. Trong một xã hội được định hình bởi công nghệ và trí tuệ nhân tạo, tư tưởng Kitô giáo có thể đóng góp gì hôm nay cho câu hỏi về ý nghĩa đích thực của việc làm người?

Theo một nghĩa nào đó, đây là một đóng góp mang tính đặc thù của Kitô giáo, được thúc đẩy bởi mầu nhiệm Nhập Thể để suy nghĩ lại và hiểu thế nào là con người dưới ánh sáng Mặc Khải. Công đồng Vaticanô II là một thời điểm nền tảng trong sứ mạng phục vụ nhân loại này vào thế kỷ trước, và trong những tháng qua, Đức Giáo hoàng Lêô đã đề cập đến những nội dung chính của Công đồng trong các bài giáo lý của ngài.

Hơn nữa, sự đón nhận tích cực đối với Thông điệp đầu tiên của ngài, Magnifica humanitas, cho thấy trên toàn thế giới đang gia tăng nhu cầu tìm kiếm một lời có khả năng hướng dẫn con người và các xã hội trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ và trí tuệ nhân tạo. Chúng ta đã thấy điều này qua các Thông điệp Laudato si’ và Fratelli tutti của Đức Giáo hoàng Phanxicô, với những sứ điệp về sinh thái toàn diện và tình huynh đệ nhân loại.

Trước những thách đố ngày càng lớn, chúng ta có thể nhận thấy sự quan tâm ngày càng gia tăng đối với điều mà Thánh Phaolô VI đã gọi là “nền văn minh tình thương”, hướng tới và kêu gọi một hướng phát triển khác, theo chiều hướng phát triển con người toàn diện.

Ngày nay, trước những đau khổ của biết bao con người và những tổn hại gây ra cho toàn bộ các hệ sinh thái, điều đặc biệt cần thiết là tăng cường suy tư, đối thoại xã hội và lắng nghe tiếng lương tâm. Giáo hội mong muốn góp phần vào điều này bằng cách cho thấy đức tin và lý trí làm phong phú cho nhau như thế nào và cùng hướng đến việc phục vụ sự sống.

Ngày nay, Giáo hội có thể đối thoại với những người không tin như thế nào?

Về vấn đề này, cần nói rằng đối thoại luôn diễn ra giữa những con người với nhau và càng chân thực khi những người đối thoại càng ít giam hãm nhau trong các phạm trù và định nghĩa. Luôn có những điểm chung cần được nhận ra và trở thành nơi gặp gỡ, ngay cả giữa những người thuộc các nền văn hóa và có những nhạy cảm khác nhau.

Những người thuộc Giáo hội Công giáo và đại diện cho Giáo hội trong những vai trò khác nhau phải tìm kiếm điều hiệp nhất và thúc đẩy gặp gỡ, rồi xác định rõ và đào sâu những điều chưa được chia sẻ. Đây là một cách thế mà các cá nhân và cộng đoàn phải trưởng thành trong đó; không ai có thể một lần là đạt được vĩnh viễn, và cách thế này không ít khi phải đối diện với những căng thẳng có thể gây tổn thương và khiến con người xa cách nhau.

Cụ thể hơn, đối thoại với những người không tin đã được khuyến khích trong Tân Ước. Tôi muốn nêu bật hai khía cạnh được trình bày trong đó: bổn phận của các Kitô hữu luôn trả lời với sự hiền hòa và kính trọng bất cứ ai hỏi về lý do của niềm hy vọng nơi mình (x. 1 Pr 3,15); và sự sẵn sàng nhận ra rằng công trình của Thiên Chúa là tự do và đi trước chúng ta, thậm chí làm chúng ta ngạc nhiên ở những nơi chúng ta chưa đến.

Đức tin là một hồng ân, và không ai có thể đo lường đức tin của người khác, có lẽ ngay cả đức tin của chính mình. Tuy nhiên, chẳng hạn tại Pháp, ngày nay chúng ta đang chứng kiến một khát vọng mới đối với hồng ân này, một mối quan tâm được đổi mới đối với lời Tin Mừng, và những lựa chọn của người trẻ cũng như người trưởng thành cho thấy đức tin vẫn có một tương lai, ngay cả tại những nơi dường như sự không tin đang chiếm ưu thế.

Tòa Thánh mong đợi điều gì từ Pháp và châu Âu trong việc thúc đẩy hành động ngoại giao vào thời điểm đặc biệt nhạy cảm này trong lịch sử châu Âu và thế giới? Paris có thể một lần nữa trở thành động lực cho một chính sách châu Âu được xây dựng không chỉ trên an ninh, mà còn trên hòa giải, liên đới và chủ nghĩa đa phương hay không?

Ngoại giao Tòa Thánh không ngừng khẳng định rằng hòa bình không thể bị giản lược thành việc đơn thuần cân bằng các lực lượng, cũng không thể là một sự ổn định mong manh chỉ được bảo đảm bằng răn đe và chạy đua vũ trang.

Trước những rạn nứt sâu sắc đang gây tổn thương cho lục địa châu Âu và bối cảnh toàn cầu hôm nay, niềm hy vọng chúng tôi bày tỏ đối với Pháp và châu Âu là họ có thể tái khám phá tầm nhìn táo bạo và sự nhìn xa trông rộng từng truyền cảm hứng cho những người cha sáng lập dự án châu Âu.

Paris, nhờ lịch sử văn hóa, truyền thống pháp lý nổi bật và ơn gọi nhân văn sâu sắc, có những nguồn lực tinh thần và chính trị để tạo động lực mới cho một chủ nghĩa đa phương hiện đang bị suy yếu nghiêm trọng.

Dĩ nhiên, điều này không có nghĩa là xem nhẹ những yêu cầu chính đáng về an ninh; đúng hơn, đó là hiểu rằng một nền hòa bình đích thực và lâu bền không bao giờ có thể được xây dựng chống lại một ai đó, nhưng luôn được xây dựng cùng với người khác, thông qua một cấu trúc chung của hòa giải và đối thoại, vừa đòi hỏi nhiều nỗ lực vừa cần sự kiên nhẫn.

Được bén rễ trong những nguồn mạch của lịch sử Kitô giáo lâu đời, vốn làm cho nước Pháp trở thành “trưởng nữ của Giáo hội”, và kín múc sức mạnh từ di sản nhân văn phong phú, ngày nay nước Pháp được mời gọi tôn trọng sứ mạng cao quý này, tiếp tục làm cho những lý tưởng tự do, bình đẳng và huynh đệ tỏa sáng trên thế giới.

Vì thế, Tòa Thánh tin tưởng rằng nước Pháp sẽ biết cách thực hiện “nỗ lực sáng tạo” cần thiết hướng đến sự hòa hợp, để châu Âu không khép mình trong những nỗi sợ hãi, nhưng một lần nữa khẳng định mình như một phòng thí nghiệm phong phú của tình liên đới, sự đón tiếp và hội nhập đích thực.

Sự vĩ đại đích thực của một quốc gia được đo lường chính xác bằng khả năng không ngừng kết hợp lòng trung thành với luật pháp quốc tế với việc liên tục bảo vệ phẩm giá con người.

Bằng cách từ chối lối tư duy định mệnh và kiên quyết đầu tư vào điều mà Đức Thánh Cha gọi là “nền ngoại giao gặp gỡ”, Paris có thể đóng góp quan trọng để Cựu Lục địa không trở thành một pháo đài biệt lập, nhưng vẫn là ngọn hải đăng của hy vọng, công lý và hòa giải cho toàn thể cộng đồng quốc tế.

Chuyến đi diễn ra sau khi Pháp thông qua luật về trợ tử. Vấn đề sự sống như một thiện ích bất khả xâm phạm chắc chắn sẽ trở thành tâm điểm chú ý. Đức Giáo hoàng Lêô XIV muốn chuyển tải sứ điệp gì về vấn đề này?

Trước mầu nhiệm đau khổ, bệnh tật và sự mong manh vốn liên kết mọi con người với nhau, tiếng nói của Đức Thánh Cha sẽ không vang lên như một lời cảnh báo trừu tượng và cứng nhắc, nhưng đúng hơn là một lời kêu gọi mạnh mẽ hướng đến trách nhiệm chung gắn kết chúng ta với nhau, đặc biệt khi sự sống trở nên yếu đuối và dễ bị tổn thương hơn.

Rõ ràng Tòa Thánh nhìn nhận những thay đổi pháp luật như vậy với mối quan ngại sâu sắc và sự quan tâm sát sao. Lập trường của Giáo hội về vấn đề này đã được biết rõ: Giáo hội luôn bảo vệ sự sống trong mọi giai đoạn, biểu hiện và chiều kích, từ lúc thụ thai cho đến khi chết tự nhiên.

Đức Giáo hoàng Lêô XIV sẽ nhắc lại rằng lòng trắc ẩn đích thực trước đau khổ không hệ tại ở việc tạo điều kiện hoặc đẩy nhanh việc chấm dứt sự sống, nhưng là không bao giờ bỏ mặc bất cứ ai trong sự cô độc của đau khổ.

Bổn phận không thể thương lượng của một xã hội dân sự là “chăm sóc”, bằng cách đưa ra những đáp ứng cụ thể về sự gần gũi, chăm sóc và yêu thương. Theo nghĩa này, lời kêu gọi của Đức Giáo hoàng dành cho nước Pháp sẽ là một lời mời gọi chân thành tái khám phá những cội nguồn sâu xa nhất của chủ nghĩa nhân văn nơi mình, bằng cách củng cố một cách hữu hiệu và toàn diện việc chăm sóc giảm nhẹ và chăm sóc toàn diện con người.

Lựa chọn đồng hành với đau khổ có nghĩa là đầu tư vào một liên minh xã hội không thoái thác trước sự mong manh, nhưng có trách nhiệm đảm nhận điều đó. Phẩm giá nội tại của con người không gắn với các tiêu chí về hiệu năng hay tình trạng sức khỏe sinh học.

Vì thế, sự đáp ứng của Nhà nước và xã hội trước đau khổ không thể mang hình thức đưa ra những lựa chọn có nguy cơ, theo thời gian, trở thành một hình thức áp lực xã hội được che đậy hoặc một lối tắt làm gia tăng tình trạng bỏ mặc những người cô độc.

Những lời của Đức Giáo hoàng sẽ đề cập đến ngã rẽ tế nhị này với sự nhạy bén của một Vị Mục tử và sự rõ ràng của Đấng Kế vị Thánh Phêrô, không chỉ nói với các tín hữu mà còn với lương tâm của mọi người thiện chí.

Niềm hy vọng sâu xa là châu Âu, và đặc biệt là nước Pháp, sẽ tiếp tục đặt khế ước xã hội của mình trên nguyên tắc nền tảng là bảo vệ phẩm giá con người, trong đó việc chăm sóc và bảo vệ sự sống đang mang dấu ấn của đau khổ luôn là thước đo đích thực cho sự tiến bộ của một nền văn minh.

Đức Giáo hoàng sẽ đến Lộ Đức, điểm đến của nhiều cuộc hành hương và là nơi đau khổ cùng sự mong manh của con người trở thành lời cầu nguyện và niềm hy vọng. Ngày nay, Lộ Đức khẳng định điều gì?

Lộ Đức, hôm nay cũng như hôm qua, biểu lộ sự dịu dàng của Mẹ Thiên Chúa đối với nhân loại. Tại Hang đá Massabielle, các tín hữu Công giáo và nhiều người khác từ khắp nơi trên thế giới đến để phó thác những đau đớn, đau khổ, hy vọng và lời tạ ơn của mình.

Qua đó, Lộ Đức biểu lộ sự hiệp nhất của nhân loại, vốn nhận ra nơi Đức Maria hình ảnh người mẹ lắng nghe và an ủi. Khi một chi thể đau khổ, toàn thân cùng đau khổ; và khi một chi thể được chữa lành, toàn thân cũng được nâng lên.

Vì thế, tại Lộ Đức, người ta cảm nghiệm tình huynh đệ trong sự sống: sự sống được yêu thương, sự sống được chăm sóc, sự sống đôi khi phải chịu đau khổ, nhưng luôn là một sự sống được chia sẻ, bởi đó là hồng ân vô giá của Thiên Chúa, làm cho tất cả chúng ta trở thành anh chị em trong nhân loại.

Đức Giáo hoàng Lêô cũng sẽ đến Metz, thành phố gắn liền với nhân vật Robert Schuman, một trong những người cha sáng lập châu Âu cùng với De Gasperi và Adenauer, những người nhìn nhận hòa giải giữa các dân tộc là con đường xây dựng một lục địa mới. Tầm nhìn Kitô giáo nguyên thủy về châu Âu ấy gợi nhắc điều gì cho chúng ta?

Khi đọc các văn bản của Schuman cũng như của những người cha sáng lập khác, có thể thấy rõ rằng nền tảng ý tưởng của họ về châu Âu là khái niệm “tình huynh đệ Kitô giáo”.

Sau những kinh hoàng của Thế chiến thứ hai, vốn là đỉnh điểm tiêu cực của bạo lực huynh đệ tương tàn, được thúc đẩy bởi một quan niệm rõ ràng về sự thống trị của người này trên người khác, dưới ánh sáng của một quan niệm về nhân loại không còn lấy Thiên Chúa làm điểm quy chiếu và tin rằng mình không có giới hạn trong việc sử dụng quyền lực, tình huynh đệ Kitô giáo, ngược lại, đề xuất một sự tôn trọng sâu xa đối với người thân cận, người mà mỗi người được mời gọi yêu thương như chính mình, trong tư cách làm con phát xuất từ một Người Cha chung.

Những giá trị nền tảng của con người, như tự do, bình đẳng và phẩm giá của lao động, vốn nằm trong số những giá trị châu Âu được nhắc đến trong các Hiệp ước, chính là tìm thấy nền tảng nơi ý tưởng về tình huynh đệ Kitô giáo này.

Vì thế, tôi cho rằng điều quan trọng là phải ghi nhớ rằng chúng ta không thể tiếp tục duy trì và thực hiện cụ thể những giá trị này mà không nhìn nhận rằng châu Âu hiện đại, theo tư tưởng và ý hướng của những người sáng lập, đã phát sinh từ chính Kitô giáo, vốn giống như men làm cho bột dậy lên.

Từ góc độ tình huynh đệ này, người ta có thể hiểu được logic chia sẻ nguồn lực mà Schuman đã đề ra trong Tuyên bố của mình: biến than và thép thành công cụ cho sự hợp tác và phát triển thay vì là cái cớ cho những tranh chấp mới, đồng thời khiến cho một cuộc chiến tranh mới giữa các bên từng tham chiến không chỉ trở nên phi lý về mặt tư duy mà còn bất khả thi về mặt thực tế.

Trong năm qua, Đức Giáo hoàng đã nhiều lần lên tiếng phản đối việc tái vũ trang và sự phi lý của việc gia tăng mạnh mẽ các nguồn lực dành cho vũ khí. Châu Âu có thể tìm lại vai trò gì để vẫn trung thành với tinh thần của các nhà sáng lập?

Tuyên ngôn Schuman năm 1950 mở đầu bằng câu: “Hòa bình thế giới không thể được bảo đảm nếu không có những nỗ lực sáng tạo tương xứng với những nguy hiểm đang đe dọa hòa bình.”

Khi hòa bình bị đe dọa, người ta có thể chỉ theo đuổi câu ngạn ngữ si vis pacem para bellum, “muốn có hòa bình, hãy chuẩn bị chiến tranh”, hoặc có thể thực hiện những “nỗ lực sáng tạo”, như việc thành lập Cộng đồng Than Thép châu Âu.

Trực giác này đã chấm dứt tinh thần phục thù giữa người Đức và người Pháp, đồng thời mở ra thời kỳ hòa bình kéo dài mà chúng ta vẫn đang được hưởng.

Ngày nay, những “nỗ lực sáng tạo” cũng vẫn có thể thực hiện được, bằng cách dựa trên kinh nghiệm đối thoại đã được phát triển trong nhiều thập niên qua giữa các thể chế của Cộng đồng và giữa các Quốc gia Thành viên.

Tuy nhiên, những “nỗ lực” như vậy đòi hỏi mọi người phải nhận thức rõ rằng những thách đố trước mắt chỉ có thể được giải quyết khi ý tưởng này trưởng thành: châu Âu không phải là một cấu trúc bên trên, nhưng là một cơ thể thực sự, trong đó sự đa dạng của các thành viên được hài hòa bởi một tầm nhìn chung và một ý chí chung trong lĩnh vực chính sách đối ngoại.

Theo nghĩa này, một châu Âu có khả năng phát triển một tầm nhìn ngoại giao chung có thể tận dụng tốt hơn khả năng đàm phán của mình và sử dụng sức thuyết phục về mặt luân lý, ngay cả trước những người cho rằng đe dọa sử dụng vũ lực có sức thuyết phục hơn.

Có lẽ chính điều này làm nên nỗ lực sáng tạo: giúp mọi người hiểu rằng một lời nói có sức thuyết phục, được nói rõ ràng bằng một tiếng nói chung, mạnh mẽ hơn bất kỳ sự phô trương sức mạnh nào.

Hy vọng cá nhân của Đức Hồng y về chuyến đi này là gì?

Tôi hy vọng rằng chuyến Tông du này sẽ không chỉ dừng lại trong phạm vi đưa tin của báo chí, nhưng có thể khởi đầu một tiến trình sinh động, một hành trình dài hạn có khả năng thu hút trước hết các thế hệ trẻ, những người được mời gọi tiếp nhận những thách đố phức tạp của một thời đại đang trải qua những biến chuyển sâu sắc.

Trong một thời điểm mà viễn cảnh ngày mai thường bị che phủ bởi sợ hãi hoặc thất vọng, sự hiện diện và những lời của Đức Thánh Cha muốn trở thành hạt giống của lòng tin và lời mời gọi chúng ta không cam chịu trước lối tư duy phân mảnh, phân cực và chủ nghĩa cá nhân.

Niềm hy vọng là chuyến thăm này có thể giúp đánh thức những nguồn năng lượng tốt đẹp và cao quý nhất của xã hội, hướng tới những con đường trong đó sự phát triển công nghệ và các động lực kinh tế không được coi là mục đích tự thân, nhưng luôn thực sự phục vụ sự phát triển toàn diện của con người.

Hướng đến những thập niên sắp tới, tôi hy vọng nước Pháp có thể kín múc từ sự phong phú phi thường của di sản tinh thần, công dân và văn hóa của mình để đưa ra những đáp ứng có tầm nhìn xa trước những vấn đề lớn về luân lý và xã hội của thế kỷ chúng ta.

Chúng tôi mong muốn chuyến đi này tạo nên một động lực mới: một xưởng mở rộng lớn về tư tưởng và hành động, nơi những người có niềm tin và không có niềm tin có thể cùng bước đi và làm việc với nhau.

Chỉ bằng cách đặt những nền tảng vững chắc ngay hôm nay, dựa trên công lý và trách nhiệm liên thế hệ, chúng ta mới có thể trao lại cho những người đến sau một thế giới thực sự huynh đệ hơn và một trái đất được hòa giải.

bài liên quan mới nhất

bài liên quan đọc nhiều

Top