Phụng vụ Lời Chúa: Chúa Nhật 33 thường niên, năm A

CHÚA NHẬT XXXIII THƯỜNG NIÊN
 
LỄ CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM
 
2 Mcb 7, 1.20-23.27b-29; Rm 8, 31b-39; Lc 9, 23-26
 
THIÊN CHÚA TRÊN HẾT
 
“Ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; 
còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi, thì sẽ cứu được mạng sống ấy” (Lc 9,24)
 
Con người luôn lo âu khắc khoải trước đau khổ và cái chết, nhưng đau khổ và sự chết không thể làm gì được những người công chính vì linh hồn họ luôn ở trong tay Chúa. Đối với họ, đau khổ có khi là cơ hội thử thách giúp họ thanh luyện đức tin và biểu lộ lòng trung thành và tình yêu với Chúa. 
 
I. CÁC BÀI ĐỌC
 
1. Bài đọc I: 
 
Sách Máccabê đánh dấu một giai đoạn đầy khó khăn trong lịch sử của dân Chúa khi mà đền thờ và nền phụng tự bị ngoại bang xâm phạm cách nặng nề. Đoạn sách Máccabê hôm nay là một thiên hùng ca về những người Do Thái sẵn sàng chấp nhận đau khổ và cả cái chết để trung thành với lề luật và tôn giáo của cha ông.
 
Trước hết, đối với người Dothái, tuân giữ lề luật cách đầy đủ và nghiêm ngặt là một cách chứng tỏ lòng trung thành, và việc tôn thờ Thiên Chúa cách thiết thực. Một người Do thái được xem là đạo đức và công chính khi giữ trọn “mọi điều răn và mệnh lệnh của Chúa” (x. Lc 1,6). Câu chuyện về bà mẹ và bảy người con thà chấp nhận cái chết chứ không chịu vi phạm Lề luật là biểu hiện rõ nhất về lòng trung tín của một người dân có niềm tin vào Thiên Chúa.
Kế đến, qua câu chuyện bà mẹ khuyên nhủ những người con chấp nhận cái chết, chúng ta khám phá ra rằng sở dĩ bà mẹ và những người con sẵn sàng chấp nhận cái chết là vì họ xác tín rằng sự sống của họ không do họ tự tạo ra mà là do Thiên Chúa, Đấng ban cho họ “thần khí và sự sống”. Đồng thời, họ cũng tin rằng một khi họ “trọng luật lệ của Người hơn bản thân mình” đến nỗi dám hy sinh sự sống để bày tỏ lòng trung thành với Thiên Chúa họ thờ, thì chính Người sẽ trả lại cho họ thần khí và sự sống (x. 2Mcb 7,22-23).
 
Cuối cùng, qua câu chuyện bà mẹ và bảy người con, tác giả sách Máccabê thoáng cho thấy niềm hy vọng phục sinh. Thật vậy, bà mẹ tin rằng nếu các con bà “chấp nhận cái chết” vì trung thành với lề luật của Thiên Chúa, thì “đến ngày Chúa thương xót”, chính Người sẽ trả các con về lại cho bà (x. 2Mcb 7,29). Như thế, việc người công chính chịu đau khổ đã dẫn tác giả đến chỗ xác tín vào niềm tin phục sinh của kẻ chết. Phải nói rõ, lúc đầu người Do thái chưa được mạc khải về sự sống đời sau, nhưng kể từ thời Maccabê, một số người bắt đầu có niềm tin về sự sống đời sau; đây là điểm giáo lý mà những người theo phái Pharisêu sau này nhấn mạnh. Từ niềm tin đó, sách Maccabê  cho rằng việc thưởng phạt của Thiên Chúa không chỉ nằm ở đời này như truyền thống quan niệm, mà kéo dài sau cái chết. Do vậy, những người chịu chết vì trung thành với Lề Luật Chúa sẽ được Chúa cho sống lại cả hồn lẫn xác.
 
Bà mẹ và bảy anh em (2 Mcb 7,1-41) đã tự nguyện chấp nhận khổ đau và cái chết để thể hiện lòng trung thành tuyệt đối với Thiên Chúa mà họ tôn thờ. Họ cũng là hình ảnh báo trước của các vị tử đạo trong Kitô Giáo sau này.
 
2. Bài đọc II:
 
Đoạn thư thánh Phaolô gởi cho các tín hữu Rôma là một bài ca tuyệt vời về tình yêu của Thiên Chúa dành cho nhân loại qua việc trao hiến Đức Giêsu, Con Một của Người.   
 
Trước hết, việc Thiên Chúa trao ban Đức Giêsu, Con Một của Người cho nhân loại là bằng chứng rõ ràng nhất của tình yêu cao cả và vô điều kiện mà Người dành cho nhân loại. Khi trao hiến chính Con Một là kho tàng quý giá nhất của mình, Thiên Chúa muốn chứng tỏ cho nhân loại thấy rằng Người đã cho nhân loại tất cả mà không đòi hỏi bất cứ điều kiện nào. Đồng thời, khi Thiên Chúa để cho Đức Giêsu chết cho tội lỗi nhân loại, Người đã thật sự tha thứ cho mọi lỗi lầm của nhân loại.
 
Hơn nữa, thánh Phaolô còn xác tín rằng một khi được Thiên Chúa yêu thương hết mực như thế, con người không còn gì phải lo lắng hay sợ hãi nữa. Ai hay điều gì có thể tách nhân loại ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa? Câu hỏi mang tính hùng biện của thánh Phaolô dẫn đến lời khẳng định rằng dù là gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ hay gươm giáo (x. Rm 8,35); dù là sự sống hay sự chết, ma vương hay quỷ lực, hiện tại hay tương lai, trời cao hay vực thẳm, hay bất cứ một sức mạnh nào, cũng không thể chia cắt con người khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện qua Đức Giêsu (x. Rm 8,38-39). Vậy những ai thật sự cảm nhận và xác tín sâu sắc về tình yêu Thiên Chúa dành cho mình, thì dám chết để chứng tỏ sự trung thành và sức mạnh vô song của tình yêu ấy.
Cuối cùng, dù được Thiên Chúa yêu thương hết mực và vô điều kiện, con người vẫn không thể tránh khỏi những sự dữ trong thế giới này. Dầu vậy, những thử thách trong thế giới lại là cơ hội để con người chiến đấu mà chứng tỏ sự trung thành với niềm tin vào Thiên Chúa. Cũng cần lưu ý rằng ngay cả con người có thể chiến thắng trong những cơn thử thách, thì đó không phải do công sức riêng của con người, mà cũng là nhờ sức mạnh của Thiên Chúa: “Nhưng trong mọi thử thách ấy, chúng ta toàn thắng nhờ Đấng đã yêu mến chúng ta” (Rm 8,37).
 
Nhờ cái chết và sự sống lại của Đức Giêsu, Thiên Chúa cho thấy Người yêu thương nhân loại bằng một tình yêu vô điều kiện và vững chắc đến nỗi không có bất cứ ai hay sức mạnh nào có thể lay chuyển. Các thánh tử đạo đã cảm nhận cách sâu sắc tình yêu Thiên Chúa dành cho các vị đến nỗi cái chết cũng không thể chia cắt tình yêu đó.
 
3. Bài Tin Mừng:
 
Sau khi ông Phêrô, đại diện cho các môn đệ, tuyên tín cách hùng hồn (x. Lc 9,18-21), Đức Giêsu liền mạc khải cho các môn đệ biết con đường Người phải đi là con đường khổ giá (x. Lc 9,22). Người cũng muốn các môn đệ của mình đi trên con đường đó. Đó chính là con đường làm môn đệ Đức Giêsu. Con đường đó được thể hiện ra bằng những điều kiện. 
 
Trước hết, điều kiện để theo Đức Giêsu là “từ bỏ mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo” (Lc 9,23). Đức Giêsu không phác thảo ra một viễn cảnh huy hoàng cho cuộc sống của những người muốn theo Người theo nhãn quan của người Do thái thời đó. Trái lại, Người cho thấy con đường làm môn đệ đòi hỏi sự từ bỏ, đến mức từ bỏ cả ý riêng, để thực thi ý muốn của Thiên Chúa theo gương Đức Giêsu. Đó còn là con đường chấp nhận vác “thập giá hàng ngày”, đón nhận mọi sự xảy đến trong niềm tin tưởng và phó thác trọn vẹn trong tay Chúa.
 
Kế đến, người môn đệ Đức Giêsu cần ý thức rằng tất cả mọi sự đều là ân huệ Thiên Chúa tặng ban, ngay cả sự sống, cũng đều phát xuất từ Thiên Chúa. Cả cuộc sống của người môn đệ hoàn toàn thuộc về Chúa, như lời xác quyết của thánh Phaolô: “Chúng ta có sống là sống cho Chúa, mà có chết cũng là chết cho Chúa. Vậy, dù sống, dù chết, chúng ta vẫn thuộc về Chúa” (Rm 14,8). Vì thế, cuộc sống của người môn đệ không phải là đi tìm bản thân, hay tìm vinh quang cho mình, nhưng là đi tìm Chúa và làm vinh danh Người. Khi người môn đệ dám bỏ mình vì Chúa, thì họ lại tìm được chính bản thân, vì “ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi, thì sẽ cứu được mạng sống ấy” (Lc 9,24).
 
Sau cùng, người môn đệ Đức Giêsu có trách nhiệm làm chứng cho Chúa Giêsu và lời của Người. Việc các môn đệ làm chứng cho Chúa Giêsu trước mặt người khác là điều kiện để họ được Người chứng thực trước mặt Thiên Chúa trong ngày quang lâm. Trái lại, “ai xấu hổ vì tôi và những lời của tôi, thì Con Người cũng sẽ xấu hổ vì kẻ ấy, khi Người ngự đến trong vinh quang của mình …” (Lc 9,26).
 
Các thánh tử đạo là những người đã trung tín đi trọn con đường mà Đức Giêsu mời gọi các môn đệ: đó là từ bỏ ý riêng và chấp nhận mọi sự xảy đến trong đời mình với tinh thần phó thác, đến nỗi sẵn sàng “liều mất mạng sống” để làm chứng cho Chúa Kitô, với niềm xác tín rằng “sẽ cứu được mạng sống ấy” trong ngày Đức Giêsu Kitô quang lâm.
 
II. GỢI Ý ÁP DỤNG:
 
1. Chính Ðấng Tạo Hoá càn khôn đã nắn đúc nên loài người, và đã sáng tạo nguồn gốc muôn loài. Chính Người do lòng thương xót, cũng sẽ trả lại cho các con thần khí và sự sống, bởi vì bây giờ các con trọng Luật Lệ của Người hơn bản thân mình. Bà mẹ và bảy anh em đã tự nguyện chấp nhận khổ đau và cái chết để thể hiện lòng trung thành tuyệt đối với Thiên Chúa mà họ tôn thờ. Họ xác tín rằng một khi họ hết mực trung thành với lề luật của Thiên Chúa, Đấng ban cho họ “thần khí và sự sống”, thì Người sẽ ban cho họ sự sống bất diệt. Niềm tin vào sự phục sinh là sức mạnh giúp họ vượt thắng cả cái chết. Đức Giêsu Kitô đã phục sinh để đem lại sự sống đời đời cho những ai tin vào Người. Đức Kitô Phục Sinh có là sức mạnh giúp tôi vượt thắng những cám dỗ, những khó khăn hiện tại để hướng tới sự sống vĩnh cửu đời sau?
 
2. Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Ðức Kitô? …Trong mọi thử thách ấy, chúng ta toàn thắng nhờ Ðấng đã yêu mến chúng ta. Qua và nhờ cái chết và sự sống lại của Đức Giêsu, Thiên Chúa cho thấy Người yêu thương nhân loại bằng một tình yêu vô điều kiện và vững chắc đến nỗi không có bất cứ ai hay sức mạnh nào có thể lung lay nổi. Các thánh tử đạo đã cảm nhận cách sâu sắc tình yêu Thiên Chúa dành cho các ngài đến nỗi chấp nhận cái chết để minh chứng cho sức mạnh của tình yêu đó. Tôi có mạnh mẽ xác tín rằng Đức Kitô đã chết vì yêu thương tôi, đến nỗi không có gì có thể chia cắt tình yêu của Người dành cho tôi? Tình yêu vô vị lợi của Thiên Chúa thể hiện nơi cái chết và sự sống lại của Đức Kitô có là động lực thúc đẩy tôi yêu thương anh chị em mình hơn?
 
3. Ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi, thì sẽ cứu được mạng sống ấy. Điều kiện để trở thành môn đệ Đức Giêsu: đó là từ bỏ ý riêng và chấp nhận mọi sự xảy đến trong đời mình với tinh thần phó thác, đến nỗi sẵn sàng “liều mất mạng sống” để làm chứng cho Chúa Kitô, với niềm xác tín rằng “sẽ cứu được mạng sống ấy” trong ngày Đức Kitô quang lâm. Tôi có dám chấp nhận từ bỏ ý riêng để xứng với tư cách làm môn đệ Đức Giêsu? Tôi đang tìm cách làm vinh danh Người hay tìm vinh danh tôi? Tôi có sẵn lòng chấp nhận thiệt thòi, ngay cả những gì thiết thân nhất, để làm chứng cho Đức Giêsu Kitô?
 
III. LỜI NGUYỆN CHUNG
 
Chủ tế: Anh chị em thân mến! Các Thánh Tử đạo Việt Nam là những bậc tiền nhân đã hiến dâng mạng sống mình cho Thiên Chúa, và máu của các ngài trở nên hạt giống đức tin cho bao thế hệ con cháu. Chúng ta cùng cảm tạ Chúa đã đoái thương nước Việt, và tin tưởng dâng lời cầu xin cho Giáo Hội và cho đồng bào của chúng ta:
 
1. Cầu cho các Đức Giám mục và hàng linh mục Việt Nam. Xin cho các ngài luôn nhiệt thành loan báo Tin Mừng trên mọi miền đất nước, can đảm làm chứng cho sự thật, tận tình chăm sóc hướng dẫn đoàn chiên, cùng nỗ lực xây dựng sự hiệp nhất của Dân Chúa.
 
2. Cầu cho những anh chị em đang đau khổ vì nghèo đói, bệnh tật, hoặc thiên tai. Xin cho họ luôn cảm nhận và xác tín rằng Thiên Chúa vẫn hiện diện, yêu thương và chăm sóc họ trong mọi hoàn cảnh, qua sự đồng cảm và tương trợ của rất nhiều người xa gần.
 
3. Cầu cho các Kitô hữu, cách riêng là các bạn trẻ giữa xã hội hôm nay. Xin cho họ luôn sống xứng danh là con cháu các vị tử đạo, biết tránh xa lối sống vô cảm, luôn dấn thân quên mình vì bổn phận và trách nhiệm, nêu cao tinh thần bác ái tốt đẹp của Kitô giáo.
 
4. Cầu cho các gia đình và mọi người trong cộng đoàn. Xin cho tất cả chúng ta luôn ý thức trân trọng di sản đức tin được thừa hưởng từ các bậc tiền nhân, không ngừng tái khám phá sứ điệp Tin Mừng, ra sức thực hành và hăng say loan báo sứ điệp đó cho mọi người.
 
Chủ tế: Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, chúng con ca ngợi tình thương và sức mạnh của Chúa đã thể hiện nơi sự yếu đuối mỏng giòn của các Thánh Tử đạo Việt Nam. Xin nhận lời chúng con cầu nguyện và giúp chúng con luôn sống trung thành với đức tin và gương sáng của các bậc tiền nhân. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con.