Chúa nhật 16 Thường niên năm A (Mt 13,24-43)

“Hãy cứ để cả hai mọc lên cho đến mùa gặt.” (Mt 13,30)

 

BÀI ĐỌC I: Kn 12, 13. 16-19

“Người ban cho kẻ tội lỗi ơn ăn năn trở lại”.

Trích sách Khôn Ngoan.

Ngoài Chúa, không có chúa nào khác chăm sóc mọi sự, ngõ hầu minh chứng rằng Chúa không đoán xét bất công. Vì chưng, sức mạnh của Chúa là nguồn gốc sự công minh, và vì Người là Chúa mọi sự, nên tỏ ra khoan dung với mọi người. Chúa chỉ tỏ sức mạnh Chúa ra khi có kẻ không tin vào uy quyền của Chúa, và triệt hạ kẻ kiêu căng không nhìn biết Người.

Vì là chủ sức mạnh, nên Chúa xét xử hiền lành, Chúa thống trị chúng ta với đầy lòng khoan dung: vì khi Chúa muốn, mọi quyền hành tuân lệnh Người. Khi hành động như thế, Người dạy dỗ dân Người rằng: Người công chính phải ăn ở nhân đạo, và Người làm cho con cái Người đầy hy vọng rằng: Người ban cho kẻ tội lỗi ơn ăn năn sám hối.

Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA: Tv 85, 5-6. 9-10. 15-16a

Đáp: Lạy Chúa, Chúa nhân hậu và khoan dung (c. 5a).

Xướng:

1) Lạy Chúa, vì Chúa nhân hậu và khoan dung, giàu lượng từ bi với những ai kêu cầu Chúa. Lạy Chúa, xin nghe lời con khẩn nguyện, và quan tâm đến tiếng con van nài. - Đáp.

2) Các dân tộc mà Chúa tạo thành, họ sẽ tới, lạy Chúa, họ sẽ thờ lạy Ngài, và họ sẽ ca tụng danh Ngài. Vì Ngài cao cả và làm những điều kỳ diệu; duy một mình Ngài là Thiên Chúa. - Đáp.

3) Nhưng lạy Chúa, Ngài là Thiên Chúa từ bi, nhân hậu, chậm bất bình, rất mực khoan dung và thủ tín. Xin đoái nhìn đến con và xót thương con. - Đáp.

BÀI ĐỌC II: Rm 8, 26-27

“Thánh Thần cầu xin cho chúng ta bằng những tiếng than khôn tả”.

Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Rôma.

Anh em thân mến, có Thánh Thần nâng đỡ sự yếu hèn của chúng ta. Vì chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho xứng hợp, nhưng chính Thánh Thần cầu xin cho chúng ta bằng những tiếng than khôn tả. Mà Đấng thấu suốt tâm hồn, thì biết điều Thánh Thần ước muốn. Bởi vì Thánh Thần cầu xin cho các thánh theo ý Thiên Chúa. Đó là lời Chúa.

Tin mừng: Mt 13, 24-43

Khi ấy, Chúa Giêsu phán một dụ ngôn khác cùng dân chúng rằng: “Nước trời giống như người kia gieo giống tốt trong ruộng mình. Trong lúc mọi người ngủ, thì kẻ thù của ông đến gieo cỏ lùng vào ngay giữa lúa, rồi đi mất. Khi lúa lớn lên và trổ bông thì cỏ lùng cũng lộ ra. Đầy tớ chủ nhà đến nói với ông rằng: “Thưa ông, thế ông đã không gieo giống tốt trong ruộng ông sao? Vậy cỏ lùng từ đâu mà có?” Ông đáp: “Người thù của ta đã làm như thế”. Đầy tớ nói với chủ: “Nếu ông bằng lòng, chúng tôi xin đi nhổ cỏ”. Chủ nhà đáp: “Không được, kẻo khi nhổ cỏ lùng, các anh lại nhổ luôn cả lúa chăng. Hãy cứ để cả hai mọc lên cho đến mùa gặt. Và đến mùa, ta sẽ dặn thợ gặt: “Các anh hãy nhổ cỏ lùng trước, rồi bó lại từng bó mà đốt đi, sau mới thu lúa lại chất vào lẫm cho ta”.

Người lại nói với họ dụ ngôn khác mà rằng: “Nước trời giống như hạt cải người kia gieo trong ruộng mình. Hạt đó bé nhỏ hơn mọi thứ hạt giống, nhưng khi mọc lên, thì lớn hơn mọi thứ rau cỏ, rồi thành cây, đến nỗi chim trời đến nương náu nơi ngành nó”. Người lại nói với họ một dụ ngôn khác nữa mà rằng: “Nước trời giống như men người đàn bà kia lấy đem trộn vào ba đấu bột, cho đến khi bột dậy men”. Chúa Giêsu dùng dụ ngôn mà phán những điều ấy với dân chúng. Người không phán điều gì với họ mà không dùng dụ ngôn, để ứng nghiệm lời tiên tri đã chép rằng: “Ta sẽ mở miệng nói lời dụ ngôn, Ta sẽ tỏ ra những điều bí nhiệm từ lúc dựng nên thế gian”.

Sau khi giải tán dân chúng, Người trở về nhà. Các môn đệ đến gặp Người và thưa rằng: “Xin Thầy giải thích dụ ngôn cỏ lùng trong ruộng cho chúng con nghe”. Người đáp rằng: “Kẻ gieo giống tốt là Con Người. Ruộng là thế gian. Còn hạt giống tốt là con cái Nước trời. Cỏ lùng là con cái gian ác. Kẻ thù gieo cỏ lùng là ma quỷ. Mùa gặt là ngày tận thế. Thợ gặt là các thiên thần. Cũng như người ta thu lấy cỏ lùng, rồi thiêu đốt trong lửa thế nào, thì ngày tận thế cũng sẽ xảy ra như vậy: Con Người sẽ sai các thiên thần đi thu tất cả gương xấu và mọi kẻ làm điều gian ác khỏi nước Chúa, rồi ném tất cả chúng vào lửa: ở đó sẽ phải khóc lóc nghiến răng. Bấy giờ kẻ lành sẽ sáng chói như mặt trời trong Nước của Cha mình. Ai có tai để nghe thì hãy nghe”.


Bải giảng của linh mục Ignatio Hồ Văn Xuân

GIÁO LÝ CHO BÀI GIẢNG CHÚA NHẬT 16 THƯỜNG NIÊN NĂM A

WHĐ (22/7/2023) - Để hỗ trợ các nhà giảng thuyết thuận tiện hơn trong việc thêm giáo lý vào bài giảng, Ban Biên tập xin được trích dẫn những điểm giáo lý phù hợp với các bài đọc Kinh thánh của lễ Chúa nhật 16 Thường niên năm A theo sự theo hướng dẫn của Bộ Phụng tự và Kỷ luật các Bí tích.

Số 543-550: Nước Thiên Chúa

Số 309-314: Sự tốt lành của Thiên Chúa và cớ vấp phạm của sự dữ

Số 825, 827: Cỏ lùng và hạt giống Tin Mừng trong mọi người và trong Hội Thánh

Số 1425-1429: Cần hối cải liên tục

Số 2630: Lời cầu xin được cất lên một cách sâu sắc nhờ bởi Chúa Thánh Thần lên tiếng sâu xa

Bài Ðọc I: Kn 12, 13. 16-19

Bài Ðọc II: Rm 8, 26-27

Phúc Âm: Mt 13, 24-30 {hoặc 24-43}

 

Số 543-550: Nước Thiên Chúa

Chúa Giêsu loan báo Nước Thiên Chúa

543. Mọi người đều được mời gọi gia nhập Nước Thiên Chúa. Nước này của Đấng Messia trước tiên được loan báo cho con cái Israel [1] , nhưng hướng đến việc đón nhận mọi người thuộc mọi dân tộc [2] . Để vào Nước Thiên Chúa, cần phải đón nhận lời của Chúa Giêsu:

“Lời Chúa được ví như hạt giống gieo trong ruộng: ai nghe Lời Chúa với đức tin và gia nhập đàn chiên nhỏ của Đức Kitô, thì đã đón nhận chính Nước Người; rồi do sức của nó, hạt giống nẩy mầm và lớn lên cho tới mùa gặt” [3] .

544. Nước Thiên Chúa thuộc về những người nghèo hèn và bé mọn, nghĩa là, những người đón nhận Nước ấy với tâm hồn khiêm tốn. Đức Kitô được sai đến để “loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn” (Lc 4,l8) [4] . Người tuyên bố rằng họ có phúc, “vì Nước Trời là của họ” (Mt 5,3); Chúa Cha đã thương mạc khải cho những kẻ “bé mọn” này điều Người giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết [5] . Chúa Giêsu, từ máng cỏ cho tới thập giá, đã chia sẻ kiếp sống của những kẻ nghèo hèn; Người đã từng chịu đói [6] , chịu khát [7] , chịu thiếu thốn [8] . Hơn thế nữa, Người tự đồng hóa mình với mọi hạng người nghèo hèn và coi lòng yêu thương tích cực đối với họ là điều kiện để được vào Nước của Người [9] .

545. Chúa Giêsu mời những kẻ tội lỗi vào bàn tiệc Nước Thiên Chúa: “Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi” (Mc 2,17) [10] . Người mời gọi họ hối cải, vì không hối cải thì không thể vào Nước Người, nhưng Người cũng dùng lời nói và hành động cho họ thấy lòng thương xót vô biên của Cha Người đối với họ [11] , và “trên trời cũng thế, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối” (Lc l5,7). Bằng chứng cao cả nhất của tình yêu này, là việc Người dâng hiến mạng sống mình “cho muôn người được tha tội” (Mt 26,28).

546. Chúa Giêsu kêu gọi người ta vào Nước Trời, bằng cách dùng các dụ ngôn, là nét đặc trưng trong cách giảng dạy của Người [12] . Qua các dụ ngôn, Người mời vào dự tiệc Nước Trời [13] , nhưng Người cũng đòi phải có một lựa chọn triệt để: để đạt được Nước Trời, cần phải cho đi mọi sự [14] ; lời nói suông không đủ, cần phải có việc làm [15] . Các dụ ngôn như những tấm gương đối với con người: họ đón nhận Lời Chúa chỉ như mảnh đất khô khan hay mảnh đất mau mỡ? [16] Họ làm gì với những nén bạc đã nhận? [17] Chúa Giêsu và sự hiện diện của Nước Trời trong trần gian, một cách kín đáo, nằm ở trung tâm của các dụ ngôn. Cần phải tiến vào Nước Trời, nghĩa là, phải trở nên môn đệ Đức Kitô, mới “hiểu biết các mầu nhiệm Nước Trời” (Mt 13,11). Còn đối với những kẻ “ở ngoài” (Mc 4,11), mọi sự đều bí ẩn [18] .

Các dấu chỉ Nước Thiên Chúa

547. Kèm theo những lời Người nói, Chúa Giêsu đã làm “những phép mầu, điềm thiêng và dấu lạ” (Cv 2,22) để cho thấy Nước Trời đang hiện diện nơi Người. Chúng chứng tỏ Chúa Giêsu chính là Đấng Messia đã được tiên báo [19] .

548. Các dấu lạ do Chúa Giêsu thực hiện minh chứng Chúa Cha đã sai Người đến [20] . Chúng mời gọi ta hãy tin vào Người [21] . Những ai đến với Người bằng đức tin, đức tin cho họ được điều họ thỉnh cầu [22] . Lúc đó, các phép lạ củng cố lòng tin vào Người, Đấng thực hiện các công việc của Cha Người: chúng chứng tỏ Người là Con Thiên Chúa [23] . Nhưng chúng cũng có thể là cớ vấp ngã [24] . Quả vậy, chúng không nhằm thỏa mãn trí tò mò, và lòng ưa chuộng ma thuật. Bất chấp những phép lạ hết sức tỏ tường của Người, Chúa Giêsu vẫn bị một số người loại bỏ [25] , thậm chí Người còn bị tố cáo là hành động nhờ ma quỷ [26] .

549. Khi giải thoát một số người khỏi những sự dữ đời này như đói khát [27] , bất công [28] , bệnh tật và cái chết [29] , Chúa Giêsu đã thực hiện các dấu chỉ Người là Đấng Messia. Tuy nhiên, Người không đến để loại trừ mọi điều xấu khỏi trần gian này [30] , nhưng để giải thoát con người khỏi ách nô lệ nặng nề nhất, là ách nô lệ của tội lỗi [31] , thứ ách nô lệ này ngăn cản họ trong ơn gọi của họ là làm con cái Thiên Chúa, và gây ra mọi hình thức nô lệ giữa con người.

550. Khi Nước Thiên Chúa trị đến là lúc nước Satan bị sụp đổ [32] : “Nếu tôi dựa vào Thần Khí của Thiên Chúa mà trừ quỷ, thì quả là triều đại Thiên Chúa đã đến giữa các ông” (Mt l2,28). Những việc trừ quỷ do Chúa Giêsu thực hiện, giải phóng người ta khỏi quyền thống trị của ma quỷ [33] . Những việc ấy báo trước sự chiến thắng cao cả của Chúa Giêsu trên “thủ lãnh thế gian này” [34] . Nhờ thập giá của Đức Kitô mà Nước Thiên Chúa sẽ được thiết lập vĩnh viễn: “Thiên Chúa đã cai trị từ cây gỗ” [35] .

Số 309-314: Sự tốt lành của Thiên Chúa và cớ vấp phạm của sự dữ

Thiên Chúa quan phòng và cớ vấp phạm của sự dữ

309. Nếu Thiên Chúa là Cha toàn năng, Đấng tạo dựng nên trần gian có trật tự và tốt đẹp, chăm sóc tất cả các thụ tạo của Ngài, thì tại sao lại có sự dữ? Trước câu hỏi vừa khẩn thiết vừa không thể tránh được, vừa bi thảm vừa bí nhiệm này, không câu trả lời vội vàng nào là đầy đủ được. Chỉ có toàn bộ đức tin Kitô giáo mới là câu trả lời cho câu hỏi này: sự tốt đẹp của công trình tạo dựng, thảm kịch tội lỗi, tình yêu kiên nhẫn của Thiên Chúa, Đấng đã đi bước trước đến với con người qua các Giao Ước của Ngài, qua việc Con Ngài Nhập Thể đem lại ơn cứu chuộc, qua việc ban Chúa Thánh Thần, qua việc quy tụ Hội Thánh, qua sức mạnh của các bí tích, qua việc kêu gọi tới cuộc sống vĩnh phúc, mà ngay từ đầu các thụ tạo có tự do được mời gọi đón nhận, nhưng cũng ngay từ đầu, do một huyền nhiệm khủng khiếp, họ có thể từ chối! Không có khía cạnh nào của sứ điệp Kitô giáo mà lại không phải là một phần câu trả lời cho câu hỏi về sự dữ.

310. Nhưng tại sao Thiên Chúa lại không tạo dựng một trần gian thật hoàn hảo đến nỗi không thể có một sự dữ nào trong đó? Theo quyền năng vô biên của Ngài, Thiên Chúa luôn có thể tạo dựng được một thế giới tốt hơn [36] . Nhưng trong sự khôn ngoan và lòng nhân hậu vô biên của Ngài, Thiên Chúa đã tự ý muốn dựng nên một trần gian “trong tình trạng lên đường” hương về sự hoàn hảo cuối cùng của nó. Trong kế hoạch của Thiên Chúa, quá trình này gồm có việc những vật này xuất hiện và những vật khác biến đi, có cái hoàn hảo hơn và có cái kém hơn, có xây đắp và cũng có tàn phá trong thiên nhiên. Như vậy, cùng với sự tốt lành thể lý, cũng có sự dữ thể lý, bao lâu công trình tạo dựng chưa đạt tới mức hoàn hảo của nó [37] .

311. Các Thiên thần và các con người, là những thụ tạo thông minh và tự do, phải tiến về mục đích tối hậu của mình, nhờ sự lựa chọn tự do và yêu mến điều gì là ưu tiên. Vì vậy, họ có thể đi sai đường. Trong thực tế, họ đã phạm tội. Như vậy, sự dữ luân lý, vô cùng nghiêm trọng hơn so với sự dữ thể lý, đã xâm nhập vào trần gian. Thiên Chúa không bao giờ, bằng bất cứ cách nào, một cách trực tiếp hay gián tiếp, là nguyên nhân của sự dữ luân lý [38] . Tuy nhiên Ngài cho phép điều đó, vì tôn trọng sự tự do của thụ tạo của Ngài, và một cách bí nhiệm, Ngài biết từ sự dữ dẫn đưa tới điều thiện hảo:

“Quả thật, Thiên Chúa toàn năng tốt lành vô cùng, nên không bao giờ cho phép một sự dữ nào xảy ra trong các công trình của Ngài, nếu Ngài không toàn năng và tốt lành đến độ Ngài có thể hành động cách tốt đẹp từ sự dữ” [39] .

312. Như vậy, với thời gian, chúng ta có thể nhận ra rằng: Thiên Chúa, trong sự quan phòng toàn năng của Ngài, có thể dẫn đưa tới điều thiện hảo từ những hậu quả của sự dữ, cho dù là sự dữ luân lý, do các thụ tạo của Ngài gây nên: “Không phải các anh đã gửi tôi đến đây, nhưng là Thiên Chúa…. Các anh đã định làm điều ác cho tôi, nhưng Thiên Chúa lại định cho nó thành điều tốt để… cứu sống một dân đông đảo” (St 45,8; 50,20) [40] . Từ sự dữ luân lý lớn lao nhất người ta từng phạm, là việc khước từ và giết chết Con Thiên Chúa, sự dữ đó là do tội lỗi của tất cả mọi người gây nên, Thiên Chúa đã dẫn đưa tới điều thiện hảo cao trọng nhất, nhờ ân sủng chan chứa gấp bội của Ngài [41] : Đức Kitô được tôn vinh và chúng ta được cứu chuộc. Tuy nhiên không vì vậy mà sự dữ trở thành điều thiện hảo.

313. “Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh lợi ích cho những ai yêu mến Ngài” (Rm 8,28). Chứng từ của các Thánh không ngừng củng cố chân lý này.

Thánh Catarina Siêna nói với “những người bất bình và nổi dậy chống lại những gì xảy đến cho họ”: “Mọi sự được ban tặng bởi tình yêu và được quan phòng cho phần rỗi của con người, chứ không vì bất cứ mục đích nào khác” [42] .

Ngay trước khi chịu tử đạo, thánh Tôma More an ủi con gái mình: “Không gì có thể xảy ra mà không do Thiên Chúa muốn. Mà bất cứ điều gì Ngài muốn, thì dù đối với chúng ta có vẻ là sự dữ, nhưng thật ra đó là điều thiện hảo nhất” [43] .

Và bà Giuliana Norwich viết: “Nhờ ơn Chúa, tôi đã được dạy phải vững vàng gắn bó với đức tin… và tin một cách mạnh mẽ rằng mọi sự sẽ tốt đẹp…. Chính bạn sẽ thấy là mọi sự sẽ tốt đẹp” [44] .

314. Chúng ta tin vững vàng rằng Thiên Chúa là Chúa của trần gian và của lịch sử. Nhưng thường chúng ta không biết được các đường lối của sự quan phòng của Ngài. Chỉ khi nào tới chung cuộc, lúc mà sự hiểu biết phiến diện của chúng ta kết thúc, khi chúng ta thấy Thiên Chúa “mặt giáp mặt” (1 Cr 13,12), chúng ta sẽ hiểu biết một cách trọn vẹn các đường lối này, mà qua đó, kể cả nhờ những thảm kịch của sự dữ và tội lỗi, Thiên Chúa dẫn đưa công trình tạo dựng của Ngài tới sự nghỉ ngơi của ngày Sabat [45] chung cuộc, vì ngày đó mà Thiên Chúa đã tạo dựng trời đất.

Số 825, 827: Cỏ lùng và hạt giống Tin Mừng trong mọi người và trong Hội Thánh

825. “Hội Thánh nơi trần thế được ghi dấu đặc biệt bằng sự thánh thiện đích thực, tuy chưa trọn hảo” [46] . Các chi thể của Hội Thánh còn phải đạt tới sự thánh thiện trọn hảo: “Được ban cho những phương tiện cứu độ dồi dào và cao cả như thế, tất cả các Kitô hữu, dù trong hoàn cảnh và bậc sống nào, mỗi người trong con đường của mình, đều được Chúa kêu gọi đạt tới sự thánh thiện trọn hảo như Chúa Cha là Đấng trọn hảo” [47] .

827. “Trong khi Đức Kitô thật sự là Đấng ‘thánh thiện, vô tội, tinh tuyền’, không hề biết đến tội, nhưng đến để đền các tội riêng của dân, thì, vì mang trong lòng mình những kẻ tội lỗi, vừa thánh thiện vừa phải luôn được thanh tẩy, Hội Thánh luôn tiếp tục việc sám hối và canh tân” [48] . Tất cả các chi thể của Hội Thánh, kể cả các thừa tác viên, đều phải nhận mình là kẻ tội lỗi [49] . Trong tất cả mọi người, cỏ lùng của tội lỗi còn lẫn lộn với lúa tốt của Tin Mừng cho đến tận thế [50] . Vì vậy, Hội Thánh quy tụ những người tội lỗi đã được lãnh nhận ơn cứu độ của Đức Kitô, nhưng còn đang trên đường thánh hóa:

Vì vậy, Hội Thánh “thánh thiện, dù mang trong lòng mình những người tội lỗi; bởi vì Hội Thánh không có sự sống nào khác ngoài sự sống của ân sủng; quả thật, nếu các chi thể của Hội Thánh được nuôi dưỡng bằng sự sống này, thì họ được thánh hoá, nếu họ tách mình khỏi sư sống này, thì họ rơi vào tội lỗi và các xấu xa của tâm hồn, những điều đó ngăn cản không cho sự thánh thiện rạng ngời của Hội Thánh được lan toả. Vì vậy, Hội Thánh chịu đau khổ và thống hối vì những tội lỗi đó, tuy có quyền giải thoát các con cái mình khỏi tội lỗi nhờ Máu Đức Kitô và hồng ân của Chúa Thánh Thần” [51] .

Số 1425-1429: Cần hối cải liên tục

Tại sao cần Bí tích Giao hoà sau khi đã lãnh nhận Bí tích Rửa tội?

1425. “Anh em đã được tẩy rửa, được thánh hóa, được nên công chính nhờ danh Chúa Giêsu Kitô và nhờ Thần Khí của Thiên Chúa chúng ta” (1 Cr 6,11). Phải ý thức sự cao cả của hồng ân Thiên Chúa đã ban cho chúng ta trong các bí tích khai tâm Kitô giáo, thì mới hiểu được rằng tội lỗi là một điều đối nghịch lại với một người đã mặc lấy Đức Kitô [52] . Nhưng thánh Gioan Tông Đồ đã nói: “Nếu chúng ta nói là chúng ta không có tội, chúng ta tự lừa dối mình, và sự thật không ở trong chúng ta” (1 Ga 1,8). Chính Chúa cũng đã dạy chúng ta cầu nguyện: “Xin tha tội cho chúng con” (Lc 11,4), và Người kết hợp việc chúng ta tha thứ cho nhau những xúc phạm lẫn nhau với ơn Thiên Chúa tha thứ các tội lỗi chúng ta.

1426. Việc hối cải trở về với Đức Kitô, việc tái sinh trong bí tích Rửa Tội, hồng ân của Chúa Thánh Thần, Mình và Máu Đức Kitô được lãnh nhận làm lương thực, làm cho chúng ta trở nên “tinh tuyền thánh thiện trước thánh nhan Thiên Chúa” (Ep 1,4), cũng như chính Hội Thánh, là Hiền Thê của Đức Kitô, cũng “thánh thiện và tinh tuyền” trước mặt Người (Ep 5,27). Tuy nhiên, sự sống mới được lãnh nhận trong cuộc khai tâm Kitô giáo không tiêu huỷ sự mỏng giòn và yếu đuối của bản tính con người, cũng như sự hướng chiều theo tội lỗi, mà truyền thống gọi là dục vọng (concupiscentia), vốn tồn tại nơi những người đã chịu Phép Rửa, để với sự trợ lực của ân sủng của Đức Kitô, họ vượt qua được những thử thách trong cuộc chiến đấu của đời sống Kitô hữu [53] . Đây là cuộc chiến đấu của sự hối cải nhằm đạt tới sự thánh thiện và đời sống vĩnh cửu mà Chúa không ngừng mời gọi chúng ta [54] .

Sự hối cải của những người đã chịu phép rửa

1427. Chúa Giêsu kêu gọi hối cải. Lời kêu gọi này là một phần cốt yếu của việc loan báo Nước Thiên Chúa: “Thời kỳ đã mãn, và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mc 1,15). Trong việc rao giảng của Hội Thánh, lời kêu gọi này trước hết nhằm đến những người chưa biết Đức Kitô và Tin Mừng của Người. Như vậy, bí tích Rửa Tội là vị trí đầu tiên và căn bản của việc hối cải. Chính nhờ tin vào Tin Mừng và nhờ bí tích Rửa Tội [55] mà người ta từ bỏ sự dữ và đạt được ơn cứu độ, nghĩa là được ơn tha thứ mọi tội lỗi và được hưởng hồng ân sự sống mới.

1428. Lời kêu gọi hối cải của Đức Kitô vẫn tiếp tục vang vọng trong đời sống các Kitô hữu. Cuộc hối cải thứ hai này là một nhiệm vụ liên tục của toàn thể Hội Thánh vì “mang trong lòng mình những tội nhân, vừa thánh thiện vừa luôn cần được thanh luyện, Hội Thánh phải không ngừng thống hối và canh tân” [56] . Nỗ lực hối cải này không chỉ là công việc của con người. Việc thống hối là hành động của một “tâm hồn tan nát” [57] được ân sủng lôi kéo và thúc đẩy [58] , để đáp lại tình yêu thương xót của Thiên Chúa, Đấng đã yêu thương chúng ta trước [59] .

1429. Có thể lấy cuộc hối cải của thánh Phêrô, sau khi chối Thầy mình ba lần, làm bằng chứng cho điều đó. Cái nhìn của lòng thương xót vô biên của Chúa Giêsu khiến ông khóc lóc thống hối [60] và, sau khi Chúa sống lại, ông đã ba lần khẳng định tình yêu của ông đối với Người [61] . Cuộc hối cải thứ hai cũng mang chiều kích cộng đoàn. Điều này được thấy rõ trong lời kêu gọi của Chúa với toàn thể Hội Thánh: “Hãy hối cải!” (Kh 2,5.16).

Thánh Ambrôsiô nói về hai cuộc hối cải: “Hội Thánh có nước và nước mắt, nước của bí tích Rửa Tội, và nước mắt của bí tích Thống Hối” [62] .

Số 2630: Lời cầu xin được cất lên một cách sâu sắc nhờ bởi Chúa Thánh Thần lên tiếng sâu xa

2630. Tân Ước hầu như không có những lời cầu nguyện than van thường thấy trong Cựu Ước. Từ nay trở đi, trong Đức Kitô phục sinh, lời cầu nguyện của Hội Thánh mang niềm hy vọng, cho dù hiện nay chúng ta vẫn đang trông chờ và mỗi ngày vẫn còn cần hối cải. Lời kinh cầu xin của Kitô giáo còn xuất phát từ một chiều sâu khác, từ chiều sâu được thánh Phaolô gọi là lời rên siết: tức là lời rên siết của thụ tạo “quằn quại như sắp sinh nở” (Rm 8,22); cũng là tiếng rên siết của chúng ta “còn trông đợi Thiên Chúa… cứu chuộc thân xác chúng ta nữa. Quả thế, chúng ta đã được cứu độ, nhưng vẫn còn phải trông mong” (Rm 8,23-24); sau cùng là những “tiếng rên siết khôn tả” của chính Chúa Thánh Thần, Đấng “giúp đỡ chúng ta là những kẻ yếu hèn, vì chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải” (Rm 8,26).

 

BÀI GIẢNG ĐỨC THÁNH CHA – CHÚA NHẬT 16 THƯỜNG NIÊN NĂM A

Đây là những bài giảng và huấn dụ của Đức Thánh Cha trong các thánh lễ và các buổi đọc kinh truyền tin với các tín hữu vào Chúa nhật 16 Thường niên năm A.

Đức Phanxicô, Bài giảng Chúa nhật 16 Thường niên năm A (23/7/2023) - Ngày Thế giới Ông bà và Người Cao tuổi: Người già và người trẻ cùng nhau lớn lên

Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 16 Thường niên năm A (23/7/2023) - Cám dỗ "thanh tẩy" người khác bằng định kiến của mình

Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 16 Thường niên năm A (19/7/2020) - Sự kiên nhẫn của Chúa mở ra cho chúng ta niềm hy vọng

Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 16 Thường niên năm A (23/7/2017) - Nhờ lòng kiên nhẫn, cỏ lùng có thể trở thành sản phẩm tốt

Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 16 Thường niên năm A (20/7/2014) - Sự dữ không đến từ Thiên Chúa

Đức Bênêđictô XVI, Huấn dụ Chúa nhật 16 Thường niên năm A (17/7/2011) - Ý Chúa là tiêu chuẩn hướng dẫn cuộc sống chúng ta

 

Suy niệm (TGM Giuse Nguyễn Năng)

Dụ ngôn cỏ lùng muốn nói đến Giáo Hội ở trần gian lúc nào cũng tồn tại hai hạng người lành dữ và hai thế lực thiện ác lẫn lộn. Ðức Giêsu muốn chúng ta phải cảnh giác và kiên nhẫn trong đức tin. Chính Thiên Chúa đang kiên nhẫn chờ đợi để cho chúng ta được ơn cứu độ.

Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu, nhiều lúc chúng con khó chịu, bất mãn về những điểm tiêu cực nơi chính mình và nơi anh em. Nhiều lúc chúng con đã thầm trách: tại sao Chúa không ra tay ? Thiện ác lẫn lộn sẽ có nguy cơ làm thiệt hại đến người lành không ?

Bài Tin Mừng hôm nay cho chúng con nhận ra sự nhẫn nại của Thiên Chúa. Thiên Chúa nhẫn nại để chờ đợi con người hoán cải. Thời gian là điều kiện để có thể biến đổi. Xin cho chúng con được dần dần biến đổi từ xấu sang tốt. Amen.

Ghi nhớ : “Hãy cứ để cả hai mọc lên cho đến mùa gặt”.

Suy niệm (Lm. I-nha-xi-ô Hồ Văn Xuân)

B. CHIA SẺ LỜI CHÚA

Bài đọc 1 : Kn 12,13.16-19

1. Bài đọc 1 hôm nay trích từ sách Khôn ngoan, cũng gọi là sách “Khôn ngoan của vua Sa-lô-môn”. Nhưng vua Sa-lô-môn không hề là tác giả của quyển sách này, vì sách này được viết 900 năm sau khi vua Sa-lô-môn băng hà, nghĩa là khoảng 50 năm trước Công nguyên, trước Chúa Ki-tô giáng sinh. Đây chỉ là kỹ thuật văn chương xưa : lấy tên một người nào đó, theo truyền thống được coi là bậc khôn ngoan số một ở Ít-ra-en, để đặt tên cho tác phẩm nói về Đức Khôn Ngoan.

Tác giả là một người Do-thái am hiểu sâu xa Kinh Thánh, tin vào Thiên Chúa của ông, hãnh diện vì được thuộc về “dân thánh”, “dòng giống vẹn toàn”. Nhưng tác giả lại là một người Do-thái am hiểu văn hoá Hy-lạp, và sống ở A-lê-xan-ri-a, bên Ai-cập, nơi có một cộng đoàn kiều dân Do-thái đông đảo.

Tác giả viết tác phẩm này cho người Do-thái, đồng bào của ông. Họ đang sống giữa một thành phố văn minh. Nhưng vẻ hào nhoáng của nếp sống văn minh A-lê-xan-ri-a đã khiến cho lòng trung thành với Thiên Chúa và lề luật của cha ông bị lung lay : những trường phái triết học nổi tiếng, các khoa học phát triển, các tôn giáo thần bí, khoa thiên văn, khoa học bí truyền mời mọc, và có thể cả những việc thờ cúng dân gian cũng lôi cuốn họ nữa.

2. Bài đọc 1 chúng ta vừa nghe trích từ phần thứ ba của sách Khôn ngoan (Kn 11,4–19,22), một bản văn được soạn thảo bằng tiếng Hy-lạp vào khoảng năm 50 trước Chúa Ki-tô giáng sinh. Nhưng Đức Khôn Ngoan vẫn là một cái gì bí nhiệm của mặc khải thần linh, đến nỗi vua Sa-lô-môn mô tả Đức Khôn Ngoan như là hiền thê lý tưởng (Kn 8–9) mà một vài nhà chú giải gọi là “Bà khôn ngoan”. Phần này là một suy niệm dài về cuộc Xuất hành, đưa ra nhiều so sánh và đối chọi giữa số phận của dân Ít-ra-en và người Ai-cập.

* Bắt chước sự kiên nhẫn của Thiên Chúa

Trong bài đọc 1 hôm nay, sự suy niệm không chỉ giới hạn trong dân Do-thái mà có phạm vi rộng hơn, đó là toàn thể vũ trụ, vì toàn bộ quyển sách được trình bày như một bài diễn văn long trọng gửi đến các vua chúa trần gian : “Hãy yêu đức công chính, hỡi những người cai trị trần gian” (Kn 1,1). Bậc vua chúa phải tìm kiếm Đức Khôn Ngoan (6,1). Đây thật sự là một bài suy niệm về ý nghĩa của lịch sử nhân loại.

Nếu Phụng vụ mời gọi ta quan tâm đến sự kiên nhẫn của Thiên Chúa, là nhằm đào sâu mầu nhiệm về tiến trình chậm chạp của lịch sử nhân loại : Tại sao Thiên Chúa chậm chiến thắng các kẻ thù của mình : các ngẫu tượng, những kẻ vô đạo đức ? Khi làm chậm hơn cuộc chiến thắng, Thiên Chúa duy nhất là Đấng kiên nhẫn, khoan dung, nhân hậu. Người cho con cái niềm hy vọng tràn trề là người có tội được Người ban ơn sám hối. Sách Khôn ngoan dạy ta nghệ thuật sống, hành động theo ý Chúa : là người công chính phải có lòng nhân ái.

 

Đáp ca : Tv 85

1. Thánh vịnh 85 là một lời khẩn nài với những từ ngữ rất đơn sơ. Tuy nhiên, thánh vịnh này còn là một bài tụng ca, ca ngợi tính tuyệt đối của Thiên Chúa, tình yêu tín trung của Thiên Chúa. Nhưng ai là kẻ khẩn cầu và ca tụng ? Trước tiên đó là một người tín thành, một người tôi trung của Thiên Chúa, là người hiểu biết Thiên Chúa và quy hướng trọn vẹn về Người trong niềm tin phó thác. Đó cũng là một người nghèo, một kẻ đáng thương, cầu xin từ tình trạng khốn khổ của mình : túng quẫn, bị kẻ kiêu căng và người quyền thế áp bức. Đây chính là người cầu xin cho được giải thoát khỏi mọi sự dữ, khỏi âm phủ và tội lỗi. Người ấy ngỏ lời với vị Thiên Chúa giàu tình thương và lòng thành tín.

 

Bài đọc 2 : Rm 8,26-27

1. Chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải. Thánh Phao-lô chỉ xác nhận một thực tại hoàn toàn dễ hiểu. Chúng ta, với thân phận yếu hèn của mình, cảm thấy bỡ ngỡ khi gặp gỡ với Đấng hoàn toàn khác, như trường hợp của ngôn sứ I-sai-a : “Khốn thân tôi, tôi chết mất ! Vì tôi là một người môi miệng ô uế, tôi ở giữa một dân môi miệng ô uế, thế mà mắt tôi đã thấy Đức Vua là Đức Chúa các đạo binh !” (Is 6,5). Chúng ta thường cảm thấy mình bất xứng và nhỏ bé đến độ nghi ngờ không biết Chúa có lắng nghe ta cầu khẩn không ? “Con người là chi, mà Chúa cần nhớ đến, phàm nhân là gì, mà Chúa phải bận tâm ?” (Tv 8,5). May mắn thay, thánh Phao-lô cho ta biết : “Thần Khí giúp đỡ chúng ta là những kẻ yếu hèn.” Do đó, chúng ta không có bất cứ một lý do nào để nản lòng cả. Đàng khác, ở phía trước của bức thư này, ta đọc thấy : “Trông cậy như thế, chúng ta sẽ không phải thất vọng, vì Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta.” Thánh Phao-lô còn nói thêm : “Phần anh em, anh em đã không lãnh nhận Thần Khí khiến anh em trở thành nô lệ và phải sợ sệt như xưa, nhưng là Thần Khí làm cho anh em nên nghĩa tử, nhờ đó chúng ta được kêu lên : ‘Áp-ba ! Cha ơi !’” (Rm 8,15). Đó chính là lời hứa Chúa Giê-su hứa cho các môn đệ của Người : “Khi nào Thần Khí sự thật đến, Người sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn. Người sẽ không tự mình nói điều gì, nhưng tất cả những gì Người nghe, Người sẽ nói lại, và loan báo cho anh em biết những điều sẽ xảy đến” (Ga 16,13).

Thánh Phao-lô cho ta biết Chúa Thánh Thần hiểu biết những bí nhiệm của Thiên Chúa : “Còn chúng ta, chúng ta đã được Thiên Chúa mặc khải cho, nhờ Thần Khí. Thật vậy, Thần Khí thấu suốt mọi sự, ngay cả những gì sâu thẳm nơi Thiên Chúa. Vậy ai trong loài người biết được những gì nơi con người, nếu không phải là thần trí của con người trong con người ? Cũng thế, không ai biết được những gì nơi Thiên Chúa, nếu không phải là Thần Khí của Thiên Chúa. Phần chúng ta, chúng ta đã không lãnh nhận thần trí của thế gian, nhưng là Thần Khí phát xuất từ Thiên Chúa, để nhận biết những ân huệ Thiên Chúa đã ban cho chúng ta” (1 Cr 2,10-12), nghĩa là sự hiệp thông đặc biệt chúng ta có thể có được nếu chúng ta để cho Thần Khí hướng dẫn mình đến những gì tự chúng ta có thể hiểu được. “Nhưng khi người ta quay lại với Chúa, thì tấm màn mới được cất đi. Chúa là Thần Khí, và ở đâu có Thần Khí của Chúa, thì ở đó có tự do. Tất cả chúng ta, mặt không màn che, chúng ta phản chiếu vinh quanh của Chúa như một bức gương ; như vậy, chúng ta được biến đổi nên giống cũng một hình ảnh đó, ngày càng trở nên rực rỡ hơn, như do bởi tác động của Chúa là Thần Khí” (2 Cr 3,16-18).

Chính Chúa Giê-su cũng mặc khải cho chúng ta niềm vui mà việc chiêm ngắm này đem lại. Thánh Lu-ca viết về việc bảy mươi hai môn đệ trở về sau khi thi hành sứ vụ : “Ngay giờ ấy, được Thánh Thần tác động, Đức Giê-su hớn hở vui mừng và nói : ‘Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu kín không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn’” (Lc 10,21). Vì thế, chúng ta không cần phải than thở về thân phận nhỏ bé của chúng ta trước Thiên Chúa, vì có Thần Khí Chúa nâng đỡ. Thánh Phao-lô viết ở cuối thư Rô-ma : “Xin Thiên Chúa là nguồn hy vọng, ban cho anh em được chan chứa niềm vui và bình an nhờ đức tin, để nhờ quyền năng của Thánh Thần, anh em được tràn trề hy vọng” (Rm 15,13).

 

Bài Tin Mừng : Mt 13,24-43

1. Chúng ta rút ra ít nhất hai bài học từ dụ ngôn cỏ lùng. Bài học đầu tiên là câu trả lời cho thắc mắc : Sự dữ bởi đâu mà có ? Thiên Chúa không tạo thành sự dữ, giống như ông chủ mùa gặt không hề gieo cỏ lùng vào trong thửa ruộng. Câu chuyện Tạo Dựng trong sách Sáng thế nhấn mạnh điều đó, trong khi các tôn giáo khác cho rằng Thần linh đã tạo nên cái tốt lẫn cái xấu, tác giả linh hứng xác nhận rằng tất cả những gì Thiên Chúa tạo dựng đều là tốt đẹp (St 1,31). Sau này, sách Gióp đề cập rất dài về vấn đề đau khổ, cấm lên án Thiên Chúa là nguồn gốc của sự dữ ; ông Gióp được mời gọi đón nhận đau khổ vì không hiểu hết mọi sự và đặt trọn niềm tin vào Thiên Chúa. Chúa Giê-su cũng quả quyết người chủ mùa gặt chỉ gieo hạt giống tốt.

Bài học thứ hai : Chính ông chủ mùa gặt sẽ chọn lựa lúa tốt. Chính Thiên Chúa là Đấng sẽ xoá sự dữ : “Bạn là ai mà xét đoán người nhà của kẻ khác ? Nó đứng hay nó ngã, đó là việc của chủ nó. Nhưng nó sẽ đứng, vì Chúa có khả năng làm cho nó đứng” (Rm 14,4). Chúa Giê-su mời gọi ta chấp nhận thân phận thụ tạo của chúng ta là thường xuyên có cái tốt lẫn cái xấu trong con người của chúng ta. Ở đây có thể Người nhắm đến khuynh hướng theo chủ nghĩa tinh hoa mà vài cộng đoàn theo đuổi. Chẳng hạn vài người Pha-ri-sêu (Biệt phái) khinh dể những người thu thuế, những người không tuân giữ triệt để luật Mô-sê và các điều răn ; đàng khác những người nhiệt thành thỉnh thoảng gây chiến với những người họ cho là nguội lạnh (chúng ta biết đó là nguồn gốc của cuộc chiến năm 70 sau Công nguyên) mà thánh Mát-thêu là tác giả duy nhất kể lại dụ ngôn này. Từ đó ta có thể kết luận rằng cộng đoàn mà thánh Mát-thêu muốn viết Tin Mừng cho họ đặc biệt cần nghe bài học này.

Tuy nhiên vào một ngày nào đó, ông chủ mùa gặt sẽ cho biết đã đến lúc phải chọn lựa. Chúa Giê-su, trong lời giải thích ý nghĩa dụ ngôn cho các môn đệ, lấy lại thể văn và hình ảnh truyền thống của Kinh Thánh về chủ đề phán xét, luôn luôn chia làm hai bên : một bên là những người tốt, một bên là những kẻ xấu, nhưng đừng có ai lầm : không ai dám tự hào là mình hoàn toàn tốt, cũng không ai bị kết án là hoàn toàn xấu. Ranh giới phân cách người tốt và kẻ xấu trong thực tế là ở trong chính mỗi người chúng ta. Khi ngôn sứ Ma-la-khi phân biệt những người khiêm nhượng với những kẻ ngạo mạn. “Vì này Ngày ấy đến, đốt cháy như hoả lò. Mọi kẻ kiêu ngạo và mọi kẻ làm điều gian ác sẽ như rơm rạ. Ngày ấy đến sẽ thiêu rụi chúng, không còn chừa lại cho chúng một rễ hay cành nào” (Ml 3,19), khi các thánh vịnh nói về những người công chính và kẻ dữ : “Phúc thay người chẳng nghe theo lời bọn ác nhân, chẳng bước vào đường quân tội lỗi, không nhập bọn với phường ngạo mạn kiêu căng, nhưng vui thú với lề luật Chúa, nhẩm đi nhẩm lại suốt đêm ngày. Người ấy tựa cây trồng bên dòng nước, cứ đúng mùa là hoa quả trổ sinh, cành lá chẳng khi nào tàn tạ. Người như thế làm chi cũng sẽ thành. Ác nhân đâu được vậy : chúng khác nào vỏ trấu gió thổi bay. Nên ngày xử án, bọn ác nhân làm sao đứng vững, quân tội lỗi đâu được hợp đoàn với chính nhân ! Vì Chúa hằng che chở nẻo đường người công chính, còn đường lối ác nhân đưa tới chỗ diệt vong” (Tv 1), khi Chúa Giê-su phân biệt hạt giống tốt với cỏ lùng, tất cả chúng đều có liên quan : tất cả chúng ta vừa khiêm tốn nhưng cũng vừa kiêu ngạo, vừa công chính nhưng cũng vừa bất chính, vừa là hạt giống tốt nhưng cũng vừa là cỏ lùng, chúng ta sẽ tìm lại chính xác chính sự đối chọi này trong dụ ngôn về ngày phán xét chung (Mt 25,31-46).

Tuy nhiên, làm thế nào để có thể hiểu một cách cụ thể và dung hoà phần phạt dành cho kẻ dữ và phần thưởng dành cho người lành nếu mỗi người chúng ta đều có cả hai khuynh hướng tốt xấu nơi chính bản thân mình ? Chính ngôn sứ Ma-la-khi đã cho chúng ta câu trả lời : Mặt trời công chính làm cho những gì là tốt đẹp sẽ nảy mầm, còn những gì xấu sẽ biến mất trong nháy mắt. Thánh vịnh 1 diễn tả cùng một ý tưởng nhưng bằng một hình ảnh khác : hạt giống tốt sẽ cho một mùa bội thu, còn cỏ lùng sẽ bị gió cuốn đi. Chúa Giê-su nói ông chủ mùa gặt không cho phép nhổ cỏ lùng vì sợ làm bật rễ lúa : “Đừng, sợ rằng khi gom cỏ lùng, các anh làm bật luôn rễ lúa !” (Mt 13,29), cũng sẽ không kết án nơi chúng ta cái tốt lẫn cái xấu đâu.

Tiếp theo dụ ngôn cỏ lùng, Chúa Giê-su thêm hai dụ ngôn rất ngắn khác : dụ ngôn “hạt cải” và “men trong bột”, hai dụ ngôn này xuất hiện như đối lại với hai dụ ngôn “người gieo giống” và “cỏ lùng” mô tả tất cả mọi trở ngại cản trở việc tăng trưởng của Nước Trời. Trái lại, hai dụ ngôn “hạt cải” và “men trong bột” nói đến sức mạnh bên trong đưa đến kết quả rực rỡ nhất : hạt cải và men trong bột sẽ bị chôn vùi và biến mất, một đàng hạt cải trở thành cây to đến nỗi chim trời đến đậu trên nó được, đàng khác khối bột sẽ dậy men. Qua đó, Chúa Giê-su mời gọi ta tin tưởng, kiên nhẫn và khiêm tốn : lưu ý đến tính mỏng giòn lúc ban đầu, sự nhỏ bé của hạt cải hay nắm bột so với vóc dáng to lớn khi thành công. Hãy kiên nhẫn : mùa gặt rồi sẽ tới.

Anh chị em thân mến, chúng ta hãy noi gương Chúa Giê-su mà biết kiên nhẫn khi làm việc bổn phận của mình.

 

Cầu nguyện :

Lạy Chúa Giê-su, Chúa đã gieo vào lòng thế giới hạt giống là Lời Chúa, xin nhìn đến mùa gặt của Giáo Hội, và thiêu huỷ trong ngọn lửa tình yêu của Chúa mọi thứ cỏ lùng của cuộc đời chúng con. Xin ban cho chúng con Thần Khí và bình an, và hướng dẫn chúng con đến sự hiệp thông trọn vẹn.

Tự vấn :

Trong đời sống đức tin thường ngày, anh chị em đã kiên nhẫn khi xử lý mọi công việc chưa ?

 

C. BÀI ĐỌC THÊM

1. “Chưa nhẫn nại đợi chờ”

(A. Nocent, trong “Célébrer Jésus Christ”, số 6, NXB Đại học, 1977, tr. 99-100).

Sự nhẫn nại đợi chờ này thật là rõ nét trong dụ ngôn cỏ lùng, tâm điểm của Tin Mừng hôm nay.

Cánh đồng được gieo toàn hạt giống tốt. Con người đã gieo vào trần thế những con cái Nước Trời. Ban đêm kẻ thù xuất hiện, Xa-tan tới gieo cỏ lùng. Và thế là có cảnh lẫn lộn trên trần gian, người lành kẻ dữ cùng chung nhau một mảnh đất. Nếu chỉ thoáng nhìn, đôi khi khó mà không phê phán Thiên Chúa. Làm sao Chúa lại để điều ác phát triển như vậy ? Những người xấu đôi khi xem ra lại được ưu đãi trong đời sống vật chất hơn những kẻ lành. Đó là vấn đề thường nhật mà không phải chỉ riêng cho những người chân chất. Thiên Chúa để cho như vậy. Và quả thật Thiên Chúa muốn để cho mọc lên hạt giống Người đã gieo ; đó là người con Chúa đã tuyển chọn, những người Chúa đã ban ơn thánh tẩy, những người mà Thần Khí đã biến đổi nên đồng hình đồng dạng với Con của Người. Chúa để cho họ phát triển, cùng lúc để cho cỏ lùng Người đã không gieo và không thể gieo lớn lên. Nhưng Người kiên nhẫn đợi chờ. Thế giới phải đi con đường của mình, và Thiên Chúa cứ để cho họ đi. Người đợi cho đến mùa thu hoạch. Cuộc đời trần gian cứ trà trộn như vậy, nên tốt hơn ta đừng can thiệp quá sớm kẻo làm chết đi cái gì còn đang sống. Nhưng Nước Chúa vẫn không ngừng tiến triển như hạt cải, như bột lên men. Chúa đợi chờ cho mọi cái đạt tới độ chín muồi.

Thánh Mát-thêu khi viết điều này không phải là ngài không biết đến tình trạng của cộng đoàn mà ngài có trách nhiệm. Ngài thấy cộng đoàn ấy lớn lên bước đầu từ hạt cải nhỏ tí ti, rồi trở thành cây lớn. Ngài hiểu biết rằng men đang nằm trong bột, nhưng ngài cũng không thể không biết rằng cỏ lùng lẫn lộn với hạt giống. Chắc chắn điều đó tạo nên vấn đề cho các tín hữu của ngài, cũng như ngày nay vậy và vấn đề không chỉ đơn giản là trấn an những nỗi lo âu và hâm nóng lòng tin tưởng vào Chúa Quan Phòng. Chứng tỏ cho thấy rằng Nước Chúa vẫn có sức năng động, mặc dầu có những kẻ thù, mặc dầu có những khiếm khuyết và đồng thời giúp cho cộng đoàn biết suy nghĩ về trách nhiệm của mình đang khi chờ đợi ngày hội ngộ, đấy mới là mục tiêu mà thánh nhân nhắm tới.

2. “Hạt giống tốt và cỏ lùng lẫn lộn xà ngầu”

(Mgr. L. Daloz trong “Le Règne des cieux s’est approché”, NXB Desclée de Brouwer, tr. 200-201).

Dụ ngôn cỏ lùng cũng là lời mời gọi ta biết nhìn những con người và các biến cố trong tất cả sự thật, trong sự phức tạp của con người và biến cố. Khi giải thích dụ ngôn này, Đức Giê-su đối chọi hạt giống là những phần tử của Nước Chúa, với cỏ lùng là những kẻ thuộc về Ác Thần. Sự phân biệt xem ra đơn giản. Nhưng phân loại những “người lành”, “kẻ dữ” thật ra có quá dễ dàng như thế không ? Chúa Giê-su phán rằng sẽ chỉ đến mùa gặt thì việc phân biệt lựa chọn (nghĩa là đến ngày tận thế) mới thực hiện được : “Con Người sẽ sai các thiên sứ của Người tập trung mọi kẻ làm gương mù gương xấu và mọi kẻ làm điều gian ác, mà tống ra khỏi Nước của Người.” Phải, việc đó sẽ được thực hiện, nhưng chỉ vào ngày tận thế ! Trong thời gian chờ đợi này, hạt giống và cỏ lùng lẫn lộn tứ tung. Ta cứ nghiệm mà coi : Trong những tình huống tuyệt vọng nhất, nơi những con người xem như tồi tệ nhất, vẫn còn lập loè vài tia sáng. Hơn nữa, trong tình liên đới giữa con người với nhau, những người bị hãm hại và bị ức hiếp không để mình chịu thua sự độc ác của những kẻ hành hạ mình, mà lại trở thành con đường hộ phù và cứu độ cho những kẻ ấy. Đức Giê-su, người đứng đầu các kẻ công chính khi hấp hối trên thập giá đã cầu nguyện : “Lạy Cha, xin tha cho chúng … !” Nét đẹp của con người, vẻ cao cả của một tấm lòng, đức tận tuỵ hy sinh của tình yêu thương cho đến tận cùng cũng biểu lộ cả trong những tình huống tội lỗi hỗn loạn hoàn toàn. Đôi khi chính ở đó mà những vẻ đẹp kia lại tìm được nét diễn tả thâm thuý nhất … vì sự ác làm nảy sinh những cử chỉ yêu thương và anh hùng bất ngờ. Phải là phép lạ khi hình ảnh của Thiên Chúa thường bị biến dạng mà vẫn ẩn vùi trong thâm sâu của bản thân mỗi người ; phải là phép lạ khi tình yêu vẫn le lói như một tia sáng yếu ớt và kiên cường ngay ở nơi xem ra chỉ có bóng tối ; hạt giống nhỏ xíu của Nước Trời, “loại nhỏ nhất trong tất cả các hạt giống” mà người ta tưởng chừng nó phải mất hút, thế mà lại xuyên qua được đá cứng nhất nhờ sức mạnh của nhựa cây ! Hạt giống rất quý giá đó mà Thiên Chúa vốn nhẫn nại không cho phép người ta tạo nguy cơ loại bỏ nó, chỉ vì vội muốn nhổ ngay đám cỏ dại : “Sợ rằng khi gom cỏ lùng, các anh làm bật luôn rễ lúa …” Ta phải học cho biết hy vọng cả khi phải nguyện vọng như thế nào ! Phải có lòng trắc ẩn và xót thương biết bao để biết tôn trọng tình trạng “hổ lốn” mà ta vốn thích phân loại cho rõ rệt ! Ta phải học đức nhẫn nại của Chúa, một sự nhẫn nại không mệt mỏi cho đến tận thế, học thương yêu con người, hết mọi người để cho không một ai phải hư mất, học lòng thương yêu của Chúa Con, Đấng đã mặc lấy xác phàm để các anh em nhân loại của Người không phải là những nạn nhân của chính lòng độc ác của họ. Đức nhẫn nại của Cha đâu có biết đến giới hạn ? “Cứ để cả hai cùng lớn lên cho tới mùa gặt …” Con người thật là quý giá, nên phải coi chừng đừng để mất đi một mảnh vụn nào hết ! Thiên Chúa không hề mệt mỏi khi phải kiên nhẫn “cho đến ngày tận thế”.

Suy niệm (TGM Giuse Ngô Quang Kiệt)

Suy niệm: dụ ngôn cỏ lùng là một trong những dụ ngôn hiếm hoi được chính Chúa giải thích rõ ràng. Giải thích của Chúa giúp ta có những hiểu biết hữu ích cho đời sống đạo.

Dụ ngôn nhắc nhớ ta về sư hiện diện của ma quỷ. Ma quỷ hiện hữu. Chúng luôn có mặt để gieo rắc sự xấu. Chúa đã chuẩn bị những thửa ruộng tốt. Những thửa ruộng đó là thế giới, là Giáo hội, là tâm hồn mỗi người. Chúa đã gieo những hạt giống tốt. Hạt giống đó là Lời Chúa, là ơn Chúa, là những thiện chí, những ý hướng cao đẹp trong tâm hồn con người. Nhưng ma quỷ lén gieo vào những hạt cỏ xấu.

Chúa gieo vào thế giới hạt giống khát vọng hoà bình. Đẹp biết bao nếu mọi dân tộc nắm tay nhau xây dựng một thế giới huynh đệ tươi thắm tình người. Nhưng buồn thay, cánh đồng hoà bình tươi xanh đã bị những ngọn cỏ tham vọng, ích kỷ, ác độc làm hoen ố. Lịch sự thế giới được ghi bằng những trang buồn vì không ngày nào không có chiến tranh.

Thế giới sẽ đẹp biết bao nếu tất cả trí thông minh, tất cả tài nguyên, tất cả năng lực đều góp phần xây dựng. Nhưng buồn thay, rất nhiều trí thông minh, rất nhiều tài nguyên, rất nhiều năng lực đã tiêu tốn trong việc huỷ hoại, tha hoá, nô lệ hoá con người.

Ngay trong bản thân mỗi người, không thiếu những sáng kiến, những hoạt động ban đầu xem ra tốt đẹp, nhưng dần dà vị vẩn đục vì những biến tướng nặng mùi trần tục như khoe khoang, tìm hư danh, tìm lợi lộc.

Đó là những hạt cỏ xấu ma quỷ lén lút gieo vào ruộng lúa tốt.

Tuy nhiên, dụ ngôn cho thấy sự kiên nhẫn và lòng bao dung của Chúa. Chúa đợi cho đến ngày tận thế mới thu lúa cùng với cỏ lùng. Chúa kiên nhẫn đợi chờ vì hi vọng những người tội lỗi ăn năn sám hối. Chúa bao dung tha thứ không nỡ phạt người tội lỗi tức khắc. Chúa yêu thương, tin tưởng người xấu sẽ có ngày nên tốt. Nếu phạt ngay nhưng người tội lỗi thì ta đâu còn cơ may được chiêm ngưỡng ông thánh trộm lành. Nếu Chúa thẳng tay thì ta đâu có thánh nữ Madalêna, Tông đồ của các Tông đồ, thánh Augustinô, Tiến sĩ lừng danh, thánh Phaolô, vị Tông đồ dân ngoại. Nếu Chúa chấp tội thì bản thân ta sẽ là người bị phạt đầu tiên, vì trong ta cũng đầy những tội lỗi, những sự xấu. Trong tâm hồn ta cỏ lùng vẫn mọc xen với lúa tốt.

Sau cùng, dụ ngôn cho ta hiểu tất cả là hồng ân của Chúa. Có sự lành để ta hiểu biết và yêu mến sự tốt lành của Thiên Chúa. Có sự dữ để ta gớm ghét tránh xa và càng thêm gắn bó với sự lành. Có sự lành để ta được hưởng niềm an ủi ngọt ngào của Chúa. Có sự dữ để ta phấn đấu vượt qua, chứng minh lòng trung tín của ta với Chúa. Có thuận lợi tiến bước trên đường thánh thiện. Có khó khăn để ta rèn luyện thêm đức.

Mọi sự đều nên tốt cho kẻ lành. Thật vậy, việc cấm đạo là sự dữ. Nhưng nhờ đó mà Giáo hội có được những chứng nhân anh hùng. Đau khổ và bệnh tật là những khiếm khuyết trong cuộc sống, nhưng lại giúp con người được thông phần đau khổ với Chúa. Thánh Nữ Têrêsa đã nhìn thấy tất cả là hồng ân của Chúa. Sự lành cũng như sự dữ. Hạnh phúc cũng như đau khổ. Thành công cũng như thất bại. Tất cả đều góp phần rèn luyện, vun đắp và thăng tiến người lành.

GỢI Ý CHIA SẺ

1) Khi gặp những người xấu trong xứ đạo, trong hội đoàn, bạn có muốn khai trừ người đó ngay tức khắc không?

2) Trong con người bạn có những khuyết điểm, những bệnh tật, bạn có phấn đấu khắc phục những khuyết điểm, vượt qua bệnh tật để thăng tiến bản thân không?

3) Chúa đã khoan dung, kiên nhẫn đợi chờ bạn ăn năn hối cải. Bạn có biết kiên nhẫn với người khác?

Cầu nguyện:

Lạy Chúa, xin cho con luôn biết kiên tâm trước mọi khó khăn nghịch cảnh xảy đến với con, vì con biết Chúa ở bên con. Amen.

 

 

Suy niệm (Lm. Giuse Đinh Lập Liễm)

SỰ KIÊN NHẪN CỦA THIÊN CHÚA

A. DẪN NHẬP

  Tuần vừa qua, chúng ta đã suy niệm về dụ ngôn Lời Chúa, hạt giống Lời Chúa phải được sinh hoa kết quả trong lòng chúng ta. Hôm nay, chúng ta suy niệm về dụ ngôn hạt giống và cỏ lùng. Trong đồng lúa tốt lại có xen cỏ lùng do hạt giống xấu sinh ra, cỏ dại này cùng mọc bên cạnh lúa tốt, cả hai cùng mọc lên xanh tốt.

  Cũng thế, trong trần gian cũng như trong Giáo hội luôn có những người xấu sống bên cạnh những người tốt, cái thiện và cái ác lẫn lộn, và trớ trêu thay, có khi người xấu lại được gặp may mắn hơn cả người tốt. Chúng ta phải có thái độ nào đối với những người xấu? Phải tiêu diệt người xấu đi chăng để chỉ còn lại người tốt?

  Câu trả lời sẽ là: theo gương Chúa, chúng ta phải có thái độ như trong bài Tin mừng hôm nay: hãy bắt chước lòng kiên nhẫn của Chúa. Thiên Chúa cho kẻ lành người dữ sống chung với nhau, cũng như cho cỏ lùng và lúa cùng mọc lên, đến ngày tận thế Thiên Chúa mới phân xử, mới tách biệt chiên ra khỏi dê, người lành khỏi kẻ dữ. Trong khi chờ đợi ngày phân xử, chúng ta hãy yêu thương mọi người, nhất là tạo điều kiện cho những kẻ tội lỗi biết sám hối trở về đường lành, còn việc xét xử thì dành cho Thiên Chúa.

B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA

+ Bài đọc 1: Kn 12,13,16-19

  Các chương 10-19 của sách Khôn ngoan chứa đựng những suy tư về cách hành xử của Thiên Chúa qua những biến cố lịch sử. Dân Do thái bị kẻ thù hãm hại đủ điều, họ tưởng rằng Thiên Chúa sẽ dùng sức mạnh, dùng bạo lực để tiêu diệt quân thù của họ, nhưng ngược lại, Ngài hành xử với chúng bằng sự kiên nhẫn và nhân hậu.

  Sự kiện này làm cho dân Do thái hiểu lầm rằng Thiên Chúa quá yếu ớt không thể can thiệp giúp họ. Nhưng câu trả lời cho họ là những kẻ thù ấy cũng là thụ tạo của Chúa, nên cũng được Ngài yêu thương. Ngài có đủ uy quyền phá tan kẻ dữ, nhưng Ngài chỉ dùng sức mạnh ấy đối với những kẻ ngoan cố. Còn đối với những người mà Ngài còn hy vọng họ hoán cải thì Ngài luôn kiên nhẫn chờ đợi cho họ sám hối để được tha thứ.

+ Bài đọc 2: Rm 8,26-27

  Thánh Phaolô đề cao vai trò Chúa Thánh Thần trong đời sống Kitô hữu, nhất là trong việc cầu nguyện. Vì chúng ta yếu đuối, không biết cầu nguyện thế nào cho xứng hợp với ý Chúa, nên Chúa Thánh Thần sẽ ở trong chúng ta, Ngài giúp chúng ta cầu nguyện thế nào cho xứng hợp. Ngài sẽ dạy chúng ta cầu nguyện thế nào cho có hiệu quả bằng những “tiếng than khôn tả” như lời thánh Phaolô đã nói.

+ Bài

Tin mừng: Mt 13,24-43

  Chúa Giêsu hay dùng dụ ngôn để nói đến từng khía cạnh của Nước trời. Trong bài Tin mừng hôm nay Chúa Giêsu đưa ra ba dụ ngôn để ta suy gẫm, đó là dụ ngôn hạt giống và cỏ lùng, dụ ngôn hạt cải và dụ ngôn men bánh.

  Dụ ngôn cỏ lùng giải thích cho chúng ta lý do tại sao lại có sự thiện và sự ác trên trần gian, tại sao trong Hội thánh lại có người lành kẻ dữ? Và tại sao Thiên Chúa lại để cho người dữ sống chung với người lành mà không tiêu diệt nó đi.

  Hai dụ ngôn hạt cải và men bánh nói lên sự tăng triển của Nước trời. Nước trời hay Hội thánh chỉ là cộng đoàn nhỏ, nhưng sẽ phát triển mạnh trong âm thầm và trong những hoàn cảnh khó khăn, như những cuộc cấm cách, bách hại đạo.

  Qua những dụ ngôn này, chúng ta có thể rút ra được một kết luận để cảnh giác chúng ta: đừng có ảo tưởng là có thể có một Hội thánh hoàn hảo ở trên trần gian này, trong đó chỉ còn có toàn những người thánh thiện. Trái lại, kẻ lành người dữ sống chung với nhau. Thiên Chúa kiên nhẫn chờ đợi cho kẻ dữ biết ăn năn sám hối để được tha thứ.

C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA: Chúa kiên nhẫn chờ đợi

I. DỤ NGÔN CỎ LÙNG

1. Ý nghĩa dụ ngôn

  Dụ ngôn này cho biết trong các công việc của Nước Thiên Chúa, vẫn có xen lẫn những công việc của ma quỉ, mà trong giai đoạn sống ở trần gian, người ta không thể nào triệt bỏ hết được, chỉ đến ngày tận thế sự phân định mới rõ ràng. Vì thế, dụ ngôn cỏ lùng có mục đích diễn tả lòng kiên nhẫn của Thiên Chúa, Ngài chấp nhận tốt xấu pha trộn, đợi đến ngày cuối cùng Chúa mới lấy quyền phân xử.

2. Lúa và cỏ lùng

  Những hình ảnh trong dụ ngôn này rất rõ ràng và quen thuộc với người Palestine. Cỏ lùng là một thứ cỏ dại mà nhà nông phải diệt trừ. Lúc còn nhỏ, cây cỏ lùng giống như cây lúa mì nên khó phân biệt hai thứ, cho đến khi cả hai đâm bông thì có thể nhận ra cách dễ dàng, nhưng lúc đó rễ cỏ lùng và rễ lúa đã mọc quyện vào nhau, đến nỗi hễ nhổ cỏ lùng thì lúa cũng dễ dàng bị trốc theo.

  Lúa và cỏ lùng không thể tách riêng ra một cách an toàn khi cả hai đang phát triển, nhưng cuối cùng chúng phải được tách riêng ra. Cần phải tách riêng chúng ra bởi vì (khác với cỏ lồng vực bên chúng ta) hạt cỏ lùng rất độc, nó gây chóng mặt, đau ốm và hôn mê. Một số lượng nhỏ của nó cũng có thể gây vị đắng khó chịu. Rốt cuộc người ta thường tách riêng nó ra bằng tay.

  Ông Levison mô tả diễn tiến như sau: người ta thuê đàn bà lượm hạt cỏ lùng trong lúa trước khi đem đi xay. Theo nguyên tắc thì người ta tách cỏ lùng với lúa mì sau khi đập xong. Người ta bầy hạt lên trên một cái nia to và các bà có thể lựa ra những hạt cỏ lùng có kích thước và hình dáng y như hạt lúa mì nhưng có màu xám nhạt.

3. Người tốt và người xấu

  Ánh sáng và bóng tối trong thế giới ta đang sống, thiện và ác trong lòng mọi người, đó là cánh đồng lúa mì mà trong đó cỏ lùng mọc lẫn lộn bên cạnh cây lúa tốt. Còn đối với con người, xấu tốt ở xen lẫn với nhau, vàng thau lẫn lộn, không phân biệt được tốt xấu, hoặc đôi khi đánh giá lầm mà coi người tốt ra người xấu, hoặc người xấu ra người tốt.

  Trong Hội thánh và nơi mỗi người có một sự pha trộn thánh thiện và tội lỗi, thiện và ác đó là điều không tránh được. Hội thánh là thánh thiện tự bản chất, nhưng Hội thánh cũng có những con người yếu đuối và tội lỗi, và chúng ta, mặc dầu đã nhận nhiều ân sủng qua phép Rửa tội cũng có khuynh hướng phạm tội. Thánh Phaolô đã nói: “Tôi không làm được điều thiện mà tôi muốn, mà điều ác tôi không muốn, tôi lại làm” (Rm 7,19).

II. THIÊN CHÚA KIÊN NHẪN CHỜ ĐỢI

1. Cách hành xử của con người

  Chúng ta là những con người bất toàn nhưng lại muốn tiêu diệt những kẻ bất toàn, vì chúng ta mang một thái độ bất bao dung. Chúng ta cảm thấy khó chịu tại sao trong Hội thánh lại có những kẻ xấu, những kẻ bách hại Hội thánh, gây đau khổ cho nhiều người mà họ cứ sống nhởn nhơ con cá vàng, đôi lúc lại còn may mắn hơn người chịu đau khổ? Chúng ta thường có thái độ như những đầy tớ của ông chủ trong

Tin mừng: “Vậy ông có muốn chúng tôi nhổ cỏ đi không?”

  Đây là thái độ chung của mọi tín hữu chúng ta. Đó cũng là phản ứng của thánh Gioan Tẩy giả, người đã vẽ nên bức tranh gây ấn tượng về việc Đấng Messia sắp đến: “Tay Người cầm nia. Người rê sạch lúa trong sân: thóc mẩy thì thu vào kho lẫm, còn thóc lép thì bỏ vào lửa không hề tắt mà đốt đi” (Mt 3,12). Hụt hẫng vì không thấy cách xét xử của Chúa diễn ra y như mình đã loan báo, nên từ trong ngục tù, Ngài sai hai môn đệ đến hỏi Chúa Giêsu rằng: “Thầy có thật là Đấng phải đến không, hay là chúng tôi còn phải đợi ai khác?”

  Đó là phản ứng ngỡ ngàng của tất cả những ai đã nghe lời Đức Giêsu loan báo: “Nước trời đã đến gần”, thế mà họ lại chẳng thấy có gì được phác hoạ giống như sự xét xử vẫn trông đợi khi Nước này tới (Fiches dominicales, năm A, tr 230).

2. Cách hành xử của Thiên Chúa

  Phản ứng tự nhiên của con người là muốn tiêu diệt ngay cái xấu, diệt cả con người xấu. Nhưng Thiên Chúa lại có một lối hành xử khác với con người. Theo Tin mừng, đáp lại lời hỏi của đầy tớ, ông chủ nói: “Đừng, cứ để cả hai cùng lớn lên cho tới mùa gặt... sợ rằng khi nhổ cỏ lùng, các anh làm bật luôn rễ lúa”.

  Từ mùa gieo – hình ảnh Nước Thiên Chúa đến – đến mùa gặt kèm theo việc đập lúa – hình ảnh việc xét xử – có một khoảng thời gian: Lúc này đang là thời kỳ lúa lớn lên là thời gian nhẫn nại của Thiên Chúa: nếu Thiên Chúa gớm ghét sự ác, thì Người vẫn cứ phải yêu thương con người – kẻ tội lỗi cũng như người công chính – và Người biết rõ tiềm năng lạ lùng của Lời trong lòng họ. Ngày thu hoạch mùa và lựa lọc sẽ đến vào giờ của Người; ngày đó không thể dự đoán trước. Ông chủ nói với các đầy tớ ông rằng: “Đến ngày mùa, tôi sẽ bảo thợ gặt: hãy nhặt cỏ lùng trước đã, bó thành bó mà đốt đi, còn lúa thì hãy thu vào kho lẫm cho tôi” (Fiches dominicales, năm A, tr 231).

  Trong Thánh vịnh chúng ta thấy có câu: “Chúa chậm bất bình và giàu lòng khoan dung”. Chúa kiên nhẫn đợi chờ con người sám hối. Cỏ lùng thì không có cách nào thay đổi được chỉ chờ đến ngày là thu hoạch cho vào lửa; còn con người thì khác, con người có thể cải tà qui chính, có thể từ một thằng quỉ biến thành một vị thánh. Trong lịch sử Giáo hội, có biết bao “cỏ lùng”, nhờ ơn Chúa, đã trở nên hạt lúa tốt: những Augustinô, những Charles de Foucauld, những Ève Lavallière là những chứng tích sáng chói.

Truyện: Cải tà qui chính

  Piri Thomas có viết một tác phẩm nhan đề: Hãy xuống những con đường tồi tàn này”. Tác phẩm thuật lại việc ông cải tà qui chính từ một người bị kết án tù vì nghiện ma tuý và cố tình giết người, cuối cùng đã sám hối để trở thành một tín hữu Kitô gương mẫu.

  Một đêm kia, Piri đang nằm trong phòng giam chuẩn bị ngủ. Đột nhiên, anh nghĩ tới tình trạng tệ hại xấu xa mà anh đã gây ra trong đời mình. Anh cảm thấy có một ước muốn mãnh liệt cần phải cầu nguyện. Nhưng anh đang nằm chung với một tù nhân khác tên là Chicô. Nên anh phải đợi cho Chicô ngủ đã, anh mới quì gối trên sàn nhà và cầu nguyện. Anh kể lại rằng: “Tôi bày tỏ với Chúa những gì có trong trái tim tôi... Tôi nói với Ngài những điều tôi muốn, những thiếu thốn của tôi, những hy vọng và thất vọng... Tôi cảm thấy dường như có thể khóc được... đó là một điều mà bao nhiêu năm nay tôi không thể làm được”.

  Sau khi Piri vừa cầu nguyện xong, một tiếng nói đáp lại: “Amen”. Đó là tiếng của Chicô. Rồi Chicô nói nhỏ với Piri: “Tôi cũng tin Chúa”. Thế là hai người bạn tù dốc cạn quá khứ tội lỗi xấu xa và cùng chia sẻ quyết tâm sám hối trở về. Không biết họ đã tâm sự với nhau bao lâu, nhưng trước khi đi ngủ lại, Piri đã nói: “Chúc Chicô ngủ ngon nhé! Tôi nghĩ rằng Thiên Chúa luôn luôn ở với chúng ta, chỉ có chúng ta là không ở với Ngài thôi”.

III. THÁI ĐỘ CỦA CHÚNG TA

1. Tích cực hay tiêu cực

  Đứng trước tình trạng như thế trong trần gian và trong Giáo hội, chúng ta phải có thái độ nào? Chỉ có hai thái độ: hoặc là tiêu cực, hoặc là tích cực. Nếu có thái độ tiêu cực thì cho thế gian này là đồ bỏ đi, một thế giới hư hỏng đầy tội lỗi, cứ để cho nó qua đi. Thái độ tiêu cực này làm cho chúng ta tuyệt vọng, không còn tin vào cái gì nữa, chỉ còn biết ngồi mà rủa bóng tối. Chắc chắn Chúa không cho chúng ta có thái độ tiêu cực này.

  Chúng ta phải có thái độ tích cực. Thái độ này giúp chúng ta hãy hướng lòng lên, không ngồi đấy mà nguyền rủa bóng tối, mà chấp nhận nó, đồng thời cố gắng đốt lên một ngọn nến. Trong bài giảng trên núi, Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ: “Các con là ánh sáng cho thế gian, không ai đốt đèn rồi đặt dưới đáy thùng, ngược lại người ấy sẽ đặt trên giá đèn để soi sáng cho mọi người trong nhà. Ánh sáng các con cũng phải tỏa sáng trước thiên hạ như thế” (Mt 5,14-16).

  Nhưng một cách thực tế, làm sao chúng ta có thể thắp lên một ngọn nến giữa đêm đen tối tăm của thế giới hôm nay? Trước hết, chúng ta có thể cầu nguyện. Một thi sĩ đã nói: “Lời cầu nguyện mang lại nhiều điều hơn những điều thế giới dám mơ ước”. Thứ đến và tích cực hơn, chúng ta có thể xắn tay áo lên làm một điều gì đó chống lại sự ác trong thế giới chúng ta.

2. Tấm lòng khoan dung

  Chúa để người lành kẻ dữ sống chung với nhau là để gây ích lợi cho nhau như lời thánh Augustinô đã nói: “Kẻ dữ người lành đều là con cái Chúa, được Chúa thương yêu tất cả, chúng ta cũng phải thương yêu nhau và phải có thái độ khoan dung”.

  Có lần Liên Hợp Quốc đã chọn nguyên một năm làm “Năm quốc tế về lòng khoan dung”, để giảm thiểu khuynh hướng bất bao dung ngày càng gia tăng trong nhân loại. Bao dung là nhân từ, kiên nhẫn chịu đựng những điều xấu của người khác để dần dần tìm cách hoán cải họ.

3. Kiên nhẫn chịu đựng

  Sự kiên nhẫn mà Chúa khuyên chúng ta phải có là phản ảnh sự kiên nhẫn của Thiên Chúa. Đây không phải là sự cam chịu vô ích là đè nén cơn giận và cay cú thất vọng. Sự kiên nhẫn phải có là sự bình thản đợi chờ để kẻ tội lỗi có cơ may quay trở lại.

  Chúa ghét tội nhưng lại yêu tội nhân, vì họ còn có thể thống hối để được tha thứ (Rm 2,4). Nếu Chúa không kiên nhẫn với ta, ta sẽ thế nào? Ta có cần kiên nhẫn với người gây phiền hà cho ta không? Nhưng nên nhớ rằng Chúa kiên nhẫn chịu đựng là để giải thoát chứ không phải để dung túng.

Truyện: Giai thoại về thánh Antôn

  Một hôm thánh nhân nghe tin một người thợ giày tiến bộ hơn Ngài về đường nhân đức. Lòng hăm hở tiến đức đã thúc đẩy Ngài quyết chí đi tìm người thợ giầy kia để học hỏi cách tu đức của người ấy.

  Sau những ngày cố công tìm tòi, Ngài đã gặp được người thợ giày kia. Thoạt thấy công việc của người thợ giày, thánh nhân hơi nản lòng, vì thấy sinh hoạt duy nhất của người này là đóng giày. Nhưng để cho bõ công đi tìm kiếm, thánh nhân đã trao đổi với người thợ giầy kia về lối sống tu đức.

  Thánh nhân hỏi người thợ giày về chương trình sống hằng ngày của người thợ ấy. Người này cho biết một ngày của ông được chia ra làm ba phần như sau:

          - 8 giờ cho công việc của người thợ giày.

          - 8 giờ cho việc cầu nguyện.

          - 8 giờ cho việc ăn uống nghỉ ngơi.

  Sau khi nghe người thợ giày nói, thánh nhân nản lòng, vì chính Ngài đã dành cho hết cả ngày để cầu nguyện chứ không phải chỉ tám tiếng.

  Thánh nhân hỏi cách sử dụng tiền của ông ta. Người này cho biết 1/3 dành cho ông, 1/3 dành cho Giáo hội, 1/3 dành cho người nghèo.

  Nghe vậy thánh nhân cho rằng người thợ giày này không thể nhân đức hơn Ngài được, vì Ngài đã dành tất cả của cải của Ngài cho người nghèo chứ không phải chỉ 1/3.

  Cuối cùng thánh nhân khám phá ra người thợ giày phải sống giữa một thành phố sa đoạ, chung quanh đầy những người tội lỗi và gương xấu, và ông thợ giày đau khổ về chuyện đó, ông không ngớt kêu cầu cùng Chúa cho họ, và ông hằng cầu nguyện cho kẻ có tội chung quanh ông. Và thánh nhân chợt nhận ra rằng đó là điều mà Ngài thua kém người thợ giày. Ngài thấy rằng Ngài chưa có được sự thao thức về những nỗi khổ đau của những người chung quanh, trái lại, Ngài lại đi tìm cho một mình một cuộc sống an phận với nếp sống ẩn tu (Cử hành phụng vụ Chúa nhật, năm A, tr 67-68).

  Các bài đọc hôm nay dạy chúng ta rằng: luôn luôn có một thế lực thù địch ở trong thế gian, tìm kiếm và chờ đợi để phá huỷ hạt giống tốt. Kinh nghiệm đời sống chúng ta có hai loại ảnh hưởng và cùng tác động trên đời sống chúng ta: ảnh hưởng giúp cho hạt giống Lời Chúa được nảy nở tăng trưởng và ảnh hưởng tìm huỷ hoại hạt giống tốt, trước khi nó có thể đâm bông kết trái. Đó là bài học nhắc nhở chúng ta phải luôn đề cao cảnh giác.

  Không có vinh quang nào mà không phải trải qua đau thương, không có vinh dự nào mà không đòi hỏi phải chiến đấu. Bởi đó, khi sống trong trần gian đối diện với cái ác, chúng ta không run sợ đầu hàng, hoặc thất vọng nản chí, nhưng hãy kiên tâm chiến đấu để luôn đứng vững trong hàng ngũ con cái Chúa, rồi chắc chắn Chúa sẽ đội mũ triều thiên cho ta. Trong khi chiến đấu với cái ác, chúng ta cũng phải luôn có cái nhìn bao dung với những người tội lỗi, phải có lòng quảng đại, biết cảm thông, và luôn giúp họ tìm dịp trở về. Có như thế chúng ta mới thực sự là những Kitô hữu hoàn thiện như người thợ đóng giày trong câu chuyện trên.

 

Suy niệm (Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu S.J.)

Mt 13,24-43

ĐỂ CẢ HAI CÙNG LỚN LÊN

Dụ ngôn cỏ lùng là một dụ ngôn chỉ có trong Tin Mừng Mátthêu.

Dụ ngôn này cũng thuộc loại khó hiểu nên các môn đệ đã phải đến

để xin Thầy Giêsu giải thích riêng tại nhà (Mt 13,36).

Thầy Giêsu kể dụ ngôn người gieo giống để giải thích cho họ biết

tại sao việc gieo vãi Lời Chúa lại không sinh trái ở một số người.

Qua dụ ngôn cỏ lùng, Thầy lại muốn giải thích cho họ biết

tại sao trong thế giới và trong Hội Thánh lại có những phần tử xấu xa.

Tại sao lại có cuộc xung đột giữa cái tốt và cái xấu trên thế gian này ?

“Cỏ lùng ở đâu mà ra vậy ?”

Câu hỏi của các đầy tớ ông chủ ruộng là câu hỏi ngàn đời của chúng ta.

Khi thấy sự dữ tác oai tác quái trên mặt địa cầu,

chúng ta vẫn thường hỏi câu đó: tại sao có cỏ lùng ? tại sao có sự dữ ?

Chúng ta muốn biết nguyên nhân, gốc rễ của sự dữ đang xảy ra.

Như các đầy tớ, chúng ta ngỡ ngàng khi thấy cỏ lùng trong ruộng lúa,

khi lúa đã mọc lên và trổ bông.

“Kẻ thù đã làm đó !”, ông chủ trả lời.

Ông chủ chỉ gieo giống tốt, vậy phải có một kẻ đã gieo cỏ lùng vô ruộng.

Kẻ đó đã lén lút, lợi dụng bóng tối ban đêm, khi mọi người ngủ,

để gieo cỏ lùng vào giữa lúa, rồi trốn đi.

Kẻ đó là quỷ, là kẻ thù của Đức Kitô, ông chủ của cả thế giới.

Hóa ra không phải chỉ có một người gieo là ông chủ tốt lành.

Còn có Xatan, kẻ chỉ muốn phá hoại ruộng lúa là thế giới.

Satan là nhân vật có thật, chứ không phải là chuyện hư cấu.

Satan là quỷ, là ác thần, có mặt và hoạt động trong cánh đồng thế giới.

Nó hoạt động khéo léo, bí mật, gian manh và có tính phá hoại.

Không dễ bắt gặp khi nó đang gieo cỏ lùng.

Cỏ lùng là “con cái của ác thần”, của Xatan (Mt 13,38).

Cỏ lùng là “mọi kẻ làm gương xấu, mọi kẻ làm điều gian ác” (Mt 13,41).

Như vậy Xatan đã biến người thường thành cỏ lùng,

khi nó cám dỗ, lôi kéo, làm người ta sa ngã

và ngả về phía nó, rốt cuộc thành tay sai của nó để đi hại người khác.

Chẳng ai tự bản chất là “con cái của ác thần”.

Người ta thành con cái của ác thần khi nghe lời Xatan mà chối bỏ Chúa.

“Vậy ông có muốn chúng tôi đi gom cỏ lùng lại không ?”

Như lúa tốt phải sống chung với cỏ lùng,

“con cái của Nước Trời” phải sống chung với “con cái của ác thần”:

Đó là chuyện làm chúng ta khó chịu và muốn giải quyết ngay.

Chúng ta muốn thửa ruộng chỉ gồm có lúa tốt.

Chúng ta muốn thế giới và Hội Thánh chỉ gồm những người thánh thiện.

Chúng ta muốn nhổ ngay mọi thứ xấu xa, vì biết cỏ lùng làm hại lúa.

Nhưng đó lại không phải là ý của ông chủ.

Ông không muốn nhổ cỏ lùng vì sợ gây hại cho cây lúa đang trổ bông.

Ông nghĩ cứ để cả hai cùng lớn lên cho đến mùa gặt,

khi ấy có nhổ cỏ lùng và đốt đi cũng không muộn.

Dụ ngôn cỏ lùng cho thấy sự bao dung, kiên nhẫn của Chúa Giêsu.

Ngài không trừng phạt trước ngày tận thế.

Khi ấy, Ngài mới tống những kẻ làm điều gian ác ra khỏi Nước của Ngài.

Như vậy, Ngài vẫn cho mọi người chúng ta thời gian hoán cải.

Cỏ lùng chẳng bao giờ thành lúa tốt,

nhưng “con cái của ác thần” có thể trở thành “con cái của Nước Trời”.

Khi còn sống trên đời, ai cũng có thể trở thành con cái của Chúa,

và ai cũng có thể trở thành con cái của Xatan.

Chúng ta là con cái Chúa, đừng biến mình thành cỏ lùng.

Đừng để cỏ lùng lấn át chúng ta, làm chúng ta suy yếu,

nhưng cuộc sống của chúng ta phải “chói lọi như mặt trời” (Mt 13,43),

để có thể biến cỏ lùng thành lúa tốt.

CẦU NGUYỆN

Lạy Thầy Giêsu,

thật là khó khi phải giữ thái độ khoan dung

đối với những ai đang gây ra bất công và đau khổ

cho bao người trên thế giới.

Chúng con chỉ muốn bứng gốc sự dữ ra khỏi địa cầu,

và làm cho Giáo Hội gồm toàn người thánh thiện.

Nhưng lạy Thầy Giêsu,

Thầy lại muốn chúng con để cỏ lùng sống chung với lúa,

và để cả hai cùng lớn lên cho đến mùa gặt.

Chúng con hiểu tại sao ác nhân vẫn tung hoành,

và Xatan dường như thắng thế trong cuộc chiến hiện tại.

Thầy cho chúng con thấy khuôn mặt của Chúa Cha,

Đấng chậm giận, thứ tha và đầy nhân hậu.

Cha cho mặt trời sáng trên kẻ dữ,và cho mưa rơi trên ác nhân.

Cha quý cả những ai đã trở nên kẻ thù của Cha,

và kiên nhẫn đưa họ trở về chính lộ.

Xin Thầy dạy chúng con biết cách chấp nhận

cuộc xung đột kéo dài đến tận thế

giữa con cái ánh sáng và con cái tối tăm, giữa lúa tốt và cỏ lùng.

Và xin cho chúng con tin rằng

chiến thắng cuối cùng

sẽ thuộc về ánh sáng và sự thiện, công lý và tình yêu.

 

Suy niệm (Lm. Nguyễn Vinh Sơn SCJ)

Câu chuyện

Ở Do Thái, “cỏ lùng” là một loại cỏ dại được gọi là darnel. Nó rất giống cây lúa khi mới mọc lên. Loại cỏ dại này mọc ở khắp nơi và hiện hữu ở ruộng lúa. Chính vì nó giống cây lúa, nên ban đầu rất khó phân biệt với lúa...

Khi trổ bông thì người ta mới phân biệt được sự khác nhau giữa cỏ lùng và lúa, nhưng lúc đó thì rễ của cỏ và lúa đã quấn với nhau nên không thể nhổ một mình cỏ được. Hạt cỏ thì độc không ăn được.

Suy niệm

Tâm hồn chúng ta được trình bày bằng hình ảnh thửa ruộng. Một thửa ruộng có lúa tốt xanh tươi nhưng cũng hiện hữu cỏ lùng phát triển không kém tựa lúa xanh và có khi nhìn thấy giống nhau.

Dụ ngôn lúa và cỏ lùng trong cùng thửa ruộng nói về thân phận con người luôn mang trong mình những cuộc đấu tranh giữa tốt và xấu, giữa chọn Thiên Chúa và chọn đối nghịch với Ngài. Một cuộc tranh đấu không ngừng, chỉ chấm dứt và phân thắng bại khi kết thúc đời người ở trần gian… Trong cuộc sống nhân sinh, nếu Thiên Chúa nhổ cỏ lùng - tiêu diệt sự ác, thì chắc chắn không ai trong chúng ta có thể sống sót, bởi vì như lời Thánh Vịnh đã diễn tả: “Từ trong lòng mẹ, tôi đã là tội nhân, thoạt sinh ra, tôi đã mắc tội rồi” (Tv 51,7). Tình thương thì nhẫn nại, nên Thiên Chúa luôn chờ đợi thiện chí hoán cải của từng người, đồng thời Ngài còn ban ơn nâng đỡ họ trên mọi bước đường đời, để lúa thêm xanh tốt và lan toả, triệt hạ cỏ lùng để rồi cuối cùng, ngày thẩm phán tới, ngày xét xử tuyệt đối công minh và không ai có thể trách cứ Ngài là đã không rủ lòng thương xót.

Từ ý nghĩa của dụ ngôn, chúng ta nhìn vào cuộc đời, và thấy rõ ràng nơi chúng ta một cuộc đời luôn hiện hữu những tâm tình tốt lành, những việc làm thánh thiện nở hoa, nhưng cũng chính con người tôi cũng không ít những ích kỷ nhỏ nhen, những hành động mang sắc thái của cỏ lùng… Có những tật xấu khiếm khuyết làm ta rất khổ sở dù đã làm đủ cách như người thợ xin chủ vườn, “nhổ tận gốc cỏ lùng”, nhưng nó vẫn cứ hiện hữu trong cuộc đời ta, xin đừng thất vọng mà hãy kiên tâm nỗ lực sống, Thiên Chúa luôn kiên nhẫn chờ đợi, Ngài đã sai Con của Ngài đến không phải để lên án thế gian, nhưng để thế gian nhờ tin vào Người Con ấy mà được cứu độ (Ga 3,17). Thế gian nhờ vào Ngài để lúa chín vàng xanh tốt cho vào kho lẫm và để cỏ lùng bị tận diệt khi Ngài đến trong vinh quang. Ngài còn luôn tỏ ra kiên nhẫn với con người mang thửa ruộng đầy cỏ lùng - tội lỗi: “Ta không muốn kẻ gian ác phải chết, nhưng muốn nó ăn năn sám hối và được sống” (Ed 33,11).

Chính vì tin vào thiện chí và lòng hướng thượng của những kẻ gian ác mà vị chủ ruộng (tức Thiên Chúa) đã trì hoãn việc nhổ cỏ lùng ngay, vì Ngài chẳng muốn nhổ lầm những mầm lúa tốt trong tâm hồn những kẻ ác (x. Mt 13,29).

Với sức mạnh của ân sủng đức tin và lòng mến lan tỏa, chúng ta tận diệt được cỏ hoang và biến cánh đồng nhân sinh thành đồng ruộng tốt tươi đầy bông lúa chín vàng như trong Tin Mừng Chúa Giêsu đã dùng hình ảnh ánh sáng đẩy lùi bóng tối: “Tôi là ánh sáng đến thế gian, để bất cứ ai tin vào tôi, thì không ở lại trong bóng tối” (Ga 12,46).

Mong thay…

Ý lực sống

“Những kẻ dữ hiện hữu trong thế gian này hoặc là để được cải thiện hay là nhờ họ mà những kẻ lành có thể luyện tập đức nhẫn nại” (Thánh Âugustinô).

 

Suy niệm (song ngữ)

16th Sunday in Ordinary Time
Reading I: Wisdom 12: 13, 16-19 II: Romans 8: 26-27

CHÚA NHẬT 16 THƯỜNG NIÊN A
Bài Đọc I: Khôn ngoan 12: 13, 16-19; II: Rm 8:26-27

Gospel
Matthew 13:24-43

24 Another parable he put before them, saying, “The kingdom of heaven may be compared to a man who sowed good seed in his field;

25 but while men were sleeping, his enemy came and sowed weeds among the wheat, and went away.

26 So when the plants came up and bore grain, then the weeds appeared also.

27 And the servants of the householder came and said to him, 'Sir, did you not sow good seed in your field? How then has it weeds?'

28 He said to them, 'An enemy has done this.' The servants said to him, 'Then do you want us to go and gather them?'

29 But he said, 'No; lest in gathering the weeds you root up the wheat along with them.

30 Let both grow together until the harvest; and at harvest time I will tell the reapers, Gather the weeds first and bind them in bundles to be burned, but gather the wheat into my barn.”

31 Another parable he put before them, saying, “The kingdom of heaven is like a grain of mustard seed which a man took and sowed in his field;

32 it is the smallest of all seeds, but when it has grown it is the greatest of shrubs and becomes a tree, so that the birds of the air come and make nests in its branches.”

33 He told them another parable. “The kingdom of heaven is like leaven which a woman took and hid in three measures of flour, till it was all leavened.”

34 All this Jesus said to the crowds in parables; indeed he said nothing to them without a parable.

35 This was to fulfil what was spoken by the prophet: “I will open my mouth in parables, I will utter what has been hidden since the foundation of the world.”

36 Then he left the crowds and went into the house. And his disciples came to him, saying, “Explain to us the parable of the weeds of the field.”

37 He answered, “He who sows the good seed is the Son of man;

38 the field is the world, and the good seed means the sons of the kingdom; the weeds are the sons of the evil one,

39 and the enemy who sowed them is the devil; the harvest is the close of the age, and the reapers are angels.

40 Just as the weeds are gathered and burned with fire, so will it be at the close of the age.

41 The Son of man will send his angels, and they will gather out of his kingdom all causes of sin and all evildoers,

42 and throw them into the furnace of fire; there men will weep and gnash their teeth.

43 Then the righteous will shine like the sun in the kingdom of their Father. He who has ears, let him hear.

Phúc Âm
Matthêu 13:24-43

24 Đức Giêsu trình bày cho dân chúng nghe một dụ ngôn khác: “Nước Trời ví như chuyện người kia gieo giống tốt trong ruộng mình.

25 Khi mọi người đang ngủ, thì kẻ thù của ông đến gieo thêm cỏ lùng vào giữa lúa, rồi đi mất.

26 Khi lúa mọc lên và trổ bông, thì cỏ lùng cũng xuất hiện.

27 Đầy tớ mới đến thưa chủ nhà rằng: “Thưa ông, không phải ông đã gieo giống tốt trong ruộng ông sao? Thế thì cỏ lùng ở đâu mà ra vậy?

28 Ông đáp : “Kẻ thù đã làm đó!” Đầy tớ nói : “Vậy ông có muốn chúng tôi ra nhặt đi không?”

29 Ông đáp : Đừng, sợ rằng khi nhặt cỏ lùng, các anh làm bật luôn rễ lúa.

30 Cứ để cả hai cùng lớn lên cho tới mùa gặt. Đến ngày mùa, tôi sẽ bảo thợ gặt: hãy nhặt cỏ lùng trước đã, bó thành bó mà đốt đi, còn lúa thì hãy thu vào kho lẫm cho tôi”.

31 Đức Giêsu còn trình bày cho họ nghe một dụ ngôn khác. Người nói :” Nước Trời cũng giống như chuyện hạt cải người nọ lấy gieo trong ruộng mình.

32 Tuy nó là loại nhỏ nhất trong các hạt giống, nhưng khi lớn lên, thì lại là thứ rau lớn nhất; nó trở thành cây, đến nỗi chim trời tới làm tổ trên cành được”.

33 Người còn kể cho một dụ ngôn khác: “Nước Trời cũng giống như chuyện nắm men bà kia lấy vùi vào ba đấu bột, cho đến khi tất cả bột dậy men”.

34 Tất cả các điều ấy, Đức Giêsu dùng dụ ngôn mà nói với đám đông; và Người không nói gì với họ mà không dùng dụ ngôn,

35 hầu ứng nghiệm lời sấm của ngôn sứ: Mở miệng ra, tôi sẽ kể dụ ngôn, công bố những điều được giữ kín từ tạo thiên lập địa.

36 Bấy giờ, Đức Giêsu bỏ đám đông mà về nhà. Các môn đệ lại gần Người và thưa rằng: “Xin Thầy giải nghĩa dụ ngôn cỏ lùng trong ruộng cho chúng con nghe”.

37 Người đáp : “Kẻ gieo hạt giống tốt là Con Người.

38 Ruộng là thế gian. Hạt giống tốt, đó là con cái Nước Trời. Cỏ lùng là con cái Ác Thần.

39 Kẻ thù đã gieo cỏ lùng là ma quỷ. Mùa gặt là ngày tận thế. Thợ gặt là các thiên thần.

40 Vậy, như người ta nhặt cỏ lùng rồi lấy lửa đốt đi thế nào, thì đến ngày tận thế cũng sẽ xảy ra như vậy.

41 Con Người sẽ sai các thiên thần của Người tập trung mọi kẻ làm gương mù gương xấu và mọi kẻ làm điều gian ác, mà tống ra khỏi Nước của Người,

42 rồi quăng chúng vào lò lửa; ở đó, chúng sẽ phải khóc lóc nghiến răng.

43 Bấy giờ người công chính sẽ chói lọi như mặt trời, trong Nước của Cha họ. Ai có tai thì nghe.

Interesting Details

• The word “weeds” were used to refer to darnel, tares or cockle. These weeds are so much like wheat in the early stages that it is very hard to distinguish them from real wheat. They can only be distinguished later when they are grown, but their roots would be too intertwined with those of the wheat so that both would be uprooted. The grain of these weeds is slightly poisonous and can cause sickness if eaten.

• Sowing weeds into an enemy's field was a common form of vengeance or sabotage at that time. Roman laws punished it as a crime.

• A mustard seed would grow into a shrub-like tree about 10 to 12 feet high. The emphasis is the contrast between the insignificance of the beginning of the kingdom and the unimaginable greatness of the completed kingdom.

• With the Jews, leaven represents something sinful or evil. One of the preparation ceremonies for Passover was to search and burn every scrap of leaven that can be found in the house. It was however used here by Jesus as a figure of something good. Jesus must have chosen this figure deliberately to arouse attention, and to emphasize the transforming power of the leaven.

Chi Tiết Hay

• Danh từ “cỏ lùng” được dùng để diễn tả một loại cỏ dại gọi là darnel. Loại cỏ dại này rất là giống cây lúa khi mới mọc lên, nên rất khó phân biệt với lúa. Chỉ khi trổ bông thì mới khác với lúa, lúc đó thì rễ của cỏ và lúa đã quấn với nhau nên không thể nhổ một mình cỏ được. Hạt cỏ thì lại độc không ăn được.

• Gieo cỏ lùng vào ruộng người khác là một hình thức trả thù hay phá hoại vào thời đó. Luật La-mã trừng phạt những hành động này như là một tội hình.

• Cây cải giống có thể lên cao khoảng từ 10 đến 12 feet. Dụ ngôn này chú tâm đến sư tương phản giữa sự bắt đầu rất bé nhỏ của Triều Đại Thiên Chúa và sự vinh quang ngoài sức tưởng tượng khi triều đại được hoàn hảo.

• Đối với người Do thái, men tượng trưng cho những điều tội lỗi. Một trong những nghi thức chuẩn bị cho lễ Vượt Qua là tìm tất cả những mảnh men trong nhà mà đốt đi. Nhưng Đức Giêsu lại dùng men cho việc tốt. Có lẽ Ngài muốn dùng hình ảnh này để làm người nghe chú ý và chủ tâm là nói đến tầm mức ảnh hưởng của men.

One Main Point

God believes in people. He is patient to give us freedom to discern, spiritual food to grow, and time to transform for the Kingdom of God.

Một Điểm Chính

Thiên Chúa tin tưởng và đặt niềm hy vọng nơi nhân loại. Ngài kiên nhẫn để cho chúng ta tự do để nhận định, của ăn thiêng liêng để bồi bổ tâm hồn, và thời gian để biến cải tâm hồn cho Triều Đại Thiên Chúa.

Reflections

1. To separate rightly the ones from the others is an impossible task for those who can judge only according to appearance. God alone can see clearly what is in the human heart. Contemplate your social and spiritual environments. What do you see of yourself and what do you perceive of others?

2. Contemplate your daily life. Like the mustard seeds that grow ceaselessly, what effort have you put in to grow spiritually under the grace of God? Is your faith growing stronger day after day? What should you do to encourage it along?

3. Like the yeast that leavens the dough, how have you allowed or used the Words of God to transform your complete being for the Kingdom of God?

Suy Niệm

1. Phân biệt người công chính giữa các người khác là một việc làm vượt ngoài khả năng của con người khi chúng ta chỉ nhận định dựa vào những yếu tố bên ngoài. Chỉ có Thiên Chúa mới thấy rõ tâm lòng của mỗi người. Suy niệm về hoàn cảnh xã hội và thiêng liêng của đời sống của chính mình. Bạn nhận thấy bạn là người thế nào và bạn xem các người chung quanh là người thế nào?

2. Suy niệm về cuộc sống thường ngày của chính mình. Hạt cải vươn lên từng phút từng giây. Bạn hãy suy niệm về nổ lực bạn dành cho hạt cải đức tin trong tâm hồn của mình. Đức tin của bạn triển nở như thế nào trong ân sủng và quan phòng của Thiên Chúa?

3. Như là một tí men đã làm dậy cả đấu bột, bạn đã dùng hoặc mở lòng như thế nào cho Phúc Âm của Thiên Chúa biến đổi toàn diện con người của mình cho Triều Đại Thiên Chúa?

Top