Chúa nhật 13 Thường niên năm A (Mt 10,37-42)

“Kẻ nào đón tiếp các con là đón tiếp Thầy;
và kẻ nào đón tiếp Thầy, là đón tiếp Ðấng đã sai Thầy”. (Mt 10,40)

BÀI ĐỌC I: 2 V 4, 8-11. 14-16a

“Người đến trọ nhà mình, là một vị thánh của Thiên Chúa”.

Trích sách Các Vua quyển thứ hai.

Một ngày nọ, Êlisê đi ngang qua miền Sunam. Ở đó có một bà sang trọng mời ông ở lại dùng bữa. Và từ đấy, mỗi khi ông đi ngang qua đó, ông đều đến nhà bà dùng bữa. Bà nói với chồng bà rằng: “Tôi biết rằng người thường trọ nhà mình là một vị thánh của Thiên Chúa. Vậy chúng ta hãy làm cho ông một căn phòng trên lầu, và đặt trong căn phòng đó một cái giường, một cái bàn, một cái ghế, và một cây đèn, để mỗi khi đến, ông ở đó”.

Một ngày nọ Êlisê đến, ông lên căn phòng trên lầu và nghỉ tại đó. Ông nói (với Giêzê, tiểu đồng của ông): “Bà muốn chúng ta làm gì cho bà ?” Giêzê nói rằng: “Thầy khỏi hỏi, bà ấy không có con, và chồng bà đã già”. Êlisê bảo gọi bà ta. Nghe gọi, bà liền đến đứng trước cửa, ông nói với bà rằng: “Năm tới cũng vào thời kỳ này, bà sẽ bồng bế một bé trai”.

Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA: Tv 88, 2-3. 16-17. 18-19

Đáp: Lạy Chúa, con sẽ ca ngợi tình thương của Chúa tới muôn đời (c. 2a).

Xướng:

1) Con sẽ ca ngợi tình thương của Chúa tới muôn đời, qua mọi thế hệ miệng con loan truyền lòng trung thành Chúa. Vì Ngài đã phán: “Tình thương của Ta đứng vững muôn đời”; trên cõi trời cao, Ngài thiết lập lòng trung tín. - Đáp.

2) Phúc thay dân tộc biết hân hoan, lạy Chúa, họ tiến thân trong ánh sáng nhan Ngài. Họ luôn luôn mừng rỡ vì danh Chúa, và tự hào vì đức công minh Ngài. - Đáp.

3) Vì Chúa là vinh quang quyền năng của họ; nhờ ân huệ Chúa, uy quyền của chúng tôi được suy tôn. Bởi chưng khiên thuẫn chúng tôi là của Chúa, và vua chúng tôi thuộc về Đấng Thánh của Israel. - Đáp.

BÀI ĐỌC II: Rm 6, 3-4. 8-11

“Chúng ta chịu mai táng với Ngài nhờ phép rửa, chúng ta phải sống đời sống mới”.

Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Rôma.

Anh em thân mến, tất cả chúng ta đã chịu phép rửa trong Đức Kitô, tức là đã chịu phép rửa trong sự chết của Người. Và chúng ta đã cùng chịu mai táng với Người, bởi vì được thanh tẩy trong sự chết của Người, để như Đức Kitô nhờ vinh hiển của Chúa Cha mà sống lại từ cõi chết thế nào, thì cả chúng ta cũng phải sống đời sống mới như thế. Mà nếu chúng ta đã chết với Đức Kitô, chúng ta tin rằng: chúng ta cũng sẽ cùng sống với Người, vì biết rằng Đức Kitô một khi từ cõi chết sống lại, Người không chết nữa, sự chết không còn làm chủ được Người nữa. Người đã chết, tức là chết một lần dứt khoát đối với tội lỗi, mà khi Người sống, là sống cho Thiên Chúa. Cả anh em cũng thế, anh em hãy tự kể như mình đã chết đối với tội lỗi, nhưng sống cho Thiên Chúa, trong Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. 

Đó là lời Chúa.

Tin mừng: Mt 10, 37-42

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các tông đồ rằng: “Kẻ nào yêu mến cha mẹ hơn Thầy, thì chẳng xứng đáng với Thầy, và kẻ nào yêu mến con trai, con gái hơn Thầy, thì không xứng đáng với Thầy. Kẻ nào cố tìm mạng sống mình thì sẽ mất, và kẻ nào đành mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm lại được nó.

“Kẻ nào đón tiếp các con là đón tiếp Thầy; và kẻ nào đón tiếp Thầy, là đón tiếp Ðấng đã sai Thầy. Kẻ nào đón tiếp một tiên tri với danh nghĩa là tiên tri, thì sẽ lãnh phần thưởng của tiên tri; và kẻ nào đón tiếp người công chính với danh nghĩa người công chính, thì sẽ lãnh phần thưởng của người công chính. Kẻ nào cho một trong những người bé mọn này uống chỉ một bát nước lã mà thôi với danh nghĩa là môn đệ, thì quả thật, Thầy nói với các con, người ấy không mất phần thưởng đâu”.


Bài giảng của linh mục Ignatio Hồ Văn Xuân

 

GIÁO LÝ CHO BÀI GIẢNG CHÚA NHẬT 13 THƯỜNG NIÊN NĂM A

WHĐ (01/7/2023) - Để hỗ trợ các nhà giảng thuyết thuận tiện hơn trong việc thêm giáo lý vào bài giảng, Ban Biên tập xin được trích dẫn những điểm giáo lý phù hợp với các bài đọc Kinh thánh của lễ Chúa nhật 12 Thường niên năm A theo hướng dẫn của Bộ Phụng tự và Kỷ luật các Bí tích.

Số 2232-2233: Đi theo Chúa Giêsu là ơn gọi thứ nhất của Kitô hữu

Số 537, 628, 790, 1213, 1226-1228, 1694: Bí tích Rửa Tội, chết cho chính mình, sống cho Đức Kitô

Số 1987: Ân sủng làm cho chúng ta nên công chính nhờ đức tin và bí tích Rửa Tội

Bài Ðọc I: 2 V 4, 8-11. 14-16a

Bài Ðọc II: Rm 6, 3-4. 8-11

Phúc Âm: Mt 10, 37-42

 

Số 2232-2233: Đi theo Chúa Giêsu là ơn gọi thứ nhất của Kitô hữu

2232. Các mối liên hệ trong gia đình dù quan trọng, nhưng không phải tuyệt đối. Cũng như đứa trẻ tăng trưởng trong sự trưởng thành và sự tự lập về mặt nhân bản và thiêng liêng, thì cũng vậy, ơn gọi riêng của nó, ơn gọi đến từ Thiên Chúa, cũng được khẳng định một cách rõ ràng hơn và mạnh mẽ hơn. Cha mẹ phải tôn trọng ơn gọi này và khuyến khích con cái đáp trả bằng việc đi theo ơn gọi đó. Phải xác tín rằng ơn gọi thứ nhất của Kitô hữu là đi theo Chúa Giêsu [1] . “Ai yêu cha mẹ hơn Thầy thì không xứng với Thầy. Ai yêu con trai, con gái hơn Thầy thì không xứng với Thầy” (Mt 10,37).

2233. Trở thành môn đệ Chúa Giêsu là chấp nhận lời mời gọi thuộc về gia đình Thiên Chúa, sống theo cách sống của Người: “Ai thi hành ý muốn của Cha tôi, Đấng ngự trên trời, người ấy là anh chị em tôi, là mẹ tôi” (Mt 12,50).

Cha mẹ phải đón nhận và tôn trọng, với tâm tình vui mừng và tạ ơn, ơn gọi mà Chúa dành cho một người nào đó trong số con cái mình để đi theo Người trong sự trinh khiết vì Nước Trời, trong đời sống thánh hiến hay trong thừa tác vụ tư tế.

Số 537, 628, 790, 1213, 1226-1228, 1694: Bí tích Rửa Tội, chết cho chính mình, sống cho Đức Kitô

537. Kitô hữu, nhờ bí tích Rửa Tội, được đồng hoá một cách bí tích với Chúa Giêsu, Đấng, trong phép rửa của mình, đã tham dự trước vào cái Chết và sự Sống Lại của mình; họ phải tiến vào mầu nhiệm của sự khiêm tốn quy phục và thống hối này, bước xuống nước cùng với Chúa Giêsu để cùng với Người bước lên, và phải được tái sinh bởi nước và Chúa Thánh Thần để trở nên con yêu dấu của Chúa Cha trong Chúa Con và “sống một đời sống mới” (Rm 6,4):

“Chúng ta hãy cùng chịu mai táng với Đức Kitô bằng Phép Rửa, để cùng được phục sinh với Người; hãy cùng bước xuống với Người, để đồng thời cũng được nâng lên; chúng ta hãy cùng đi lên với Ngươi, để đồng thời cũng được tôn vinh” [2] .

“Nhờ những gì đã được hoàn thành nơi Đức Kitô, chúng ta biết rằng: sau khi chúng ta được tẩy rửa trong nước và Chúa Thánh Thần từ trời ngự xuống trên chúng ta, thì chúng ta được xức dầu vinh quang thiên quốc và trở thành con cái Thiên Chúa nhờ có tiếng của Chúa Cha nhận cho làm nghĩa tử” [3] .

“Cùng chịu mai táng với Đức Kitô...”

628. Bí tích Rửa Tội, mà dấu chỉ nguyên thuỷ và đầy đủ của bí tích này là việc dìm xuống nước, nói lên cách hiệu nghiệm việc Kitô hữu xuống mộ để người ấy cùng với Đức Kitô chết cho tội lỗi, hầu tiến vào một đời sống mới: “Vì được dìm vào trong cái chết của Người, chúng ta đã cùng được mai táng với Người. Bởi thế, cũng như Người đã được sống lại từ cõi chết nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha, thì chúng ta cũng được sống một đời sống mới” (Rm 6,4) [4] .

“Một Thân Thể duy nhất”

790. Khi đáp lại Lời Thiên Chúa và trở nên chi thể của Thân Thể Đức Kitô, các tín hữu được kết hợp mật thiết với Đức Kitô: “Trong thân thể đó, sự sống của Đức Kitô được truyền thông cho các tín hữu là những kẻ, nhờ các bí tích, đã được kết hợp một cách bí nhiệm và thật sự với Đức Kitô chịu nạn và được tôn vinh” [5] . Điều này đặc biệt là thật đối với bí tích Rửa Tội, nhờ bí tích này chúng ta được kết hợp với cái Chết và sự Sống lại của Đức Kitô [6] , và đối với bí tích Thánh Thể, nhờ bí tích này “khi chúng ta được tham dự thật sự vào Thân Thể của Chúa, chúng ta được nâng lên đến sự hiệp thông với Người và với nhau” [7] .

1213. Bí tích Rửa Tội là nền tảng của toàn bộ đời sống Kitô hữu, là cổng vào đời sống thiêng liêng, và là cửa mở ra để lãnh nhận các bí tích khác. Nhờ bí tích Rửa Tội, chúng ta được giải thoát khỏi tội lỗi và được tái sinh làm con cái Thiên Chúa, được trở thành chi thể của Đức Kitô, được tháp nhập vào Hội Thánh và được tham dự sứ vụ của Hội Thánh [8] : “Có thể định nghĩa một cách đúng đắn và thích hợp rằng bí tích Rửa Tội là bí tích tái sinh chúng ta bởi nước trong Lời Chúa” [9] .

Bí tích Rửa Tội trong Hội Thánh

1226. Từ ngày lễ Ngũ Tuần, Hội Thánh đã cử hành và ban bí tích Rửa Tội. Thật vậy, thánh Phêrô tuyên bố với đám đông đang bối rối vì bài giảng của ngài: “Anh em hãy sám hối, và mỗi người hãy chịu Phép Rửa nhân danh Chúa Giêsu Kitô, để được ơn tha tội; và anh em sẽ nhận được hồng ân là Thánh Thần” (Cv 2,38). Các Tông Đồ và những cộng sự viên của các ngài ban bí tích Rửa Tội cho những ai tin vào Chúa Giêsu: những người Do Thái, những người kính sợ Thiên Chúa và những người ngoại giáo [10] . Bí tích Rửa Tội luôn gắn liền với đức tin. Thánh Phaolô tuyên bố với viên cai ngục canh giữ ông ở Philipphê: “Hãy tin vào Chúa Giêsu, thì ông và cả nhà sẽ được cứu độ”. Trình thuật kể tiếp: “Lập tức, ông ấy được chịu Phép Rửa cùng với tất cả người nhà” (Cv 16,31-33).

1227. Theo thánh Phaolô Tông Đồ, nhờ bí tích Rửa Tội, tín hữu được hiệp thông vào sự chết của Đức Kitô; họ được mai táng và sống lại với Người:

“Khi chúng ta được dìm vào nước thanh tẩy, để thuộc về Đức Kitô Giêsu, là chúng ta được dìm vào trong cái chết của Người. Vì được dìm vào trong cái chết của Người, chúng ta đã cùng được mai táng với Người. Bởi thế, cũng như Người đã được sống lại từ cõi chết nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha, thì chúng ta cũng được sống một đời sống mới” (Rm 6,3-4) [11] .

Những người chịu Phép Rửa đã “mặc lấy Đức Kitô” [12] . Nhờ Chúa Thánh Thần, bí tích Rửa Tội là Phép Rửa để thanh tẩy, thánh hóa và công chính hóa [13] .

1228. Như vậy, bí tích Rửa Tội là Phép Rửa bằng nước nhờ đó “hạt giống bất hoại” của Lời Chúa đem lại hiệu quả của nó là ban sự sống [14] . Thánh Augustinô nói về bí tích Rửa Tội: “Lời liên kết với một yếu tố vật chất và nó trở thành một bí tích” [15] .

1694. Được tháp nhập vào Đức Kitô [16] nhờ Phép Rửa, các Kitô hữu đã chết cho tội lỗi và sống cho Thiên Chúa trong Đức Kitô Giêsu [17] , và như vậy họ được tham dự vào sự sống của Đấng Phục Sinh [18] . Khi bước theo Đức Kitô và kết hợp với Người [19] , các Kitô hữu có thể cố gắng bắt chước Thiên Chúa, như những người con rất yêu dấu và bước đi trong tình yêu [20] , bằng việc uốn nắn các ý nghĩ, lời nói và hành động của mình, sao cho họ có nơi mình tâm tư như đã có trong Đức Kitô Giêsu [21] và sống theo gương Người [22] .

Số 1987: Ân sủng làm cho chúng ta nên công chính nhờ đức tin và bí tích Rửa Tội

1987. Ân sủng của Chúa Thánh Thần có sức mạnh công chính hóa chúng ta, nghĩa là, rửa chúng ta sạch tội lỗi, và truyền thông cho chúng ta sự công chính của Thiên Chúa nhờ đức tin vào Chúa Giêsu Kitô [23] và nhờ bí tích Rửa Tội [24] :

“Nếu chúng ta đã cùng chết với Đức Kitô, chúng ta sẽ cùng sống với Người: đó là niềm tin của chúng ta. Thật vậy, chúng ta biết rằng: một khi Đức Kitô đã sống lại từ cõi chết, thì không bao giờ Người chết nữa, cái chết chẳng còn quyền chi đối với Người. Người đã chết là chết đối với tội lỗi, và một lần là đủ. Nay Người sống, là song cho Thiên Chúa. Anh em cũng vậy, hãy coi mình như đã chết đối với tội lỗi, nhưng nay lại sống cho Thiên Chúa trong Đức Kitô Giêsu” (Rm 6, 8-11).

 

BÀI GIẢNG ĐỨC THÁNH CHA - CHÚA NHẬT 13 THƯỜNG NIÊN NĂM A

Đây là những bài giảng và huấn dụ của Đức Thánh Cha trong các thánh lễ và các buổi đọc kinh truyền tin với các tín hữu vào Chúa nhật 13 Thường niên năm A.

Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 13 Thường niên năm A (02/7/2023) - Đón tiếp ngôn sứ ngày nay

Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 13 Thường niên năm A (28/6/2020) - Tình yêu Chúa kiện toàn tình yêu gia đình

Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 13 Thường niên năm A (02/7/2017) - Hai yếu tố của người môn đệ thừa sai

 

Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 13 Thường niên năm A (02/7/2023) - Đón tiếp ngôn sứ ngày nay

Anh chị em thân mến, chào anh chị em!

Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu nói: “Ai đón tiếp một ngôn sứ, vì người ấy là ngôn sứ, thì sẽ được lãnh phần thưởng dành cho bậc ngôn sứ” (Mt 10,41). Chúa nói ba lần về từ “ngôn sứ”; mà ngôn sứ là ai? Có những người nghĩ họ là một loại pháp sư có thể dự đoán tương lai; đây là một ý tưởng mê tín và Kitô hữu không tin vào những điều mê tín, chẳng hạn như ma thuật, lá bài, số tử vi hoặc những thứ tương tự. Lưu ý rằng, có rất nhiều Kitô hữu coi đọc chỉ tay: xin hãy vui lòng! Những người khác nghĩ ngôn sứ như một nhân vật trong quá khứ, từng sống trước thời Đức Kitô để báo trước về sự xuất hiện của Người. Tuy nhiên, chính Chúa Giêsu hôm nay lại nói đến việc phải tiếp đón các ngôn sứ; như thế hiện vẫn có các ngôn sứ, nhưng họ là ai? Ngôn sứ là ai?

Anh chị em thân mến, ngôn sứ là mỗi người chúng ta: thực vậy, với Bí tích Rửa tội, tất cả chúng ta đã lãnh nhận hồng ân và sứ mạng ngôn sứ (x. Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, 1268). Ngôn sứ là người, nhờ Bí tích Rửa tội, giúp người khác đọc được hiện tại dưới tác động của Chúa Thánh Thần. Điều này rất quan trọng: đọc hiện tại không phải như tường thuật sự kiện, nhưng dưới hoạt động của Chúa Thánh Thần, giúp hiểu được các kế hoạch của Thiên Chúa và đáp lại các kế hoạch đó. Nói cách khác, ngôn sứ là người chỉ ra Chúa Giêsu cho người khác, là người làm chứng cho Chúa Giêsu, là người giúp để sống hôm nay và xây dựng ngày mai theo kế hoạch của Chúa Giêsu. Vì thế, tất cả chúng ta đều là những ngôn sứ, những chứng nhân của Chúa Giêsu “để sức mạnh của Tin Mừng được chiếu tỏa trong đời sống hàng ngày, gia đình và xã hội” (Lumen Gentium, 35). Ngôn sứ là dấu chỉ sống động cho người khác nhìn thấy Thiên Chúa, là phản chiếu ánh sáng của Chúa Kitô trên con đường của anh chị em. Và rồi chúng ta có thể tự hỏi: Tôi, người được “tuyển chọn làm ngôn sứ” trong Bí tích Rửa tội, tôi có nói và nhất là sống tư cách nhân chứng của Chúa Giêsu không? Tôi có mang một chút ánh sáng của Chúa đến cho cuộc sống của một người nào đó không? Tôi có chứng thực về điều này không? Tôi tự hỏi: lời chứng của tôi thế nào, lời ngôn sứ của tôi ra sao không?

Trong Tin Mừng, Chúa cũng mời gọi đón tiếp các ngôn sứ; do đó, điều quan trọng là phải chào đón nhau như những người mang sứ điệp của Thiên Chúa, mỗi người tùy theo bậc và ơn gọi của mình, và làm như vậy tại nơi chúng ta sống: trong gia đình, trong giáo xứ, trong các cộng đoàn tu trì, trong các lãnh vực khác của Giáo hội và xã hội. Chúa Thánh Thần đã phân phát các ơn ngôn sứ cho Dân thánh của Thiên Chúa: đây là lý do tại sao nên lắng nghe tất cả mọi người. Ví dụ, khi phải đưa ra một quyết định quan trọng, thì tốt nhất trước hết là hãy cầu nguyện, khẩn cầu Chúa Thánh Thần, nhưng sau đó hãy lắng nghe và đối thoại, với sự tin tưởng rằng mọi người, dù là người nhỏ nhất, đều có điều quan trọng để nói, có món quà ngôn sứ để chia sẻ. Đó là cách tìm kiếm sự thật và lan toả bầu khí lắng nghe Thiên Chúa, trong đó mọi người không chỉ cảm thấy được chào đón vì họ nói những gì chúng ta thích, nhưng họ cảm thấy được đón nhận và đề cao vì chính họ.

Chúng ta hãy nghĩ về có bao nhiêu cuộc xung đột có thể tránh được và giải quyết bằng cách lắng nghe người khác với mong muốn hiểu nhau cách chân thành! Cuối cùng, chúng ta hãy tự hỏi: tôi có biết đón nhận anh chị em như những món quà ngôn sứ không? Tôi có nghĩ mình cần họ không? Tôi có lắng nghe họ với lòng kính trọng, với ước muốn học hỏi không? Bởi vì mỗi chúng ta cần phải học từ những người khác.

Xin Mẹ Maria, Nữ Vương các Ngôn sứ, giúp chúng ta nhìn thấy và đón nhận điều tốt lành mà Thần Khí đã gieo nơi những người khác.

Nguồn: vaticannews.va/vi

 

 

Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 13 Thường niên năm A (28/6/2020) - Tình yêu Chúa kiện toàn tình yêu gia đình

Anh chị em thân mến, chúc anh chị em buổi sáng tốt lành!

Chúa Nhật này, Tin Mừng (x. Mt 10,37-42) vang lên lời mời gọi thật mạnh mẽ hãy sống kết hiệp với Chúa cách trọn vẹn và không do dự. Chúa Giêsu mời gọi các môn đệ của Ngài thực thi các đòi hỏi của Tin Mừng một cách nghiêm túc ngay cả khi những điều đó đòi phải cố gắng và hy sinh.

Đòi hỏi đầu tiên, Chúa Giêsu hướng đến những ai đang theo Ngài. Họ phải đặt tình yêu đối với Ngài lên trên tình cảm gia đình. Chúa nói: “Ai yêu cha yêu mẹ hơn Thầy, thì không xứng đáng với Thầy. Ai yêu con trai con gái hơn Thầy, thì không xứng đáng với Thầy” (c. 37). Đương nhiên Chúa Giêsu không có ý đánh giá thấp tình yêu dành cho cha mẹ và con cái, nhưng Ngài biết nếu đặt những mối quan hệ họ hàng ở vị trí đầu tiên, những người theo Chúa có thể sẽ đi chệch khỏi điều tốt lành thực sự. Chúng ta thấy điều này: một số hình thức tham nhũng trong các chính phủ xảy ra chính vì tình yêu dành cho gia đình lớn hơn tình yêu dành cho đất nước, và vì vậy họ cũng đặt các thành viên trong gia đình cùng chịu trách nhiệm với việc tham nhũng. Đối với Chúa Giêsu cũng vậy: khi tình yêu [dành cho gia đình] lớn hơn tình yêu dành cho Ngài, thì điều đó là không tốt. Tất cả chúng ta có thể đưa ra nhiều ví dụ về vấn đề này, chưa kể đến những tình huống trong đó tình cảm gia đình xen lẫn với những lựa chọn trái ngược với Tin Mừng. Ngược lại, khi tình yêu dành cho cha mẹ và con cái được khơi dậy và thanh luyện bởi tình yêu dành cho Chúa, thì tình yêu ấy sẽ trở nên sinh hoa kết trái và sinh ra những hoa trái tốt lành trong chính gia đình cũng như vươn ra ngoài gia đình. Đó là điều mà Chúa Giêsu muốn nói đến qua câu Tin Mừng trên. Chúng ta cũng hãy nhớ Chúa Giêsu quở trách các tiến sĩ luật là những người làm cho cha mẹ họ thiếu thốn những gì cần thiết với lý do dâng của lễ trên bàn thờ, hoặc dâng cho Giáo Hội (x. Mc 7:8-13). Ngài quở trách họ! Tình yêu đích thực dành cho Chúa Giêsu đòi hỏi một tình yêu đích thực dành cho cha mẹ và con cái, nhưng nếu chúng ta tìm lợi ích gia đình trước thì luôn dẫn đến con đường sai lầm.

Tiếp đến, Chúa Giêsu nói với các tông đồ: “Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng đáng với Thầy” (Mt 10:38). Điều này có nghĩa là đi theo Chúa thì phải đi theo con đường mà chính Ngài đã đi, không có con đường tắt. Không có tình yêu đích thực nếu không có thập giá, nghĩa là người theo Chúa phải trả giá bằng chính con người mình. Nhiều người cha, người mẹ đã minh chứng cho điều này khi họ đã hy sinh rất nhiều cho con cái, họ chịu những hy sinh, những thập giá thực sự, tất cả chỉ vì họ yêu con cài mình. Khi thập giá được vác với Chúa Giêsu, thập giá không đáng sợ vì Chúa luôn ở bên cạnh chúng ta để hỗ trợ chúng ta trong giờ thử thách khó khăn nhất, để cho chúng ta sức mạnh và lòng can đảm. Việc lo lắng bảo toàn mạng sống mình bằng việc sợ hãi hoặc tự cao tự đại thì không hữu ích gì. Chúa Giêsu khuyên nhủ: “Ai tìm giữ mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình” vì tình yêu, vì mến Chúa Giêsu, yêu tha nhân, phục vụ tha nhân – “thì sẽ tìm được” (câu 39). Đây là nghịch lý của Tin Mừng. Nhưng dẫu là nghịch lý, tạ ơn Chúa, chúng ta có rất nhiều mẫu gương sống về điều này. Trong những ngày đại dịch này, có biết bao người đang vác thập giá để giúp đỡ người khác, họ quên mình để giúp người khác đang thiếu thốn trong đại dịch. Họ làm điều này luôn với Chúa Giêsu. Sự viên mãn của cuộc sống và niềm vui có được bằng cách hiến thân cho Tin Mừng và cho tha nhân với sự cởi mở, tiếp đón và lòng nhân hậu.

Khi chúng ta thực hành như thế, chúng ta có thể trải nghiệm được lòng biết ơn và quảng đại của Chúa. Chúa Giêsu nhắc nhở chúng ta về điều này: “Ai tiếp đón anh em là tiếp đón Thầy… Ai cho một trong những kẻ bé mọn này uống, dù chỉ là một chén nước lã thôi… người đó sẽ không mất phần thưởng đâu” (cc 40-42). Lòng biết ơn và sự quảng của Thiên Chúa đáp lại đến cả những cử chỉ yêu thương và phục vụ nhỏ nhất mà chúng ta dành cho tha nhân. Trong những ngày này, tôi đã nghe kể về một em bé đã làm cho một linh mục cảm động. Em đến nhà xứ và nói: “Thưa cha, đây là số tiền dành dụm được của con; chỉ một chút. Xin cha dành nó cho người nghèo, cho những ai đang thiếu thốn trong đại dịch này”. Một điều nhỏ, nhưng có giá trị rất lớn. Đây là thái độ, là một lòng biết ơn lan tỏa, giúp mỗi người chúng ta biết ơn những người quan tâm đến nhu cầu của chúng ta. Khi ai đó ban tặng cho chúng ta điều gì, chúng ta không được nghĩ rằng chúng ta xứng đáng với điều này. Không, nhiều dịch vụ được thực hiện miễn phí. Hãy nghĩ về công việc tình nguyện, đó là một trong những điều tuyệt vời nhất của xã hội Ý. Các tình nguyện viên… Và bao nhiêu người trong số họ đã thiệt mạng trong đại dịch này. Họ làm điều đó vì tình yêu, đơn giản là để phục vụ. Lòng biết ơn, trước hết đó là dấu hiệu của một nền giáo dục tốt, nhưng đó cũng là đặc điểm của người Kitô hữu. Nó đơn giản nhưng là dấu hiệu chân thực của Nước Thiên Chúa - vương quốc của lòng biết ơn và tình yêu nhưng không.

Xin Mẹ Maria, Đấng đã yêu mến Chúa Giêsu hơn chính cuộc sống mình và đã theo Ngài đến bên Thánh giá, giúp chúng ta luôn biết đặt mình trước Thiên Chúa với trái tim sẵn sàng, để Lời của Ngài phán xét hành vi và lựa chọn của chúng ta.

Nguồn: vaticannews.va/vi

 

Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 13 Thường niên năm A (02/7/2017) - Hai yếu tố của người môn đệ thừa sai

Phụng vụ hôm nay giới thiệu với chúng ta các lời sau cùng của diễn văn truyền giáo trong chương 10 Phúc Âm thánh Mátthêu (x. Mt 10,37-49), qua đó Chúa Giêsu dậy dỗ các tông đồ trong lần đầu tiên gửi họ đi truyền giáo trong các làng mạc vùng Galilêa và Giuđêa. Trong phần cuối này Chúa Giêsu nêu bật hai khía cạnh nòng cốt cho cuộc sống của người môn đệ thừa sai; thứ nhất, mối dây nối kết họ với Chúa Giêsu mạnh mẽ hơn bất cứ môi dây nào khác; thứ hai, người truyền giáo không mang chính mình nhưng mang Chúa Giêsu, và qua Ngài mang tình yêu của Thiên Chúa Cha trên trời. Hai khía cạnh này gắn liền với nhau, bởi vì Chúa Giêsu càng ở trung tâm con tim và cuộc sống của người môn đệ bao nhiêu, thì người môn đệ càng để cho sự hiện diện của Ngài “trong suốt” bấy nhiêu. Cả hai đi đôi với nhau.

Chúa Giêsu nói: “Ai yêu cha mẹ hơn Thầy, thì không xứng đáng với Thầy“ (c. 37). Tình yêu mến của một người cha, sự hiền dịu của một bà me, tình bằng hữu dịu ngọt giữa anh chị em, tất cả những điều này, tuy rất tốt lành và hợp pháp, nhưng nó không thể được đặt trước Chúa Kitô. Không phải bởi vì Chúa muốn chúng ta không có con tim và lòng biết ơn, mà trái lại, bởi vì điều kiện của người môn đệ đòi buộc một tương quan ưu tiên với vị thầy. Bất cứ môn đệ nào, dù là giáo dân nam nữ, một linh mục, một giám mục: tương quan này phải ưu tiên. Có lẽ câu hỏi đầu tiên mà chúng ta cần đặt ra cho một kitô hữu đó là: “Mà bạn có gặp gỡ Chúa Giêsu không? Bạn có cầu nguyện với Ngài không?” Tương quan. Có lẽ chúng ta hầu như có thể minh giải Sách Sáng Thế: Vì vậy con người sẽ bỏ cha mẹ mình và kết hiệp với Chúa Giêsu Kitô, và cả hai sẽ trở thành một (x. St 2,24).

Ai để cho mình bị thu hút vào sự cột buộc của tình yêu và cuộc sống này với Chúa Giêsu, thì trở thành một người đại diện của Chúa, một “đại sứ” của Ngài, nhất là với kiểu hiện diện và sống của mình. Đến độ chính Chúa Giêsu khi sai các môn đệ ra đi truyền giáo đã nói với các ông rằng: “Ai tiếp đón các con là tiếp đón Thầy, và ai tiếp đón Thầy là tiếp đón Đấng đã sai Thầy” (Mt 10,40). Người ta phải có thể cảm nhận rằng đối với người môn đệ Đức Giêsu thực sự là “Chúa”, thực sự là trung tâm, là tất cả của cuộc sống. Không quan trọng, nếu sau này, như mọi người trần gian, họ có các hạn hẹp và cả các lỗi lầm nữa - miễn là họ khiêm tốn thừa nhận chúng - ; điều quan trọng là họ không có con tim hai mặt - và đây là điều nguy hiểm. Tôi là kitô hữu, tôi là môn đệ Chúa Giêsu, tôi là linh mục, tôi là giám mục, nhưng tôi sống hai lòng. Không, điều này không được. Người môn đệ không được sống hai lòng, nhưng phải có con tim đơn sơ, thống nhất; không xỏ chân hai giầy, nhưng liêm chính với chính mình và với tha nhân. Sống hai mặt là không kitô. Vì thế, Chúa Giêsu cầu xin Thiên Chúa Cha để các môn đệ không rơi vào tinh thần của thế tục. Hoặc bạn theo Chúa Giêsu, với tinh thần của Chúa Giêsu, hay bạn theo tinh thần thế gian.

Và ở đây kinh nghiệm linh mục dậy cho chúng ta biết một điều rất hay đẹp và rất quan trọng: đó là chính sự tiếp đón này của dân thánh trung thành của Thiên Chúa, chính ly nước lạnh (c. 42) mà Chúa Giêsu nói đến trong Phúc Âm hôm nay, cho đi với đức tin trìu mến, giúp bạn là một linh mục tốt! Có một sự tương tác cả trong việc truyền giáo: nếu bạn bỏ tất cả vì Chúa Giêsu, thì dân chúng nhận biết Chúa nơi bạn; nhưng đồng thời họ cũng giúp bạn trở lại với Ngài mỗi ngày, canh tân và thanh tẩy mình khỏi các thỏa hiệp và thắng vượt các cám dỗ. Một linh mục càng gần gũi dân Chúa bao nhiêu, thì sẽ lại càng cảm thấy mình gần Chúa Giêsu bấy nhiêu, và một linh mục càng gần Chúa Giêsu bao nhiêu, thì lại càng cảm thấy mình gần dân Chúa bấy nhiêu!

Chính Đức Trinh Nữ Maria là người đầu tiên cảm nghiệm được yêu Chúa Giêsu thật sự có nghĩa là gì qua việc Mẹ tự tách mình khỏi Chúa Giêsu về mặt thể lý, và trao ban một ý nghĩa mới cho các tương quan gia đình bắt đầu từ đức tin vào Chúa Giêsu. Với sự bầu cử hiền mẫu, xin Mẹ giúp chúng ta sống như những thừa sai tự do và tươi vui của Tin Mừng.

Nguồn: archivioradiovaticana.va (02.07.2017)

 

1. Suy niệm (TGM Giuse Nguyễn Năng)

Ðiều kiện để làm môn đệ Ðức Giêsu là phải sẵn sàng từ bỏ mọi sự, ngay cả những tình cảm thân thiết nhất như cha mẹ, anh em, bạn bè. Thật ra, Ðức Giêsu không bắt chúng ta phải khước từ cha mẹ, anh em, bạn bè đâu. Ðiều Chúa muốn đó là chúng ta phải đặt tình yêu Chúa lên trên hết mọi tương quan, ngay cả trên chính mạng sống mình. Ðiều kiện Ðức Giêsu đưa ra buộc chúng ta phải có thái độ dứt khoát, đòi hỏi ta phải chấp nhận hy sinh, mất mát ở đời này. Ðó chính là con đường khổ giá Ðức Giêsu đi trước và muốn chúng ta đi theo. Chính Ðức Giêsu đã từ bỏ vinh quang của Thiên Chúa, trở thành người và sống như con người.

Ước gì mỗi chúng ta biết noi gương Thầy Chí Thánh trong sự từ bỏ, đón nhận đau khổ trong niềm tin yêu, để xứng đáng lãnh nhận phần thưởng đời đời.

Cầu nguyện: Lạy Chúa, xin ban thêm niềm tin, nghị lực và tình mến cho chúng con. Chúng con là những người đã chọn Chúa làm gia nghiệp. Xin cho chúng con sẵn sàng quảng đại đáp lại lời mời gọi của Chúa và đón nhận thánh giá trong cuộc đời như là một niềm vui, một ân huệ cứu độ. Amen.

Ghi nhớ : “Kẻ nào cố tìm mạng sống mình thì sẽ mất, và kẻ nào đành mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm lại được nó”.

2. Suy niệm (Lm. I-nha-xi-ô Hồ Văn Xuân)

A. CHIA SẺ LỜI CHÚA

Bài Tin Mừng Chúa nhật hôm nay nói với chúng ta về sự đòi hỏi của Đức Giê-su, nhưng đồng thời cũng đề cập đến lòng quảng đại của Người. Chúa là Đấng đòi hỏi, Người muốn phải dành riêng tất cả cho Người, nhưng Người cũng rất rộng rãi và ban thưởng xứng đáng. Đức Giê-su hiền lành và khiêm nhượng trong lòng nhưng đòi hỏi quyết liệt : “Ai yêu cha yêu mẹ hơn Thầy, thì không xứng đáng với Thầy.” Tại sao Đức Giê-su lại đòi hỏi gắt gao như vậy ? Thưa Người làm như vậy là do tình yêu, bởi vì Người đã cho chúng ta tất cả và Người muốn chúng ta cũng phải có một sự đáp trả tương xứng. Đức Giê-su không phải là một người bạn của chúng ta như nhiều người bạn khác : Người là Con Thiên Chúa và Người có quyền đòi chúng ta phải yêu mến Người hết linh hồn, hết sức lực và hết trí khôn của chúng ta. Chỉ khi nào ta yêu Người như vậy thì chúng ta mới thật sự tiếp đón Người, còn khi chúng ta xem Người như một người bạn như bao bạn bè khác, thì chúng ta không tiếp đón Người thật sự và xứng đáng. Do đó mà Người quyết liệt đòi chúng ta phải yêu Người hơn tất cả mọi người khác. Đức Giê-su muốn được chúng ta yêu Người như yêu một vì Thiên Chúa. Người muốn chúng ta vác thập giá theo Người : “Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng đáng với Thầy.” Vác thập giá mình là điều kiện để được sự sống vĩnh cửu. Tình yêu dành cho Đức Giê-su là một tình yêu đòi hỏi tuyệt đối, nhưng cũng là một tình yêu lấp đầy con tim chai đá của chúng ta, để chúng ta cũng biết yêu thương người khác. Tiếp đến, Đức Giê-su nói một câu tương phản : “Ai tìm giữ mạng sống mình, thì sẽ mất ; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm thấy được.” Đức Giê-su muốn chúng ta liều mạng sống mình vì Người.

Bài đọc 2 giúp chúng ta làm sáng tỏ ý nghĩa lời quả quyết này của Đức Giê-su. Bài đọc 2 nói về phép rửa như là cái chết với Người trong cuộc Thương Khó. Thánh Phao-lô quả quyết : “Khi chúng ta được dìm vào nước thanh tẩy, để thuộc về Đức Ki-tô Giê-su, chúng ta được dìm vào trong cái chết của Người, chúng ta đã cùng được mai táng với Người.” Cái chết đó là nguồn của một đời sống mới, cũng như Đức Giê-su Ki-tô, đã được sống lại từ cõi chết nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha, thì chúng ta cũng được sống một đời sống mới. “Nếu chúng ta đã cùng chết với Đức Ki-tô, chúng ta sẽ cùng sống với Người.” Tất cả những lời nói trên của thánh Phao-lô giúp chúng ta hiểu rõ hơn lời Đức Giê-su nói trong bài Tin Mừng : “Ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm thấy được.” Mầu nhiệm phép rửa phải luôn hiện diện trong đời sống thường ngày của chúng ta. Mỗi ngày chúng ta phải chết cho tội lỗi, để cùng sống với Đức Ki-tô và trong Đức Ki-tô cho Thiên Chúa. Đôi khi chúng ta phải chấp nhận thiệt hại bản thân vì Chúa, ngay cả trong những trường hợp thử thách nặng nề, chúng ta vẫn không được sống ích kỷ. Chúng ta đừng tìm lợi ích cho bản thân mình nhưng cho Đức Giê-su, làm theo thánh ý Người là yêu thương. Ai thực hành lời Chúa dạy, sẽ tìm được sự sống thật sự trong tình yêu của Đức Giê-su và với Đức Giê-su. Đức Giê-su tiếp tục biểu lộ lòng quảng đại thần linh khi nói về việc tiếp đón : “Ai đón tiếp anh em là đón tiếp Thầy ; và ai đón tiếp Thầy là đón tiếp Đấng đã sai Thầy.” Khi chúng ta đón tiếp những người được Đức Giê-su sai đến, chúng ta không chỉ đón tiếp Đức Giê-su mà là đón tiếp chính Thiên Chúa. Bản văn tiếp tục : “Ai đón tiếp một ngôn sứ vì người ấy là ngôn sứ, thì sẽ được lãnh phần thưởng dành cho bậc ngôn sứ ; ai đón tiếp một người công chính, vì người ấy là người công chính, thì sẽ được lãnh phần thưởng dành cho bậc công chính.” “Và ai cho một trong những kẻ bé nhỏ này uống, dù chỉ một chén nước lã thôi, vì kẻ ấy là môn đệ của Thầy, thì Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu.”

Bài đọc 1 soi sáng câu đầu tiên chúng ta vừa nghe : “Ai đón tiếp một ngôn sứ vì người ấy là ngôn sứ, sẽ nhận được phần thưởng dành cho bậc ngôn sứ.” Một người phụ nữ giàu có ở Su-nêm nhận biết ngôn sứ Ê-li-sa là người của Thiên Chúa, nên quyết định tiếp đón ông : bà chuẩn bị cho ông một căn phòng nhỏ trên sân thượng, rồi kê ở đó một cái giường, đặt bàn ghế và để cái đèn cho ông dùng, để ông có thể nghỉ ngơi ở đó, suy tư và đọc Kinh Thánh chuẩn bị cho công việc ngôn sứ của ông. Đây là một sáng kiến vô cùng quảng đại của người phụ nữ này. Tuy nhiên, trong lãnh vực bác ái, Thiên Chúa không để cho người khác qua mặt mình đâu, Người linh hứng cho ngôn sứ Ê-li-sa để ông thưởng cho người phụ nữ tốt bụng này. Vị ngôn sứ hỏi Giê-kha-di, tiểu đồng của ông là phải làm gì để đền đáp lòng tốt của bà. Giê-kha-di đáp : “Tội nghiệp, bà ấy không có con trai, mà chồng thì đã già.” Như vậy tiểu đồng Giê-kha-di gợi ý cho ngôn sứ Ê-li-sa xin Chúa tặng cho bà một món quà vô cùng quý giá là đứa con trai mà hai ông bà hằng mơ ước mà không có được. Ông Ê-li-sa bảo tiểu đồng của mình : “Đi gọi bà ấy.” Tiểu đồng đi gọi bà ấy, và bà ấy đến đứng ngoài cửa. Ngôn sứ Ê-li-sa được Thiên Chúa linh hứng, liền nói với bà : “Vào thời kỳ này, vào độ này sang năm, bà sẽ có cháu trai bồng.” Lời hứa này của vị ngôn sứ làm cho tâm hồn bà tràn ngập niềm vui, một niềm vui bất tận. Ước muốn sâu xa của bà đã trở thành hiện thực nhờ lòng xót thương của Chúa. Như thế lòng quảng đại của Chúa quả thật là mênh mông.

Trong bài Tin Mừng, Đức Giê-su nói rằng : “Ai cho một trong những kẻ bé nhỏ này, dù chỉ một chén nước lã thôi, vì kẻ ấy là môn đệ Thầy, thì Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu.” Sự quảng đại của Đức Giê-su là sự quảng đại thần linh, quan tâm đến những việc phục vụ nhỏ nhất, những môn đệ nhỏ bé nhất, nhằm cổ vũ đời sống tông đồ của các ngài trong việc xây dựng Nước Trời tại trần thế. Vì vậy chúng ta hãy thán phục lòng quảng đại của Đức Giê-su và hoàn toàn tin tưởng nơi Người. Lòng quảng đại này giúp chúng ta biết sống quảng đại như Đức Giê-su. Người cũng dạy ta lòng biết ơn nữa. Sự đòi hỏi và lòng quảng đại của Đức Giê-su là nhịp sống của đời sống Ki-tô hữu chúng ta. Đức Giê-su đòi hỏi nơi chúng ta vì Người yêu thương chúng ta, muốn cho cuộc đời chúng ta không phải là một cuộc sống vô vị, nhàm chán, rỗng tuếch, nhưng tràn ngập niềm vui, thăng tiến và thành đạt. Đức Giê-su biểu lộ lòng biết ơn của Người và mời gọi chúng ta tin tưởng và biết ơn những người làm ơn cho chúng ta. Khi ai đó phục vụ, giúp đỡ chúng ta, và nếu chúng ta muốn mình là môn đệ thật sự của Đức Ki-tô, chúng ta hãy đền đáp cách rộng rãi. Như thế chúng ta làm phát triển vương quốc của tình yêu ngày càng rộng lớn hơn và nhờ đó mà biến đổi dung mạo của trái đất này.

Cầu nguyện :

Lạy Chúa Giê-su, xin giúp chúng con biết đón nhận thập giá Chúa gửi đến trong cuộc sống đức tin hằng ngày, để có thể trở nên những người môn đệ đích thực của Chúa là Đấng đã chịu chết trên thập giá vì yêu thương chúng con.

Tự vấn :

Thập giá có ý nghĩa như thế nào đối với chúng ta ? Biểu hiện của tình yêu tự hiến của Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, hay chỉ gợi lên những khổ đau của cuộc đời ?

B. BÀI ĐỌC THÊM

(Mgr. L. Daloz, Le Règne des cieux s’est approché, Desclée de Brouwer).

Đức Giê-su không chỉ đồng hoá với các Tông Đồ là những vị mà Người sai đi loan báo Nước Thiên Chúa. Người còn đồng hoá với mỗi một môn đệ, nhất là với những người bé nhỏ nhất. Người đã nói : “Ai tiếp đón một em nhỏ như em này vì danh Thầy, là tiếp đón chính Thầy” (Mt 18,5). Đặc biệt, Người mời gọi ta nhận biết Người trong những kẻ túng cùng, khốn khổ : “Ta bảo thật các ngươi : mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,40). Hôm nay, ngay khi nói với các Tông Đồ : “Ai đón tiếp anh em là đón tiếp Thầy”, Người nói tiếp và cho biết Người gắn bó biết bao với từng người : cho một ngôn sứ vì họ là ngôn sứ, cho người công chính vì họ là người công chính, cho kẻ bé mọn nhất vì họ là môn đệ. Ai đón tiếp họ, Người hứa sẽ ban phần thưởng. Khi đón tiếp họ, cũng là chọn đứng về phía Người. Giữa Đức Giê-su và các môn đệ có một mối hiệp thông sâu xa. Đôi khi ta nói về “bí tích huynh đệ”. Các bí tích, trước hết là bí tích Rửa Tội, không biến anh em chúng ta, một cách nào đó, thành những “bí tích” của Đức Giê-su Ki-tô mà họ đã được ghi dấu đó sao ? Cái nhìn đức tin phải giúp chúng ta nhận biết Đức Giê-su hiện diện trong anh em chúng ta. Mỗi người chúng ta được sai đến với con người để cho họ biết Đức Giê-su đã đến gần …

Điều bình thường nhất trở thành nơi diễn ra lắm bất ngờ

Yêu thương, tiếp đón là những từ ngữ thuộc về ngôn từ và phong tục của Nước Trời. Cái bình thường, cái thường ngày trở thành ân sủng, khả năng khám phá ra niềm vui Nước Trời. Điều bình thường nhất như cho một ly nước uống, bỗng trở thành nơi diễn ra sự bất ngờ, mặc khải. Có lẽ Thiên Chúa muốn thời gian nghỉ hè sắp tới sẽ giúp chúng ta trở nên biết quan tâm tới người khác, tới Đấng khác. Như thế, chúng ta sẽ trở thành những con người của niềm tin, những tín hữu.

 

3. Suy niệm: (Lm. Giuse Đinh Lập Liễm)

BIẾT ĐÓN NHẬN THA NHÂN

A. DẪN NHẬP

  Các bài đọc Chúa nhật hôm nay nhắc ta hãy lưu tâm đến việc tiếp nhận tha nhân, nhất là đón nhận những người nghèo hèn, bé mọn, cô thế cô thân, bị bỏ rơi... Đón tiếp tha nhân chính là đón nhận Chúa Kitô. Muốn đón tiếp phải có lòng yêu thương, thành thật, hy sinh, từ bỏ, tế nhị, cởi mở. Biết đón tiếp là bước khởi đầu của tình yêu. Chúa Giêsu hứa sẽ ban thưởng bội hậu cho những ai có lòng quảng đại biết tiếp rước những người nghèo hèn, làm phúc bố thí cho họ dù chỉ một bát nước lã.

  Qua bài đọc sách Các Vua, một bà già son sẻ sang trọng miền Su-nêm rất giàu lòng quảng đại đã mời tiên tri Elisê dùng bữa khi tiên tri đi ngang qua. Do lòng quảng đại bác ái đó, bà đã khám phá ra đây là người của Thiên Chúa. Bà lại càng trân trọng tiếp đãi nồng hậu hơn: dọn phòng trên lầu, có giường, có ghế, có đèn… Qua nghĩa cử “cho khách đỗ nhà”, bà ta đã được đền đáp xứng đáng: sẽ có được con trai trong lúc hai ông bà đã cao niên.

  Sự đón tiếp cần phải với tấm lòng. Đón tiếp vào nhà, với tinh thần chỉ có thể thực hiện nếu có sự đón tiếp với tấm lòng chúng ta, vì nói cho cùng, đón tiếp là tự hiến dâng: đấy là biết từ bỏ sự thoải mái riêng tư, sự yên tĩnh của mình để lo cho người khác. Một sự hiến dâng như thế chỉ có thể thực hiện theo lệnh của con tim chúng ta. Sự hiến dâng này chỉ đầy đủ ý nghĩa nếu nó biểu hiện sự đón tiếp từ trong lòng, làm cho tình thương nên trong sáng và bất vụ lợi. Chúa Giêsu đã nói: “Kẻ nào đón tiếp các ngươi là đón tiếp chính Ta”.

B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA

+ Bài đọc 1: 2V 4,8-11.14-16

  Trên đường sứ mạng, ngày kia tiên tri Êlisê ghé thăm nhà một người đàn bà ở Su-nêm. Bà này tỏ ra rất quý trọng nhà tiên tri, vì bà coi ông là vị thánh của Thiên Chúa. Được sự đồng ý của chồng, bà đã dọn cho tiên tri một phòng ở trên lầu với đầy đủ những thứ cần thiết, để bất cứ lúc nào tiên tri cũng có thể đến trú ngụ.

  Đáp lại tấm thịnh tình của bà, tiên tri đã cầu khẩn Thiên Chúa ban tặng cho bà một đứa con vì bà hiếm muộn và chồng bà đã già. Lời cầu xin của ông đã được chấp nhận. Ông nói với bà: “Vào thời kỳ này, vào độ này sang năm, bà sẽ có cháu trai bồng” (2V 4,16).

+ Bài đọc 2: Rm 6,3-11

  Bài đọc 2 chỉ là chủ đề phụ. Trong thư gửi cho tín hữu Rôma, thánh Phaolô dạy cho các tín hữu biết rằng: nhờ Phép Rửa chúng ta đã cùng được mai táng với Đức Kitô, và sẽ được cùng với Ngài sống lại hiển vinh, để hiệp thông một cách nhiệm mầu vào chính sự sống của Thiên Chúa: “Anh em cũng vậy, hãy coi mình như đã chết đối với tội lỗi, nhưng nay lại sống cho Thiên Chúa, trong Đức Giêsu Kitô” (Rm 6,11).

+ Bài Tin mừng: Mt 10,37-42

  Đức Giêsu đưa ra một điều kiện rất khắt khe đối với những người muốn bước theo Ngài. Theo Chúa thì phải yêu mến Ngài trên hết, trên cả cha mẹ vợ con và trên cả thân mình. Như vậy Ngài có ý nói theo Ngài thì không được để bị ràng buộc bởi gia đình.

  Ngoài ra, Chúa đòi chúng ta yêu mến Ngài hơn tất cả trong việc vác thập giá theo Ngài và biết đón tiếp người khác nhất là những người bé mọn. Điều này đòi hỏi người theo Chúa phải quên mình. Quên mình là từ bỏ những gì liên quan đến con người và mọi liên hệ của bản thân từ sự sống cho đến tình cảm.

C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA: Thương người có mười bốn mối

  Mỗi sáng Chúa nhật chúng ta đều đọc kinh “Thương người có mười bốn mối”: 7 mối quy về thể xác và 7 mối quy về tinh thần, nghĩa là thương con người toàn diện. Các bài đọc trong thánh lễ hôm nay nhắc nhở chúng ta phải lưu tâm tiếp đón mọi người, không những phải tiếp đón các sứ giả của Chúa một cách cẩn trọng mà còn đón tiếp tất cả những kẻ bé mọn vì tất cả đều là môn đệ của Chúa.

I. BÀI HỌC CHÚA DẠY HÔM NAY

  Nhà triết học hiện sinh Pháp, ông Jean Paul Sartre, có nói một câu làm cho chúng ta ngạc nhiên: “L’enfer c’est les autres”: Tha nhân là hỏa ngục đối với ông. Thật là một câu nói quái gở vì nó đi ngược hoàn toàn với Tin mừng.

  Tha nhân là ai? Họ ở đâu? Làm thế nào tìm được họ? Thưa, họ là mọi người ở quanh chúng ta, chúng ta có thể tìm thấy dễ dàng, có thể động chạm đến họ. Nếu chúng ta hỏi Chúa Giêsu: người khác hay tha nhân là ai? Chúa Giêsu sẽ trả lời ngay: “Tha nhân chính là Ta” bởi vì Ngài đã khẳng định: “Sự gì ngươi làm cho một người bé mọn nhất vì danh Ta, là làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,40).

  Trong bài Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu đòi buộc các môn đệ của Chúa phải yêu mến Chúa trên hết, hơn cả cha mẹ anh em, ngay cả mạng sống của mình. Đây là một đòi hỏi rất khắt khe và dứt khoát. Sau đó, Chúa Giêsu khuyên chúng ta hãy tiếp đón các môn đệ của Chúa.

  Trước hết để xác định sự duy nhất giữa Đấng sai đi và người được sai đi: “Ai tiếp đón các con là tiếp đón Thầy, ai tiếp đón Thầy là tiếp đón Đấng đã sai Thầy”. Sau đó, để phân biệt chi tiết sự đón nhận theo ba mức độ giảm dần một cách nghịch lý: các “tiên tri”, những “người công chính”, những “kẻ bé mọn”, và long trọng xác nhận họ có tư cách xứng đáng là sứ giả của Phúc âm.

  Các “tiên tri” hiển nhiên là những Kitô hữu. Họ đã thi hành một tác vụ được chấp nhận trong Giáo hội sơ khai.

  Những “người công chính” có lẽ là những thành phần được kính trọng trong cộng đoàn Kitô hữu.

  Còn những “kẻ bé mọn” là các môn đệ, họ chẳng làm gì hơn là “tin” vào Đức Kitô. Họ cũng đáng được trân trọng và yêu mến đặc biệt (Fiches dominicales, năm A, tr 215).

  Tất cả những điều nói trên chung quy lại cũng chỉ nói về “môn đồ Chúa Giêsu”, nghĩa là Kitô hữu thông thường, kẻ được sai đi và liên kết với sứ mạng của Thầy mình. Ngay cả người Kitô hữu khiêm hạ nhất, tức là kẻ “bé mọn”, cũng có thể gán cho mình những điều đã nói trên.

  Ta phải lưu tâm đến hết mọi người và phục vụ họ ngay cả trong những chuyện tầm thường nhất, như cho một ly nước lã. Vì bất cứ một sự lưu tâm nào đối với kẻ “bé mọn” nhất cũng là một sự lưu tâm đối với Chúa. Khi mở rộng lòng mình cho tha nhân như thế, ta sẽ “được sự sống” là điều duy nhất có thể làm cho ta thoả mãn.

II. GƯƠNG SÁNG VỀ SỰ ĐÓN TIẾP

  Trong Kinh thánh chúng ta thấy còn ghi lại một vài nét đẹp của sự tiếp đón đáng cho chúng ta bắt chước. Những gương sáng này vẫn luôn giữ được tính cách thời sự của nó.

1. Ông Abraham (St 18)

  Ông là một con người hiếu khách và quảng đại. Khi thấy ba khách lạ đang đi trong sa mạc nắng cháy, không những ông mời mà còn năn nỉ họ vào nhà nghỉ và ân cần săn sóc họ một cách chu đáo. Ba người khách lạ đó là ai? Đó là ba sứ giả của Thiên Chúa.

  Đáp lại tấm thịnh tình và lòng quảng đại của ông, ba sứ giả ban cho vợ chồng hiếm muộn này một đứa con trai đầu lòng. Đó là cậu Isaác.

2. Một gia đình ở Su-nêm

  Khi tiên tri Elia qua Su-nêm, một bà giàu có rất hiếu khách đã mời Elia vào nhà dùng bữa với sự săn sóc tỉ mỉ. Bà còn dọn cho tiên tri một phòng trên gác đầy tiện nghi để tiên tri có thể lui tới tự do.

  Đáp lại tấm lòng quảng đại của bà, Elia cũng hứa ban cho bà một đứa con vì bà son sẻ: “Vào thời kỳ này, vào độ này sang năm, bà sẽ có cháu trai bồng” (Bài đọc 1).

3. Gia đình ba chị em ở Bêtania

  Chúa Giêsu rất thương ba chị em này, mỗi khi đi qua Bêtania, Chúa và các môn đệ thường ghé thăm chị em và nghỉ ngơi. Chị cả Matta rất hiếu khách, dọn cho Chúa những bữa ăn ngon. Còn cô em Maria đón tiếp Chúa bằng cách ngồi dưới chân Chúa mà nghe Ngài dạy dỗ, cách đón tiếp này cũng làm cho Chúa rất hài lòng. Còn Lagiarô là đàn ông thì tiếp theo kiểu đàn ông là nhậu và chuyện trò với Chúa.

  Đáp lại sự đón tiếp ân cần và thành thực của ba chị em, Chúa Giêsu đã làm cho Lagiarô sống lại sau khi chết bốn ngày.

Truyện: Một nghĩa cử tuyệt đẹp

  Một hôm, hoàng đế Napoléon của Pháp vào một nhà hàng nọ. Đi theo hoàng đế chỉ có một vị sĩ quan tùy viên. Vì không muốn cho ai nhận ra mình là hoàng đế, nên Napoléon và viên sĩ quan cận vệ cải trang ăn mặc như thường dân.

  Sau khi đã ăn uống xong, bà chủ nhà hàng đến tính tiền. Tổng cộng số tiền phải trả là 14 quan. Viên sĩ quan cận vệ mở chiếc cặp xách tay để lấy tiền. Bỗng mặt ông tái mét đi vì trong cặp không có đồng tiền nào cả.

  Thấy thế, Napoléon hiểu ý nói nhỏ với viên sĩ quan: “Đừng lo, để tôi trả cho”. Nói rồi ông móc túi lấy tiền. Nhưng sờ túi trên, túi dưới, túi trước, túi sau, ông không thấy có đồng tiền nào cả. Napoléon nhìn viên sĩ quan nhướng mắt, nhún vai.

  Trước tình thế đó, viên sĩ quan nói với bà chủ:

 - Thật là rủi ro cho chúng tôi, chúng tôi quên không đem tiền theo. Xin bà vui lòng cho tôi thiếu một tiếng đồng hồ nữa, tôi sẽ trở lại thanh toán với bà được không?

  Bà chủ nhất định không chịu và dọa rằng nếu hai người không chịu trả tiền ngay, thì bà sẽ gọi cảnh sát.

  Một anh bồi bàn theo dõi công việc từ đầu cảm thông với hai người khách nên nói với bà chủ:

 - Quên đem tiền trong túi, đó là điều thường xảy ra. Vì thế, xin bà đừng gọi cảnh sát làm gì! Theo tôi thì hai ông đây là người rất thật thà, không có ý lường gạt đâu.

  Nghe anh bồi bàn nói, bà chủ vẫn không chịu và cứ nằng nặc đòi kêu cảnh sát.

  Thấy thế, anh bồi bàn móc túi lấy ra 14 quan trao cho hai người khách và nói: “Đây tôi cho hai ông mượn để thanh toán với bà chủ”.

  Thế là nhờ anh bồi bàn mà Napoléon và viên sĩ quan mới có thể rời khỏi nhà hàng.

  Một lát sau, viên sĩ quan tùy viên trở lại nhà hàng. Ông gặp lại bà chủ và nói:

 - Bà đã tốn kém mất bao nhiêu để tạo lập nhà hàng này?

  Bà chủ trả lời:

 - 30.000 quan.

  Viên sĩ quan mở chiếc cặp da xách tay lấy ra 30.000 quan đặt trên bàn và nói:

 - Vâng lệnh của chủ tôi là hoàng đế Napoléon, tôi xin bà sang lại nhà hàng này cho anh bồi bàn, người đã giúp chúng tôi đang lúc chúng tôi kẹt không có tiền.

III. CÁCH THỨC ĐÓN TIẾP

  Trong việc tiếp đón, người ta phải chú ý đến phương diện vật chất và tinh thần. Phương diện nào cũng quan trọng để làm cho khách được hài lòng, nhưng phương diện tinh thần thì quan trọng hơn.

1. Phương diện vật chất

  Khi đón khách vào nhà, ai cũng muốn khách được hài lòng: dọn dẹp nhà cửa, trang bị đồ dùng cần thiết, cơm nước ngon lành... Phần trang bị vật chất càng đầy đủ càng nói lên lòng hiếu khách, nếu không sợ khách phê bình “khẩu thiệt đãi chi”. Gia đình ở Su-nêm chẳng những đón tiếp tiên tri Êlia, mà còn dọn cho ông một căn phòng để những lần sau ông tới đã có chỗ trọ. Dĩ nhiên, mến khách thì càng tốn kém, nhưng đó là điều kiện bắt buộc.

2. Phương diện tinh thần

  Khía cạnh tinh thần trong việc đón tiếp khách mới là quan trọng. Người đời thường nói: “Người ta thèm lòng chớ không thèm thịt” hoặc câu khác: “Cách cho thì quý hơn của cho”. Cách tiếp đón quý ở chỗ thành thực, quảng đại và cởi mở, chú trọng đến con người hơn là của cải. Tiếp đón không chỉ là đón người vào trọ trong nhà mình, cho họ ăn, cho họ nghỉ, mà còn là biết quan tâm tới nhu cầu của người khác và đáp ứng theo khả năng của mình.

  Đối với hai trường hợp đón tiếp khách ở trên, tại sao những chủ nhà ấy quảng đại đón tiếp khách? Thưa, vì họ không chỉ nghĩ đến mình mà còn quan tâm tới người khác.

  Abraham lo cho ba người khách kia đi trong sa mạc sẽ bị đói khát và không có chỗ nghỉ ngơi để lấy sức.

  Gia đình ở Su-nêm lo sợ tiên tri Êlia phải bơ vơ nơi miền đất lạ, không có chỗ nương nhờ trong hoàn cảnh khó khăn đó.

  Gia đình ở Bêtania thì muốn dành cho Chúa Giêsu và môn đệ có chỗ nghỉ ngơi sau những ngày giờ làm việc mệt nhọc. Gia đình kiếm cho Chúa có chỗ dừng chân mỗi khi đi qua Bêtania.

IV. PHẦN THƯỞNG DÀNH CHO SỰ ĐÓN TIẾP

  Khi tiếp đón, dĩ nhiên chúng ta phải mất mát: mất thì giờ, mất tiền của, mất công... Nhưng tất cả sẽ được Chúa thưởng công cho ở đời này hay đời sau.

  Trở lại ba việc đón tiếp trên, phần thưởng của lòng quảng đại ấy là gì? Là sự sống: hai đứa con đầu lòng cho hai vợ chồng son sẻ, và mạng sống được trả lại cho Lagiarô đã chết bốn ngày. Xét cho cùng, ơn ban sự sống ấy không phải do những người khách, mà chính Thiên Chúa, nguồn mạch sự sống, ban cho họ.

  Theo bài Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu đã khẳng định không có việc gì làm cho người khác mà bị bỏ quên, Chúa ghi nhớ tất cả và sẽ thưởng công cho, mặc dù việc ấy rất nhỏ nhặt: “Kẻ nào cho một trong những kẻ bé mọn này uống chỉ một bát nước lã thôi với danh nghĩa là môn đệ, thì quả thật, Thầy nói với các con, người ấy không mất phần thưởng đâu”.

  Đến ngày phán xét, ngày thưởng phạt đích đáng, Chúa Giêsu sẽ nói với mọi người chúng ta: “Mỗi lần các ngươi làm cho một người nhỏ bé nhất của Ta đây, là các ngươi làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,40). Ngược lại là chúng ta đã không làm cho Chúa và sẽ phải lãnh hình phạt đời đời.

Truyện: Một chén ân tình

  Willton Rix có kể một câu chuyện đầy kịch tính như sau:

  Vào sáng một mùa đông tuyết lạnh, Sadhu Sundar Singh và một người bạn du lịch qua miền núi Bắc Ấn độ. Thình lình một cơn bão tuyết ào ào đổ tới, gió lạnh gào thét bên tai họ, khiến hai người phải chống trả hết sức khó khăn.

  Đang lúc dầu sôi lửa bỏng ấy, họ lại thấy một người đàn ông nằm vất vưởng bên đường chờ chết. Sadhu muốn dừng lại để cứu giúp người bị nạn, nhưng bạn ông cho rằng, nỗ lực ấy chỉ hoài công thôi. Vì để cứu lấy chính mình trong lúc này cũng đã vất vả lắm rồi. Và ông bạn ấy đã bỏ đi.

  Chạnh lòng thương, Sadhu ở lại bên cạnh kẻ bất hạnh, xoa nóng tay chân con người dở sống dở chết ấy. Với sức lực còn lại, Sadhu cố gắng cõng anh ta trên lưng và khó nhọc đi qua vùng bão tuyết. Hơi ấm của hai thân thể hòa quyện lấy nhau khiến người kia hồi sinh và cả hai cùng mạnh sức.

  Đi khoảng một dặm, họ kinh ngạc khi nhìn thấy một xác chết lạnh cóng bên vệ đường. Họ càng sững sờ hơn nữa khi nhận ra đó chính là anh bạn cùng đi với Sadhu sáng nay (Thiên Phúc, Như Thầy đã yêu, tr 85).

  Trong bài Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu còn đưa ra một điều kiện nghịch lý cho các môn đệ Người theo: “Ai giữ mạng sống mình, thì sẽ mất, còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm thấy được” (Mt 10,39). Cứ thực hành đi rồi sẽ thấy nó không nghịch lý nữa.

  Chúng ta thấy nghĩa cử yêu thương của Sadhu đã minh chứng hùng hồn cho lời nói của Chúa Giêsu ở trên. Bạn của Sadhu đã cố giữ lấy mạng sống mình nên đã mất mạng, còn Sadhu liều mạng “vì anh em” nên đã được sống. Một người không có khả năng từ bỏ mình vì anh em thì họ cũng không có khả năng yêu thương. “Phải liều mất đi” để “tìm thấy lại”. Đó là nghịch lý mà Chúa Giêsu đã trải qua để nêu gương cho chúng ta. Người đã sẵn lòng chịu chết ô nhục để rồi sống lại vinh quang cũng để nói lên lời yêu thương con người.

  Mỗi ngày Chúa nhật đọc kinh “Thương người có 14 mối”, chúng ta hãy xem lại con người chúng ta còn thiếu sót những mối nào trong kinh ấy, hãy cố gắng thực hiện tất cả. Mỗi lần chúng ta làm cho tha nhân điều gì thì đó là chúng ta đang làm cho Chúa dù cho người bé mọn chỉ một chén nước lã thôi.

  “Một chén nước lã” đối với Chúa là “một chén ân tình”. Điều đó cho thấy, Thiên Chúa không hề bỏ sót một nghĩa cử yêu thương nào, cho dù chỉ là nghĩa cử bé nhỏ âm thầm, một khi đã được khoác vào tấm áo tình yêu thì nó trở nên vô cùng cao cả. Tình yêu chính là trọng tâm của đời sống Kitô hữu.

 

4. Suy niệm: (Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu S.J.)

Mt 10,37-42

XỨNG VỚI THẦY

Hai mươi sáu năm trời, vác một cây thánh giá gỗ,
dài 3,6m, ngang 1,8m, nặng 18 kg,
vượt qua 50,140 km, 227 quốc gia, 7 lục địa:
đó là điều mục sư Arthur Blessit đã làm từ Noel 1969.
Ông là người giữ kỷ lục đi bộ quãng đường dài nhất.
"Tôi đã đi qua các sa mạc, rừng rậm,
đã từng bị tấn công bởi voi, rắn, cá sấu.
Tôi đã bị bắt giam 21 lần và suýt bị hành hình..."
Chỉ còn 50 nước ông chưa đặt chân tới.
Ông hy vọng sẽ hoàn tất chuyến đi này trước năm 2000.
Như vậy ông sẽ là người đầu tiên
đưa thánh giá đi khắp mọi nơi trên thế giới.
Cử chỉ của ông làm chúng ta suy nghĩ.
Vác thánh giá là chấp nhận nặng nề và bấp bênh,
nặng nề vì khúc gỗ trên vai, bấp bênh vì nguy hiểm.

Ðức Giêsu mời gọi các môn đệ
vác thánh giá của mình mà theo Ngài.
Chẳng có con đường nào tốt hơn con đường Ngài đã đi.
Con đường khó nghèo, khiêm hạ ở Bê-lem và Na-da-rét.
Con đường rao giảng trong nhọc nhằn ở phần đất xứ Galilê.
Con đường đầy đe dọa hiểm nghèo khi lên Giêrusalem.
Con đường hiến mình khi vác thánh giá lên Núi Sọ.
Chúng ta được mời gọi đi theo Ngài trên các con đường ấy,
hay đúng hơn đi theo Ngài trên nẻo đường của đời mình,
không cô đơn thất vọng, vì biết nơi mình sắp đến.
Thánh giá của chúng ta không phải là khúc gỗ,
nhưng là những gì ta phải từ bỏ, dù rất yêu mến,
những người ta phải yêu mến, dù rất muốn từ bỏ.
Chúng ta chỉ vác nổi thánh giá của mình
nếu chúng ta dám yêu thực sự.
Chỉ khi yêu mến Thiên Chúa và tha nhân,
chúng ta mới dám quên mình, bỏ mình, mất mình, hiến mình.

Ðiểm mới mẻ của Tân Ước là tình yêu đối với Ðức Giêsu.
Ngài đòi ta phải yêu Ngài hơn cha mẹ, hơn con cái.
Ngài còn đòi ta chịu mất mạng vì Ngài.
Nếu Ðức Giêsu không phải là hiện thân của chính Thiên Chúa,
nếu Ngài đã không chết vì chúng ta trước,
thì Ngài chẳng có quyền đòi hỏi những hy sinh như vậy.
Trải qua 20 thế kỷ, biết bao thế hệ Kitô hữu
đã dám sống đến cùng tình yêu ấy.
Truyền giáo không phải chỉ là thông truyền đức tin
mà còn là thông truyền tình yêu,
là làm cho Ðức Giêsu được mọi người yêu mến.

Nhưng trước hết, chúng ta phải cảm nghiệm được Tình Yêu
để cả cuộc đời ta là lời đáp cho Tình Yêu,
là cuộc sống sao cho xứng với Thầy (c.37.38).
Ước gì chúng ta yêu Ðức Giêsu trên mọi sự,
yêu mọi sự trong Ngài và dưới Ngài,
chấp nhận mất cái tôi nhỏ mọn, để được cái tôi triển nở.

 

Gợi Ý Chia Sẻ

1. Bạn hãy chia sẻ một kinh nghiệm về mất để rồi được lại hay một kinh nghiệm về tưởng được mà lại mất.

2. Từ bỏ, hy sinh là những điều không hấp dẫn con người hôm nay, nhưng bạn có thấy chúng hết sức cần thiết không? Làm sao để dễ từ bỏ mình khi phải chung sống với người khác?

 

Cầu Nguyện

Lạy Chúa,
xin nhận lấy trọn cả tự do, trí nhớ, trí hiểu,
và trọn cả ý muốn của con,
cùng hết thảy những gì con có,
và những gì thuộc về con.

Mọi sự ấy, Chúa đã ban cho con,
lạy Chúa, nay con xin dâng lại cho Chúa.
Tất cả là của Chúa,
xin Chúa sử dụng hoàn toàn theo ý Chúa.

Chỉ xin ban cho con lòng mến Chúa và ân sủng.
Ðược như thế, con hoàn toàn mãn nguyện. Amen. (Kinh dâng hiến của thánh I-Nhã)

 

5. Suy niệm: (Lm. Nguyễn Vinh Sơn SCJ)

Câu chuyện

Vào sáng một ngày mùa đông tuyết lạnh, Sadhu Sundar Singh và một người bạn đi du lịch qua miền núi Bắc Ấn Độ. Thình lình một cơn bão tuyết ào ào đổ tới, gió lạnh gào thét bên tai họ, khiến hai người phải chống trả hết sức khó khăn.

Đang lúc dầu sôi lửa bỏng ấy, họ lại thấy một người đàn ông nằm vất vưởng bên đường chờ chết. Sadhu muốn dừng lại để cứu giúp người bị nạn, nhưng bạn ông cho rằng, nỗ lực ấy chỉ hoài công thôi. Vì để cứu lấy chính mình trong lúc này cũng đã vất vả lắm rồi. Và ông bạn ấy đã bỏ đi.

Chạnh lòng thương, Sadhu ở lại bên cạnh kẻ bất hạnh, xoa nóng tay chân con người sống dở chết dở ấy. Với sức lực còn lại, Sadhu cố gắng cõng anh ta trên lưng và khó nhọc đi qua vùng bão tuyết. Hơi ấm của hai thân thể hoà quyện lấy nhau khiến người kia hồi sinh và cả hai cùng mạnh sức.

Đi khoảng một dặm, họ kinh ngạc khi nhìn thấy một xác chết lạnh cóng bên vệ đường. Họ càng sững sờ hơn nữa khi nhận ra đó chính là anh bạn cùng đi với Sadhu sáng nay (Thiên Phúc, Như Thầy đã yêu, tr 85).

Suy niệm

Đức Giêsu đưa ra một điều kiện rất khắt khe đối với những người muốn bước theo Ngài: Phải sẵn sàng từ bỏ mọi sự, ngay cả những tình cảm thân thiết nhất như cha mẹ, anh em, bạn bè. Ngài không bắt chúng ta phải khước từ gia đình. Qua cách nói mạnh đó, Ngài muốn nhấn mạnh, môn đệ của Ngài phải đặt tình yêu Chúa và sứ mạng tông đồ lên trên hết mọi tương quan, ngay cả trên chính mạng sống mình. Đó là con đường khổ giá mà Ðức Giêsu đi trước và muốn người môn đệ đi theo.

Theo văn mạch của Matthêu, sau này Đức Giêsu quả quyết rằng đối với môn đệ của Ngài không có con đường nào khác ngoài con đường thập giá và đó cũng là đường dành các môn sinh: “Nếu ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo”. “Từ bỏ chính mình” (Mt 16, 24): Có nghĩa là bỏ đi cả những khát vọng, những đòi hỏi chính đáng của mình mà nhận lấy khát vọng và đòi hỏi của người khác, ở đây chính là đòi hỏi của Thiên Chúa. Đó là “học với; làm môn đệ” (x. Mt 11,29), là bắt chước các phong thái của Thầy, lặp lại những chọn lựa của Thầy, tức là nối tiếp công trình mà Thầy đã bắt đầu với biết bao hy sinh đau khổ vì làm chứng cho Đức Kitô.

Nghiền ngẫm lời mời gọi của Thầy, chúng ta tiến bước trong cuộc sống và đối diện với đau thương mà mỗi người chúng ta luôn đối diện trong những nỗi đau của thể xác, hay nỗi đau về tâm hồn, có khi cả hai.

 Vác thánh giá theo Đức Giêsu, sự chiến thắng huy hoàng cũng dành cho người môn đệ trung kiên vác thập giá Chúa, Thánh Phaolô khẳng định: Nếu chúng ta đã cùng chết với Đức Kitô, chúng ta cũng sẽ cùng sống với Người (Rm 6,8). Đức Kitô đã chiến thắng sự dữ, chiến thắng đau khổ, chiến thắng sự chết và cho phép chúng ta cùng Ngài vượt qua đau khổ, vượt qua sự chết như Ngài: “Ngày thứ ba Người sẽ sống lại”.

Yêu mến Thầy, vác thập giá theo Thầy và cũng biết đón tiếp người khác nhất là những người bé mọn cùng khổ. Điều này đòi hỏi người theo Chúa phải quên mình, quên mình phục vụ anh em với tất cả tình yêu dù chỉ cho người bé mọn một chén nước lã.

Xin cho chúng ta biết noi gương Thầy Chí Thánh trong sự từ bỏ, khi bước vào sứ mạng đón nhận đau khổ trong niềm tin yêu và phục vu...

Ý lực sống

“Nếu ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” (Mt 16,24).

Top