Sứ điệp của Đức Thánh Cha nhân Ngày Hòa Bình Thế Giới 2011

VATICAN. Sáng 16-11-2010, Sứ điệp của ĐTC Biển Đức 16 nhân ngày hòa bình thế giới 1-1-2011 sắp tới đã được công bố với chủ đề ”Tự do tôn giáo, con đường dẫn đến hòa bình”.

Sứ điệp được ĐHY Peter Turkson, người Ghana, Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh, cùng với vị Tổng thư ký là Đức Cha Mario Toso SDB, giới thiệu với giới báo chí trong cuộc họp báo tại Phòng báo chí Tòa Thánh. Sứ điệp của ĐTC gồm 15 đoạn, trong đó ngài nói đến tầm quan trọng, ý nghĩa và nguồn gốc của tự do tôn giáo, tương quan giữa quyền tự do này với hòa bình, chiều kích công cộng của tôn giáo và những nguy cơ lạm dụng tự do tôn giáo.

ĐTC đặc biệt tố giác trào lưu cực đoan và sự thù nghịch chống các tín hữu Kitô do quan niệm duy đời cực đoan (laicisme). Ngài viết: ”Xã hội nào muốn áp đặt, hoặc trái lại, muốn dùng bạo lực để chối bỏ tôn giáo, là một xã hội bất công đối với con người và Thiên Chúa, và đối với cả chính mình nữa”.

ĐTC lên án các cuộc bách hại và kỳ thị tôn giáo nhất là những hành động bạo lực và bất bao dung chống tôn giáo dựa trên tôn giáo. Ngài khẳng định rằng: ”Đặc biệt tại Á, Phi, nạn nhân chính của những vụ này là thành phần các nhóm tôn giáo thiểu số: họ bị cấm không được tự do tuyên xưng tôn giáo hoặc thay đổi tôn giáo, bằng những hành động dọa nạt hoặc vi phạm các quyền và tự do căn bản, cũng như những thiện ích của cải cơ bản của họ, thậm chí đến độ cầm tù hoặc tước đoạt sự sống của họ”.

ĐTC không quên lên án những hình thức thù nghịch một cách tinh vi hơn, chống lại tôn giáo, như ta thấy tại nhiều nước tây phương. Những hình thức đó được diễn tả qua sự chối bỏ lịch sử và các biểu tượng tôn giáo trong đó có phản ánh căn tính và văn hóa của đại đa số công dân. Những hình thức ấy thường nuôi dưỡng sự oán ghét và thành kiến, và không phù hợp với quan niệm thanh thản và quân bình về sự đa nguyên và đặc tính đời của các tổ chức, không kể sự kiện chúng có thể ngăn cản các thế hệ trẻ tiếp xúc với gia sản tinh thần quí giá của đất nước họ”.

Bài giới thiệu của ĐHY Turkson

1. Dẫn nhập

Sứ điệp gồm có lời ĐTC chúc mừng Năm Mới, và nhắc đến cuộc tấn công chống các tín hữu Kitô tại Irak. Trong phần chính của sứ điệp, ĐTC trình bày ý nghĩa tự do tôn giáo và những thể thức khác nhau qua đó tự do này dẫn đến hòa bình và những kinh nghiệm về hòa bình, và sau cùng là kết luận suy tư về hòa bình như một hồng ân của Thiên Chúa và đồng thời cũng là công trình của những người nam nữ thiện chí, và trước tiên là của các tín hữu.

ĐHY Turkson nhận xét rằng Tự do tôn giáo là đề tài sứ điệp của ĐTC cho ngày Hòa Bình thế giới sắp tới, không những vì đề tài này ở trọng tâm đạo lý xã hội Công Giáo, nhưng còn vì cuộc sống tự do tôn giáo - như một ơn gọi cơ bản của con người, một nhân quyền bất khả nhượng và phổ quát, và là một chìa khóa hòa bình - tự do ấy tiếp tục bị đe dọa:

- trước tiên từ phía trào lưu tục hóa quá khích, tỏ ra bất bao dung đối với Thiên Chúa và mọi hình thức biểu lộ tôn giáo

- tiếp đến là từ phía trào lưu cực đoan về tôn giáo, chính trị hóa tôn giáo và áp đặt các đạo của nhà nước;

- ngoài ra, tự do tôn giáo cũng bị đe dọa vì sự nảy sinh trào lưu duy tương đối về văn hóa và tôn giáo ngày càng lan tràn và mạnh mẽ ngày nay.

Chính sự hoàn cầu hóa - vốn làm gia tăng sự lệ thuộc nhau và những hình thức quan hệ mới, sự đi lại dễ dàng hơn của con người, sự đối chiếu giữa các nền văn hóa và tôn giáo, - cũng bị lợi dụng, nhất là trong lãnh vực tôn giáo, để đạt tới hậu quả đối ngược là làm cho nền văn hóa của nhân loại trở nên nghèo nàn hơn và xúi giục thái độ bất bao dung, phủ nhận và chối bỏ quyền tự do tôn giáo.

Trong Sứ điệp, ĐTC coi việc bảo vệ tự do tôn giáo trong thế giới đa văn hóa, đa tôn giáo và bị tục hóa ngày nay như một trong những cách thức để bảo vệ hòa bình thế giới.

2. Bối cảnh

Sang đến bối cảnh Sứ điệp của ĐTC, ĐHY Turkson nhắc lại rằng một trong những nghĩa vụ quan trọng được đề ra cho thế giới chúng ta sau thế chiến thứ hai là việc soạn thảo, chấp nhận và công bố Tuyên ngôn Quốc Tế nhân quyền năm 1948. Bối cảnh khiến LHQ đề ra tuyên ngôn này chính là các ý thức hệ độc tài, những bất công và kinh hoàng do chiến tranh. Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền là một đại hiến chương về sự bao dung, tôn trọng lẫn nhau, công lý, hòa bình, công ích của nhân loại. Điều số 18 của Tuyên ngôn khẳng định tự do tôn giáo như sau: ”Quyền tự do tư tưởng, lương tâm và tôn giáo, quyền này bao gồm tự do thay đổi tôn giáo hoặc tín ngưỡng, và tự do biểu lộ một cách biệt lập hoặc chung, công khai hoặc riêng tư, tôn giáo hoặc tín ngưỡng của mình qua việc phụng tự, giảng dạy, thực hành và tuân giữ các lễ nghi”.!

ĐGH Biển Đức 16 đã ca ngợi Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền vì đã ”cho phép các nền văn hóa khác nhau, các hệ thống pháp lý và kiễu mẫu định chế đồng quy chung quanh một nòng cốt cơ bản của các gia trị, và các quyền, nhưng ĐTC cũng tỏ ra lo âu vì càng ngày càng có những tổ chức phủ nhận tính chất phổ quát của các quyền ấy nhân danh những quan điểm khác nhau về văn hóa, chính trị, xã hội và thậm chí cả tôn giáo nữa.

Sứ điệp của ĐTC nhắc đến vụ Lautsi được đưa ra trước tòa án nhân quyền Âu Châu nhắm chống treo thánh giá tại các trường công lập ở Italia, vụ bà Asia Bibi ở Pakistan bị kết án tử hình về tội gọi là phạm thượng chống Hồi giáo, hoặc trường hợp các tín hữu Kitô bị kỳ thị ở miền nam Sudan, tại Trung Đông, hoặc có những bác sĩ không được giấy phép hành nghề vì không muốn phá thai, hoặc trường hợp những nước đang trên đường phát triển từ chối không những viện trợ có kèm theo những điều kiện đi ngược với xác tín tôn giáo và luân lý của họ, v.v..

Sứ điệp của ĐTC nhân ngày Hòa bình thế giới 2011 được gửi đến những người thiện chí. Văn kiện này nằm trong bối cảnh vừa nói và ngài nhắc đến những vụ phủ nhận quyền phổ quát về tự do tôn giáo dựa trên một sự lèo lái về văn hóa, chính trị và tôn giáo, kể cả từ phía những quốc gia đã phê chuẩn Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền. Sự phủ nhận này làm lu mờ sự thật về con người, coi rẻ phẩm giá con người, làm thương tổn sự tôn trọng các quyền của người khác, và xét cho cùng, thái độ ấy đe dọa hòa bình thế giới.

3. Các đề tài

Tiếp tục bài giới thiệu Sứ điệp hòa bình của ĐTC, ĐHY Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh Công lý và Hòa bình nói đến các đề tài chính của Sứ điệp.

- trước tiên là bản chất tự do tôn giáo. Tự do này là một con đường dẫn tới hòa bình vì nó ăn rễ sâu nơi phẩm giá con người, vốn có một ơn gọi siêu việt. Tự do tôn giáo diễn tả khả năng và ước muốn của mỗi người tìm cách thể hiện hoàn toàn bản thân trong tương quan cởi mở đối với Thiên Chúa và tha nhân. Tự do tôn giáo diễn tả sự tìm kiếm một ý nghĩa trong cuộc sống và khám phá các giá trị cũng như các nguyên tắc làm cho cuộc sống được tràn đầy ý nghĩa, hoặc một mình hoặc chung với cộng đoàn. Xét cho cùng, tự do tôn giáo diễn tả khả năng của con người trong việc tìm kiếm chân lý về Thiên Chúa và về chính mình, xét vì con người kiến tạo một xã hội trần thế báo trước xã hội quốc, xã hội công bằng, hòa bình và hạnh phúc.

- đề tài thứ hai là quyền tự do tôn giáo. Tự do tôn giáo được coi như một quyền con người không phải vì Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền của LHQ đã khẳng định. Tự do tôn giáo không phải là một quyền do Nhà nước ban phát. Nền tảng của nó không phải do sự thiết định của con người. Cùng với các quyền khác, tự do tôn giáo xuất phát từ luật luân lý tự nhiên và từ phẩm giá còn người, vốn là thành phần công trình sáng tạo của Thiên Chúa, như Đức Gioan 23 và đạo lý kế tiếp của Giáo Hội đã dạy. Và như ĐTC Biển Đức 16 đã nhắc đến trong sứ điệp Hòa bình năm 2011, Nhà nước và các tổ chức công cộng khác cần phải nhìn nhận quyền tự do tôn giáo như một điều nội tại đối với con người, như một yếu tố không thể thiếu được để bảo vệ sự toàn vẹn của con người và hòa bình.

- Một đề tài khác cũng được ĐTC đề cập đến trong sứ điệp là: tự do tôn giáo và nghĩa vụ của chính quyền. Mặc dù tự do tôn giáo không cần nhà nước để được thiết lập, và Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền cũng qui định điều này là: quyền tự do tôn giáo không phải là một quyền vô giới hạn. Để bảo đảm cho tự do tôn giáo phục vụ hòa bình và không bị lạm dụng như trong vụ mục sư Jim Jones và nhóm của ông ở Guyanna, Sứ điệp của ĐTC viết ”giới hạn đúng đắn trong việc thực thi quyền tự do tôn giáo phải được xác định trong mọi hoàn cảnh xã hội một cách khôn ngoan về chính trị, theo những đòi hỏi của công ích” (n.10).

- Một vấn đề khác được bàn tới trong sứ điệp là tự do tôn giáo và sự tìm kiếm chân lý. Tự do tôn giáo là tự do không bị cưỡng bách và tự do đối với sự thật, như ĐTC đã nhắc trong số 3 của Sứ điệp: chân lý tôn giáo được hướng về sự tìm kiếm Thiên Chúa đấng Tạo Hóa. Chính sự thật tuyệt đối về Thiên Chúa, ước muốn của tâm hồn con người, khơi dậy nơi họ lời đáp trả bằng cách tự do gắn bó với chân lý ấy. Tự do tôn giáo nói về quyền của con người được diễn tả khả năng đón nhận Thiên Chúa: tự do của con người đáp lại chân lý về bản chất của mình trong tư cách đã được Thiên Chúa dựng nên và được tạo thành để sốngvới thiên Chúa, không bị cưỡng bách hay cản trở. Chính nhờ đó con người tìm được niềm an bình của mình và trở thành một dụng cụ thòa bình.

- Tự do tôn giáo và căn tính. Trong đoạn số 11 của Sứ điệp ĐTC nhấn mạnh rằng tự do tôn giáo không có nghĩa là tất cả các tôn giáo đều như nhau. Tự do ấy cũng không phải là động lực đưa tới thái độ duy tương đối về tôn giáo hoặc dửng dưng. Tự do tôn giáo có thể dung hợp với sự bảo vệ căn tính tôn giáo của mình chống lại sự duy tương đối, tôn giáo hỗn hợp và thái độ tôn giáo cực đoan: đó là những hình thức lạm dụng tự do tôn giáo.

------------------------

ĐTC cũng nêu bật chiều kích cộng đoàn của tự do tôn giáo. Tự do này diễn tả tính chất cá nhân đồng thời cũng có tính chất cộng đoàn (n.6). Tự do tôn giáo không chỉ thu hẹp vào việc tự do phụng tự. Nó cũng có một chiều kích công cộng, điều này cho phép các tín hữu được góp phần xây dựng trật tự xã hội. Ở đây chúng ta nhắc đến 4 người đã kiến thiết Liên hiệp Âu Châu đó là Adenauer người Đức, De Gasperi người Ý, Schuman và Monet người Pháp,, các trung tâm huấn luyện và văn hóa của Giáo Hội, rất nhiều dự án phát triển, trợ giúp y tế, giáo dục của Giáo Hội tại các xứ truyền giáo, v.v.

Như ĐTC Biển Đức 16 đã khẳng định, đạo lý xã hội của Công Giáo được đề ra là để đòi quyền công dân cho Giáo Hội Công Giáo. Phủ nhận quyền được tuyên xưng tôn giáo của mình nơi công cộng và quyền đưa chân lý đức tin để nâng đỡ đời sống xã hội sẽ đưa tới những hậu quả tiêu cực cho sự phát triển đích thực. Đồng thời, việc không nhìn nhận sự đóng góp cho xã hội, dựa trên chiều kích tôn giáo và trong sự tìm kiếm Đấng Tuyệt đối chắc chắn sẽ dành ưu tiên cho lối tiếp cận cá nhân chủ nghĩa và làm băng hoại sự thống nhất của nhân vị.

Việc thực thi quyền tự do tôn giáo như con đường dẫn đến hòa bình bao hàm việc nhìn nhận sự hòa hợp cần phải có giữa hai lãnh vực và hình thức cuộc sống: riêng tư và công cộng, cá nhân và cộng đoàn. Một tín hữu Công Giáo không phải chỉ là một chủ thể có quyền tự do tôn giáo, nhưng còn là thành phần của một tập thể. Vì thế, khi tùng phục tập thể ấy không phải là mất tự do. Nó trở thành biểu hiệu sự trung thành với tập thể và sự trung thành chính là sự phát triển tự do.

- Vấn đề Tự do tôn giáo và Nhà Nước. Sứ điệp của ĐTC khẳng định rằng mặc dù tự do tôn giáo không do nhà nước tạo nên, nhưng Nhà nước phải nhìn nhận tự do tôn giáo như là điều nội tại đối với con người cũng như nhìn nhận những hình thức diễn tả tự do tôn giáo ấy một cách công cộng và cộng đoàn. Sự nhìn nhận tự do tôn giáo và tôn trọng phẩm giá nội tại của mỗi người cũng bao hàm nguyên tắc Nhà nước có trách nhiệm bảo vệ cộng đoàn, xã hội và quốc gia. ”Mỗi nhà nước có nghĩa vụ đầu tiên phải bảo vệ dân chúng của mình chốn glại những vi phạm trầm trọng và liên tục đối với các quyền con người... Nếu Nhà nước không có khả năng bảo vệ như thế, thì cộng đồng quốc tế phải can thiệp bằng những phương tiện pháp luật đã được Hiến chương LHQ trù liệu và qua các văn kiện quốc tế khác”.

- Tự do tôn giáo được thúc đẩy do tình liên đới chứ không phải do sự hỗ tương (réprocité). Những lời kêu gọi của Giáo Hội cho tự do tôn giáo không nhắm đòi hỏi đặc tính hỗ tương của một cộng đoàn tín hữu. Đúng ra, những lời kêu gọi tự do tôn giáo dựa trên phẩm giá của con người, Chúng ta tôn trọng các quyền của người khác vì đó là điều đúng đắn phải làm, chứ không phải để được một sự tương đương hay để vì một ân huệ nhận được. Đồng thời khi những người khác chịu bị bách hại tín ngưỡng và bị cấm cản không được thực hành tôn giáo, chúng ta cảm thông và liên đới với họ.

4. Trong phần kết luận, ĐTC nói đến tự do tôn giáo và nghĩa vụ truyền giáo. Nghĩa vụ Chúa Giêsu ủy thác cho các tông đồ của ngài ra đi rao giảng tin Mừng cho thế giới đưa chúng ta đến chỗ cứu xét quan hệ giữa tự do và chân lý tron gviệc thực thi tự do tôn giáo. Như thánh Augustino đã nhận xét, không có gì mà linh hồn mong ước mạnh mẽ hơn là chân lý. Và tự do đích thực mong muốn chân lý tuyệt đối là Thiên Chúa. Toàn thể việc loan báo Tin Mừng, là một cố gắng khơi dậy tự do, tự do tôn giáo của con người, để họ mong ước và đón nhận chân lý Tin Mừng. Chân lý Phúc Âm có đặc tính duy nhất vì là chân lý cứu độ (Mt 16,15-16). Chân lý này khác với các chân lý khác vốn là thành quả hoạt động tri thức của con người.

Vì thế, nghĩa vụ truyền giảng Tin Mừng không trái ngược và không chống lại ý nghĩa của tự do tôn giáo. Đúng hơn việc rao giảng Tin Mừng khơi dậy tự do tôn giáo của mỗi người và hướng dẫn tới chân lý cứu độ, với hy vọng rằng con người, trong tự do tôn giáo của họ, mong ước và đón nhận chân lý cứu độ. Khi đón nhận như thế, mọi tự do tôn giáo được hưởng an nình được ban cho mọi người Chúa thương!

Sau đây là toàn văn Sứ điệp:

Tự do tôn giáo, con đường dẫn đến hòa bình

1. Vào đầu Năm Mới, tôi muốn gửi lời chúc mừng đến tất cả và từng người; những lời cầu chúc khang an và thịnh vượng, nhưng nhất là lời cầu chúc an bình. Đáng tiếc là trong năm sắp chấm dứt cũng đã có những cuộc bách hại, kỳ thị và những hành vi kinh khủng bạo lực và bất bao dung về tôn giáo.
Tôi đặc biệt nghĩ đến đất nước Irak yêu quí, trên con đường tiến tới sự ổn định và hòa giải vẫn hằng mong ước, quốc gia này tiếp tục là nơi xảy ra bạo lực và khủng bố. Tôi nghĩ đến những đau khổ mới đây của cộng đồng Kitô, cách riêng là vụ khủng bố hèn nhát chống lại Nhà thờ chính tòa ”Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp” của Giáo hội Công Giáo Siri ở Baghdad: tại đây ngày 31-10 vừa qua hai linh mục và hơn 50 tín hữu đã bị giết, trong lúc họp nhau để cử hành Thánh Lễ. Vài ngày sau đó có thêm những cuộc tấn không khác, kể cả tại các tư gia, tạo nên sợ hãi trong cộng đoàn Kitô và làm cho nhiều người muốn xuất cư để tìm kiếm những điều kiện sống tốt đẹp hơn. Tôi bảo đảm với họ sự gần gũi của tôi và của toàn thể Giáo Hội. Tâm tình này đã được biểu lộ một cách cụ thể trong Thượng HĐGM đặc biệt gần đây về Trung Đông. Công nghị GM ấy đã gửi đến các cộng đoàn Công Giáo tại Irak và toàn vùng Trung Đông, lời khích lệ sống tình hiệp thông và tiếp tục làm chứng tá can đảm về đức tin tại các vùng ấy.

Tôi nhiệt liệt cám ơn các chính phủ đã nỗ lực thoa dịu đau khổ của những anh chị em ấy và mời gọi tất cả các tín hữu Công Giáo hãy cầu nguyện cho anh chị em đồng đạo của mình đang chịu đau khổ vì bạo lực và bất bao dung, và hãy liên đới với họ. Trong bối cảnh ấy, tôi nồng nhiệt cảm thấy cơ hội rất thuận tiện để chia sẻ với tất cả anh chị em một số suy tư về tự do tôn giáo, con đường dẫn đến hòa bình. Thực vậy, thật là đau lòng khi nhận thấy tại một số miền trên thế giới người ta không thể tuyên xưng và tự do biểu lộ tôn giáo của mình, vì có nguy cơ bị mất mạng và mất tự do bản thân. Tại các miền khác, có những hình thức âm thầm và tinh vi hơn qua những thành kiến và chống đối các tín hữu và các biểu tượng tôn giáo. Hiện nay các tín hữu Kitô là nhóm tôn giáo đang phải chịu nhiều cuộc bách hại nhất vì đức tin. Bao nhiêu người hằng ngày phải chịu những xúc phạm và thường sống trong sợ hãi vì sự tìm kiếm của họ đối với chân lý, vì niềm tin của họ nơi Chúa Giêsu Kitô và lời kêu gọi chân thành của họ yêu cầu nhìn nhận tự do tôn giáo. Tất cả những điều ấy không thể chấp nhận được, vì đó là một sự xúc phạm đến Thiên Chúa và phẩm giá con người; hơn nữa, đó là một đe dọa an ninh và hòa bình, và nó ngăn cản việc thực thi sự phát triển toàn diện đích thực cho con người (1).

Thực vậy, chính trong tự do tôn giáo có biểu lộ đặc tính của con người, nhờ tự do ấy con người có thể xếp đặt đời sống bản thân và xã hội của mình theo Thiên Chúa: dưới ánh sáng của Chúa, con người hiểu được trọn vẹn căn tính, ý nghĩa và cùng đích của mình. Phủ nhận hoặc giới hạn tự do tôn giáo một cách độc đoán có nghĩa là nuôi dưỡng một quan niệm hẹp hòi về con người, làm lu mờ vai trò công cộng của tôn giáo có nghĩa là tạo nên một xã hội bất công, vì không hợp với bản chất đích thực của con người; điều này có nghĩa là làm cho sự khẳng định một nền hòa bình chân chính và lâu bền của toàn thể nhân loại trở thành điều không thể thực hiện được.

Vì vậy, tôi nhắn nhủ những người nam nữ thiện chí hãy canh tân quyết tâm xây dựng một thế giới trong đó tất cả mọi người đều được tự do tuyên ưng tôn giáo hoặc tín ngưỡng của mình và sống tình yêu của mình đối với Thiên Chúa một cách hết lòng, hết linh hồn và tâm trí (Xc Mt 22,37). Đó chính là tâm tình gợi hứng và hướng dẫn Sứ điệp nhân ngày Hòa Bình thế giới lần thứ 45 với chủ đề ”Tự do tôn giáo, con đường dẫn đến hòa bình”.

Quyền thánh thiêng được sống và có đời sống tinh thần

2. Quyền tự do tôn giáo có căn cội trong chính phẩm giá con người (2), và không thể làm ngơ không biết tới hoặc lơ là bản tính siêu việt của con người. Thiên Chúa đã dựng nên con người nam nữ theo hình ảnh giống Ngài (Xc St 1,27). Vì thế, mỗi người đều có quyền thánh thiêng là có một cuộc sống toàn vẹn về phương diện tinh thần. Nếu không nhìn nhận bản chất tinh thần của mình, không cởi mở đối với siêu việt, thì con người sẽ co cụm vào mình, không tìm được những câu trả lời cho những vấn nạn của tâm hồn mình về ý nghĩa cuộc sống và không thủ đắc được những giá trị và nguyên tắc luân lý lâu bền. Họ cũng không cảm nghiệm được tự do chân thực cũng như không phát triển một xã hội công chính (3).

Kinh Thánh, cùng với chính kinh nghiệm của chúng ta, cho thấy giá trị sâu xa của phẩm giá con người: ”Khi con nhìn trời cao, công trình do tay Chúa dựng nên, mặt trăng và các vì sao Chúa mà đã tạo dựng, thì con người có là chi mà Chúa nhớ đến, phàm nhân là gì mà Chúa phải bận tâm? Quả thực, Chúa đã dựng nên con người chỉ kém thần linh, ban vinh quang và danh dự cho họ. Chúa cho con người quyền làm chủ trên các công trình tay Chúa dựng nên, Chúa đặt mọi sự dưới chân con người” (Tv 8,4-7).
Đứng trước thực tại cao cả của bản tính con người, chúng ta có thể cảm nghiệm cùng thái độ ngưỡng mộ như tác giả thánh vịnh. Thực tại ấy được biểu mộ như một sự cởi mở đối với Mầu Nhệm, như khả năng tự hỏi sâu thẳm về chính mình và về nguồn gốc của vũ trụ, như một âm vang sâu xa về Tình Yêu tột đỉnh của Thiên Chúa, Đấng là nguyên thủy và là cùng đích của vạn vật, của mọi người và mọi dân tộc (4). Phẩm giá siêu việt của con người là một giá trị thiết yếu của sự khôn ngoan Do thái Kitô, nhưng nhờ lý trí, mọi người cũng có thể nhận biết được. Phẩm giá này, được hiểu như khả năng vượt lên trên chất thể của mình và tìm kiếm chân lý, cần được nhìn nhận như một thiện ích phổ quát, tối cần thiết cho việc xây dựng một xã hội hướng về sự thực hiện và sự viên mãn của con người. Sự tôn trọng các yếu tố thiết yếu của phẩm giá con người, như quyền sống và quyền tự do tôn giáo, chính là một điều kiện để mọi qui luật xã hội và pháp lý được hợp pháp về luân lý.

Tự do tôn giáo và sự tôn trọng nhau

3. Tự do tôn giáo ở căn cội tự do luân lý. Thực vậy, sự cởi mở đối với chân lý và sự thiện, cởi mở đối với Thiên Chúa, có nguồn cội nơi bản tính con người, mang lại phẩm giá trọn vẹn cho mỗi người và là bảo đảm sự tôn trọng giữa con người với nhau một cách trọn vẹn. Vì thế, tự do tôn giáo phải được hiểu không phải chỉ là không bị cưỡng bách, nhưng trước tiên như một khả năng xếp đặt các chọn lựa của mình theo chân lý.

Có một mối liên hệ không thể tách rời giữa tự do và tôn trọng; lý do vì, ”luật luân lý bó buộc mọi người và mọi nhóm xã hội, khi thi hành các quyền của mình, phải để ý tới các quyền của người khác, cũng như tới những nghĩa vụ của mình đối với người khác và công ích của mọi người” (5).

Một tự do thù nghịch và dửng dưng đối với Thiên Chúa rốt cục sẽ chối bỏ chính tự do và không bảo đảm sự tôn trọng hoàn toàn đối với tha nhân. Một ý chí tin rằng mình hoàn toàn không có khả năng tìm sự thật và sự thiện thì không có những lý do khách quan và những động lực để hành động, ngoài những động lực do lợi lộc nhất thời và phụ thuộc của mình, ý chí ấy không có ”một căn tính” phải bảo tồn và xây dựng khi thực hiện những chọn lựa thực sự tự do và có ý thức. Vì thế, không thể đòi sự tôn trọng từ phía những ”ý chí” khác, và những ý chí này cũng bị tách rời khỏi bản chất sâu xa nhất của họ, và do đó không thể nại tới những ”lý do” khác, hoặc thậm chí không có lý do nào. Ảo tưởng theo đó người ta có thể tìm thấy trong sự duy tương đối về luân lý một chìa khóa để sống chung hòa bình, trong thực tế nó là nguồn gốc gây ra chia rẽ và phủ nhận phẩm giá của con người. Vì thế, ta hiểu tại sao cần phải nhìn nhận cả hai chiều kích trong con người: chiều kích tôn giáo và chiều kích xã hội. Về vấn đề này, không thể chủ trương các tín hữu ”phải loại bỏ một phần của mình, tức là đức tin của họ, để trở thành những công dân tích cực; không bao giờ cần phải phủ nhận Thiên Chúa để có thể hưởng các quyền của mình” (6)

Gia đình, trường dạy tự do và hòa bình

4. Nếu tự do tôn giáo là con đường dẫn đến hòa bình, thì giáo dục tôn giáo là con đường ưu tiên để giúp giới trẻ có khả năng nhìn nhận tha nhân là anh em, chị em của mình, cùng tiến bước và cộng tác để tất cả mọi người cảm thấy mình là những phần tử sinh động của cùng một gia đình nhân loại, và không ai bị loại khỏi gia đình này.

Gia đình dựa trên hôn nhân, biểu lộ sự kết hiệp thân mật và bổ túc giữa người một người nam và một người nữ, được tháp nhập vào bối cảnh chung như trường học đầu tiên để huấn luyện và làm tăng trưởng con cái về mặt xã hội, văn hóa, luân lý và tinh thần, chúng phải luôn luôn có thể tìm được nơi cha mẹ những chứng nhân đầu tiên về một cuộc sống hướng về sự tìm kiếm chân lý và tình thương của Thiên Chúa. Chính các cha mẹ phải luôn được tự do và với tinh thần trách nhiệm thông truyền gia sản đức tin, các giá trị và văn hóa của mình cho con cái mà không bị cưỡng bách. Gia đình, tế bào đầu tiên của xã hội loài người, vẫn là môi trường đầu tiên để huấn luyện về những quan hệ hòa hợp ở mọi cấp độ của sự sống chung giữa con người, quốc gia và quốc tế. Đây là con đường phải theo một cách khôn ngoan để xây dựng một xã hội vững chắc và liên đới, để chuẩn bị người trẻ đảm nhận trách nhiệm của họ trong cuộc sống, giữa một xã hội tự do, trong một tinh thần cảm thông và an bình.

Một gia sản chung

5. Ta có thể nói rằng, trong số các quyền và tự do cơ bản có căn cội trong phẩm giá con người, tự do tôn giáo có một qui chế đặc biệt. Khi tự do tôn giáo được nhìn nhận, thì phẩm giá con người được tôn trọng trong căn cội của nó và luân lý cũng như các định chế của các dân tộc được củng cố. Trái lại, khi tự do tôn giáo bị chối bỏ, khi toan tính ngăn cản việc tuyên xưng tôn giáo hoặc tín ngưỡng và cuộc sống phù hợp với tôn giáo, thì người ta xúc phạm đến phẩm giá con người, và đồng thời đe dọa công lý và hòa bình, là những điều dựa trên trật tự ngay thẳng của xã hội được xây dựng dưới ánh sáng của Sự Thật và Sự Thiện Tối Cao.

Tự do tôn giáo theo nghĩa này cũng là sự thủ đắc nền văn minh chính trị và pháp lý. Nó là một thiện ích thiết yếu: mỗi người phải có thể tự do thi hành quyền tuyên xưng và bày tỏ tôn giáo hoặc tín ngưỡng của mình, một cách cá nhân hoặc cộng đồng, công khai hoặc riêng tư, trong việc giảng dạy, trong việc thực hành, qua việc ấn loát, trong việc phụng tự và tuân giữ các lễ nghi. Họ không phải gặp chướng ngại nếu họ muốn đi theo một tôn giáo hoặc hoặc không tuyên xưng tôn giáo nào. Trong lãnh vực này, các qui định quốc tế là điều tiêu biểu và là ví dụ quan trọng cho các quốc gia, chúng không chấp nhận vi phạm nào đối với tự do tôn giáo, ngoại trừ những đòi khỏi chính đáng của trật tự công cộng được thi hành theo công lý (7). Qui định quốc tế nhìn nhận rằng các quyền về tôn giáo có cùng qui chế như quyền sống và tự do cá nhân, vì chúng thuộc về nòng cốt các quyền con người, thuộc về các quyền phổ quát và tự nhiên mà nhân luật không bao giờ có thể chối bỏ.

Tự do tôn giáo không phải là một gia sản độc quyền của các tín hữu, nhưng của toàn thể gia đình các dân tộc trên trái đất. Đó là một yếu tố không thể thiếu trong một Nhà nước pháp quyền; người ta không thể phủ nhận quyền tự do này mà không đồng thời làm thương tổn tất cả các quyền và tự do cơ bản, bởi vì nó là tổng hợp và là tột đỉnh của tất cả các quyền đó. Tự do tôn giáo là phương thế để kiểm chứng xem tất cả các nhân quyền khác có được tôn trọng hay không” (8). Tự do tôn giáo tạo điều kiện dễ dàng cho việc thực thi các khả năng tiêu biểu nhất của con người, đồng thời tạo nên tiền đề cần thiết để thực hiện sự phát triển toàn diện, một sự phát triển toàn con người trong mọi chiều kích (9).

Chiều kích công cộng của tôn giáo

6. Tự do tôn giáo, cũng như mọi quyền tự do khác, tuy ở trong lãnh vực bản thân, nhưng cũng được thực hiện trong tương quan với tha nhân. Một tự do không có tương quan thì không phải là tự do đầy đủ. Cả tự do tôn giáo cũng không đóng khung trong chiều kích cá nhân mà thôi, nhưng được thể hiện trong cộng đoàn và xã hội của mình, phù hợp với đặc tính của con người là một hữu thể có tương quan và với bản chất công khai của tôn giáo.

Đặc tính có quan hệ là một yếu tố quyết định của tự do tôn giáo, thúc đẩy cộng đoàn các tín hữu thực thi tình liên đới để mưu công ích. Trong chiều kích cộng đoàn này, mỗi người vẫn giữ nguyên đặc tính có một không hai và không thể sao lại, và đồng thời được bổ túc và thể hiện trọn vẹn.

Một điều không thể phủ nhận là sự đóng góp mà cộng đoàn tôn giáo mang lại cho xã hội. Có nhiều tổ chức từ thiện và văn hóa chứng tỏ vai trò xây dựng của các tín hữu cho đời sống xã hội. Điều quan trọng hơn nữa chính là sự đóng góp của tôn giáo về luân lý đạo đức trong lãnh vực chính trị. Không được gạt bỏ hoặc cấm đoán sự đóng góp này, nhưng phải hiểu đây là một đóng góp giá trị cho sự thăng tiến công ích. Trong viễn tượng này cần nói đến chiều kích tôn giáo của văn hóa, được hình thành qua bao thế kỷ nhờ những đóng góp của tôn giáo về mặt xã hội và nhất là về luân lý đạo đức. Chiều kích này không hề tạo nên một sự kỳ thị những người không chia sẻ cùng một tín ngưỡng, trái lại nó củng cố sự đoàn kết xã hội, sự hội nhập và liên đới.

Tự do tôn giáo, sức mạnh của tự do và văn minh: những nguy cơ bị lợi dụng.

7. Sự lợi dụng tự do tôn giáo để che đậy những lợi lộc thầm kín, ví dụ để lật đổ trật tự đã được thiết định, chiếm hữu tài nguyên hoặc duy trì quyền bính từ phía một phe nhóm, có thể tạo nên những tai hại rất lớn cho xã hội. Thái độ cuồng tín, cực đoan, những hành động trái với phẩm giá con người, không bao giờ có thể biện minh được và càng không thể thực hành những điều đó nhân danh tôn giáo. Không thể lợi dụng sự tuyên xưng một tôn giáo và cũng không thể áp đặt sự tuyên xưng ấy bằng võ lực. Vì thế, các quốc gia và các cộng đồng con người không bao giờ được quên rằng tự do tôn giáo là điều kiện để tìm kiếm sự thật và không thể bị áp đặt sự thật bằng bạo lực nhưng bằng ”sức mạnh của chính sự thật” (10). Theo ý nghĩa đó, tôn giáo là sức mạnh tích cực và là động lực thúc đẩy xây dựng xã hội dân sự và chính trị.
Làm sao có thể phủ nhận đóng góp của các tôn giáo lớn trên thế giới cho sự phát huy văn minh? Sự chân thành tìm kiếm Thiên Chúa đã đưa tới sự tôn trọng nhiều hơn đối với phẩm giá con người. Các cộng đồng Kitô, với gia sản các giá trị và nguyên tắc của mình, đã đóng góp nhiều cho sự ý thức về con người và các dân tộc về căn tính và phẩm giá của mình, và cho sự chinh phục của các định chế dân chủ, cũng như cho sự củng cố các quyền con người và những nghĩa vụ tương ứng.

Ngày nay, trong một xã hội ngày càng hoàn cầu hóa, các tín hữu Kitô cũng được mời gọi, không những qua sự dấn thân trách nhiệm về mặt dân sự, kinh tế và chính trị, nhưng còn qua chứng tá tin yêu của mình, góp phần quí giá vào công trình, tuy cam go nhưng rất phấn khởi, cho công lý, cho sự phát triển toàn diện con người và cho trật tự đúng đắn của các thực tại con người. Sự loại trừ tôn giáo ra khỏi lãnh vực công cộng tước bỏ môi trường sinh tử đó của xã hội, một môi trường cởi mở hướng về siêu việt. Nếu không có kinh nghiệm ưu tiên ấy thì sẽ rất khó hướng xã hội về những nguyên tắc luân lý đạo đức phổ quát và khó thiết lập các trật tự quốc gia và quốc tế trong đó các quyền và tự do cơ bản có thể được hoàn toàn nhìn nhận và thực thi, như các mục tiêu của tuyên ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948. Và rất tiếc là các mục tiêu ấy vẫn không được để ý hoặc bị nói ngược lại.

Một vấn đề công lý và văn minh: trào lưu cực đoan và sự thù nghịch đối với các tín hữu làm thiệt hại cho đặc tính đời tích cực của Nhà Nước

8. Sự quyết liệt lên án mọi hình thức cuồng tín và tôn giáo cực đoan cũng phải thúc đẩy chống lại tất cả mọi hình thức thù nghịch chống lại tôn giáo, chúng giới hạn vai trò công cộng của các tín hữu trong đời sống dân sự và chính trị.

Ta không thể quên rằng trào lưu tôn giáo cực đoan (duy căn) và duy đời là những hình thức tương ứng và cực đoan của sự phủ nhận đa nguyên hợp pháp và nguyên tắc đời. Thực vậy cả hai thái độ đó đều tuyệt đối hóa nhân sinh quan hẹp hòi và phiếm diện, trong trường hợp thứ nhất, nó tạo điều kiện dễ dàng cho những hình thức tôn giáo thủ cựu và trong trường hợp thứ hai nó cổ võ chủ thuyết duy lý. Xã hội nào muốn dùng bạo lực để áp đặt, hoặc ngược lại, phủ nhận tôn giáo, là một xã hội bất công đối với con người và Thiên Chúa, và đối với cả chính mình nữa. Thiên Chúa kêu gọi nhân loại đến với Ngài trong ý định yêu thương, ý định này liên hệ tới toàn thể con người trong chiều kích tự nhiên và tinh thần, và đòi con người phải đáp lại trong tự do và trách nhiệm, với trọn tâm hồn và trọn hữu thể của mình, theo chiều kích cá nhân và cộng đoàn. Vì thế, cả xã hội, trong tư cách là một sự biểu hiện con người và toàn thể các chiều kích cấu thành của con người, cũng phải sống và được tổ chức làm sao để giúp con người cởi mở đối với siêu việt. Chính vì thế, không thể thiết lập các luật lệ và định chế của xã hội mà không để ý tới chiều kích tôn giáo của các công dân hoặc hoàn toàn loại bỏ chiều kích ấy. Nhờ sự tham gia trong tinh thần dân chủ của mọi công dân ý thức về ơn gọi cao cả của mình, các luật lệ và định chế phải tương xứng với con người để có thể giúp con người trong chiều kích tôn giáo của họ. Vì không phải là điều do Nhà Nước tạo nên, nên chiều kích tôn giáo không thể bị Nhà Nước lèo lái; đúng hơn, Nhà Nước phải nhìn nhận và tôn trọng chiều kích ấy.

Hệ thống luật pháp ở mọi cấp độ, quốc gia và quốc tế, khi cho phép hoặc tỏ ra dung dưỡng trào lưu cuồng tín về tôn giáo hoặc chống tôn giáo thì hệ thống ấy lỗi sứ mạng của mình là bảo vệ và thăng tiến công lý cũng như quyền của mọi người. Những thực tại này không thể bị tùy thuộc ý riêng của nhà lập pháp hoặc đa số, vì như Cicero đã từng dạy, công lý không phải chỉ là làm luật và áp dụng luật, nó còn là một cái gì hơn nữa. Công lý bao hàm sự nhìn nhận phẩm giá của mỗi người (11), mà nếu không có tự do tôn giáo được bảo đảm và được sống theo yếu tính của nó, thì phẩm giá ấy sẽ bị què quặt và thương tổn, có nguy cơ phải chịu sự thống trị của các thần tượng, của những thiện ích tương đối được tuyệt đối hóa. Tất cả những điều đó có nguy cơ đưa xã hội đến chế độ độc tài về chính trị và ý thức hệ vốn đề cao công quyền một cách thái quá, đồng thời bóp nghẹt hoặc cưỡng bách tự do lương tâm, tự do tư tưởng và tự do tôn giáo như thể những quyền tự do này cạnh tranh với công quyền.

Đối thoại giữa các tổ chức dân sự và tôn giáo

9. Gia sản các nguyên tắc và các giá trị được biểu lộ qua cuộc sống tôn giáo chân chính là một điều phong phú cho các dân tộc và phong hóa của họ. Gia sản ấy trực tiếp nói với lương tâm và lý trí con người nam nữ, nhắc nhở cho họ giới luật hoán cải luân lý, thúc đẩy họ vun trồng việc thực hành các nhân đức, và làm cho họ xích lại gần nhau trong tình yêu thương, trong tinh thần huynh đệ, như những phần tử của đại gia đình nhân loại (12).

Phải luôn luôn tôn trọng chiều kích công cộng của tôn giáo, trong niềm tôn trọng đặc tính đời tích cực của các tổ chức quốc gia. Với mục đích đó, một điều cơ bản là phải thiết lập sự đối thoại lành mạnh giữa các tổ chức dân sự và tôn giáo để phát triển toàn diện con người và sự hòa hợp xã hội.

Sống trong tình thương và sự thật

10. Trong thế giới hoàn cầu hóa, làm cho xã hội ngày càng đa chủng tộc và đa tôn giáo, các tôn giáo lớn có thể là một yếu tố quan trọng giúp đoàn kết và mang lại hòa bình cho gia đình nhân loại. Từ những xác tín tôn giáo của mình và tìm kiếm công ích hợp lý, các tín đồ tôn giáo được mời gọi sống sự dấn thân của mình với tinh thần trách nhiệm trong một bối cảnh tự do tôn giáo. Giữa những nền văn hóa tôn giáo khác nhau, phải loại bỏ tất cả những gì trái ngược phẩm giá người nam và người nữ, và đối lại, cần phải đón nhận tất cả những gì là tích cực cho sự sống chung dân sự như một kho tàng quí giá.
Môi trường công cộng mà cộng đoàn quốc tế dành cho các tôn giáo và cho đề nghị của tôn giáo về một ”cuộc sống tốt đẹp”, giúp làm nổi lên một mẫu mực chung về sự thật và sự thiện, cũng như một sự đồng thuận luân lý, là những điều thiếu yếu đối với một cuộc sống chung đúng đắn và an bình. Do vai trò cũng như ảnh hưởng và uy tín trong các cộng đoàn của mình, các vị lãnh đạo các tôn giáo lớn là những người đầu tiên được mời gọi tôn trọng và đối thoại với nhau.

Về phần các tín hữu Kitô, họ được niềm tin nơi Thiên Chúa là Cha Đức Giêsu Kitô kêu gọi hãy sống như anh em, gặp gỡ nhau trong Giáo Hội và cộng tác vào việc xây dựng một thế giới trong đó cá nhân và các dân tộc, sẽ ”không còn làm điều ác và bạo hành (..) vì sự nhận biết Thiên Chúa sẽ đầy tràn trái đất như nước phủ lòng biển cả” (Is 11,9).

Đối thoại như một sự cùng nhau tìm kiếm

11. Đối với Giáo Hội, việc đối thoại giữa các tín đồ tôn giáo khác nhau là một phương thế quan trọng để cộng tác với tất cả các cộng đoàn tôn giáo hầu mưu công ích. Giáo Hội cũng không loại bỏ những gì là chân thật và thánh thiêng trong các tôn giáo khác. ”Giáo Hội chân thành tôn trọng những lối sống và hành động, các giới luật và đạo lý ấy, dù chúng khác biệt trong nhiều điểm với những gì Giáo Hội tuyên xưng và đề nghị, nhưng nhiều khi chúng cũng phản ảnh một tia sáng chân lý soi chiếu cho tất cả mọi người” (13).

Con đường như thế không phải là con đường duy tương đối hoặc tổng hợp tôn giáo. Thực vậy, Giáo Hội ”loan báo và bó buộc phải loan báo, Đức Kitô là ”đường, là sự thật và là sự sống” (Ga 14,6), nơi Người con người phải tìm được sự viên mãn của đời sống tôn giáo và trong Người Thiên Chúa đã hòa giải với mính tất cả mọi sự” (14). Điều này không loại bỏ đối thoại và sự cùng nhau tìm kiếm sự thật trong các lãnh vực sinh tử, như một câu nói thường được thánh Tômasô Aquinô sử dụng, ”Mọi chân lý, bất kỳ do ai nói lên, đều đến từ Thánh Linh” (15).

Năm 2011 là năm kỷ niệm 25 năm Ngày Thế giới cầu nguyện cho hòa bình, đã được Đấng Đáng Kính Gioan Phaolô 2 triệu tập tại Assisi năm 1986. Trong dịp đó các vị lãnh đạo các tôn giáo lớn trên thế giới đã chứng tỏ rằng tôn giáo là một yếu tố đoàn kết và hòa bình, chứ không phải là yếu tố chia rẽ và xung đột. Kỷ niệm kinh nghiệm ấy là một động lực thúc đẩy hy vọng một tương lai trong đó tất cả các tín hữu đều cảm thấy và thực sự trở thành những người kiến tạo công lý và hòa bình.

Sự thật luân lý trong chính trị và ngoại giao

12. Chính trị và ngoại giao phải nhìn gia sản luân lý và tinh thần do các tôn giáo lớn trên thế giới mang lại để công nhận và khẳng định chân lý, các nguyên tắc và các giá trị phổ quát mà nếu phủ nhận chúng, thì đồng thời người ta cũng chối bỏ chính phẩm giá con người. Nhưng trong thực hành, thăng tiến sự thật luân lý trong giới chính trị và ngoại giao có nghĩa là gì? Có nghĩa là hành động theo tinh thần trách nhiệm đi từ nhận thức khách quan và đầy đủ về các sự kiện; có nghĩa là giải tỏa các ý thức hệ chính trị đảo lộn chân lý và phẩm giá con người, và muốn cổ võ các giá trị giả tạo dưới chiêu bài hòa bình, phát triển và bảo vệ các quyền con người; có nghĩa là tạo điều kiện thuận tiện cho sự dấn thân liên lỷ để thiết lập các luật lệ tích cực dựa trên các nguyên tắc của luật tự nhiên (16). Tất cả những điều ấy là cần thiết và phù hợp với sự tôn trọng phẩm giá và giá trị nhân vị, được các dân tộc trên trái đất phê chuẩn trong Hiến chương của LHQ hồi năm 1945, Hiến chương này trình bày các giá trị và các nguyên tắc luân lý phổ quát mà các qui luật, các định chế và các chế độ sống chung trên bình diện quốc gia và quốc tế cần phải tham chiếu.

Khắc phục oán ghét và thành kiến

13. Mặc dù có những bài học lịch sử và sự dấn thân của các quốc gia, các Tổ chức Quốc tế trên bình diện hoàn cầu và địa phương, cũng như của các Tổ chức phi chính phủ và của mọi người nam nữ thiện chí hằng ngày xả thân bảo vệ các quyền và tự do căn bản, trên thế giới ngày nay người ta ghi nhận vẫn còn những cuộc bách hại, kỳ thị, những hành vi bạo lực và bất bao dung dựa trên tôn giáo. Đặc biệt tại Á, Phi, các nạn nhân chính vẫn là những phần tử của các nhóm tôn giáo thiểu số, người ta cấm họ không được tự do tuyên xưng tôn giáo của mình hoặc thay đổi tôn giáo, qua những hành vi dọa nạt hoặc vi phạm các quyền, các tự do cơ bản và những tài sản thiết yếu, đến độ tước đoạt tự do bản thân và cả sinh mạng của họ nữa.

Rồi như tôi đã nói, có những hình thức tinh vi hơn thù nghịch chống lại tôn giáo, tại các nước Tây Phương, những hình thức này đôi khi được biểu lộ qua sự chối bỏ lịch sử và các biểu tượng tôn giáo trong đó có phản ánh căn tính và văn hóa của đại đa số công dân. Những hình thức đó thường nuôi dưỡng oán ghét và thành kiến, và không phù hợp với quan niệm trong sáng và quân bình về sự đa nguyên và đặc tính đời của các tổ chức chính quyền, không kể sự kiện các thế hệ trẻ có nguy cơ không được tiếp xúc với gia sản tinh thần quí giá của quê hương họ.

Việc bảo vệ tôn giáo được thể hiện qua sự bảo vệ các quyền và tự do của các cộng đoàn tôn giáo. Các vị lãnh đạo các tôn giáo lớn trên thế giới và các vị lãnh đạo quốc gia cần tái quyết tâm dấn thân thăng tiến và bảo vệ tự do tôn giáo, đặc biệt là bảo vệ các nhóm tôn giáo thiểu số, các nhóm này không phải là một đe dọa chống lại căn tính của nhóm đa số, nhưng trái lại họ là cơ hội để đối thoại và làm cho nhau được thêm phong phú về văn hóa. Việc bảo vệ họ chính là cách thức lý tưởng để củng cố tinh thần từ nhân, cởi mở, và hỗ tương nhờ đó bảo vệ các quyền và tự do cơ bản trong mọi lãnh vực và mọi miền trên thế giới.

Tự do tôn giáo trên thế giới

14. Sau cùng, tôi ngỏ lời với các cộng đồng Kitô đang bị bách hại, kỳ thị, phải chịu những hành vi bạo lực và bất bao dung, đặc biệt tại Á, Phi, Trung Đông, và nhất là tại Thánh Địa, nơi đã được Thiên Chúa ưu tuyển và chúc lành. Trong khi tôi tái bày tỏ với họ lòng quý mến hiền phụ và đoan hứa cầu nguyện cho họ, tôi xin tất cả các vị hữu trách hãy mau lẹ hành động để chấm dứt mọi bạo hành chống các Kitô hữu cư ngụ tại các miền ấy. Ước gì các môn đệ Chúa Kitô, đứng trước những nghịch cảnh hiện tại, vẫn không nản chí, vì việc làm chứng cho Tin Mừng đang và sẽ luôn luôn là dấu chỉ chống đối!

Chúng ta hãy suy niệm trong lòng những lời của Chúa Giêsu: ”Phúc cho những người khóc lóc, vì họ sẽ được an ủi [..]. Phúc cho những người đói khát sự công chính, vì họ sẽ được no đầy [..] Phúc cho các con khi người ta lăng mạ, bách hại các con, và nói xấu đủ điều chống lại các con vì Thầy. Các con hãy vui mừng hân hoan, vì phần thưởng các con thật lớn lao ở trên trời” (Mt 5,4-12). Vậy chúng ta tái ”quyết tâm thực thi bao dung và tha thứ, mà chúng ta cầu xin trong kinh Lạy Cha, coi đó như điều kiện và mẫu mực để được lòng từ bi mong ước. Thực vậy, chúng ta cầu nguyện thế này ”Xin tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con” (Mt 6,12) (17). Không thể thắng bạo lực bằng bạo lực. Cần phải luôn làm cho tiếng kêu đau thương của chúng ta được đức tin, cậy và chứng tá về tình thương của Thiên Chúa đi kèm. Tôi cũng mong ước rằng tại Tây Phương, đặc biệt tại Âu Châu, sẽ chấm dứt những thái độ thù nghịch và những thành kiến chống các tín hữu Kitô chỉ vì họ muốn làm cho cuộc sống của họ phù hợp với các giá trị và nguyên tắc đã được diễn tả trong Tin Mừng. Đúng hơn, Âu Châu cần biết hòa giải với các căn cội Kitô của mình, là những điều rất quan trọng để hiểu vai trò mà Âu Châu đã, đang và muốn nắm giữ trong lịch sử; như thế Âu Châu sẽ cảm nghiệm được công lý, hòa hợp và hòa bình, trong khi vun trồng một cuộc đối thoại chân thành với tất cả các dân tộc.

Tự do tôn giáo, con đường dẫn đến hòa bình

15. Thế giới cần đến Thiên Chúa. Cần những giá trị luân lý đạo đức và tinh thần, phổ quát và chung, và tôn giáo có thể cống hiến một sự đóng góp quí giá trong việc tìm kiếm các giá trị ấy để xây dựng một trật tự xã hội công chính và hòa bình, trên bình diện quốc gia và quốc tế.

Hòa bình là một hồng ân của Thiên Chúa và đồng thời là một dự phóng cần phải thực hiện, nhưng không bao giờ hoàn tất trọn vẹn. Một xã hội được hòa giải với Thiên Chúa thì gần gũi với hòa bình hơn, và hòa bình không phải chỉ là vắng bóng chiến tranh, không phải chỉ là thành quả của sự thống trị kinh tế hoặc chính trị và càng không phải là kết quả của những gian xảo lừa đảo hoặc những lèo lái khéo léo. Trái lại, hòa bình là kết quả của một tiến trình thanh tẩy và nâng cao văn hóa, luân lý và tinh thần của mỗi người và mỗi dân tộc, trong đó phẩm giá con người được hoàn toàn tôn trọng. Tôi mời gọi tất cả những ai muốn trở thành người xây dựng hòa bình, nhất là người trẻ, hãy lắng nghe tiếng nói trong nội tâm mình, để tìm thấy nơi Thiên Chúa điểm tham chiếu vững bền hầu đạt tới tự do chân chính, sức mạnh vô tận để định hướng thế giới với một tinh thần mới mẻ, có khả năng không tái phạm những lỗi lầm quá khứ. Như lời dạy của Vị Tôi Tớ Chúa Phaolô 6, Người đã khôn ngoan nhìn xa trông rộng khi lập ra Ngày Hòa bình thế giới, ”Trước tiên cần mang lại cho hòa bình những vũ khí khác, không phải những vũ khí nhắm giết hại và tàn sát nhân loại. Nhất là cần những võ khí tinh thần, mang lại sức mạnh và uy tín cho công pháp quốc tế; trước tiên là tuân giữ các hiệp ước” (18). Tự do tôn giáo là võ khí đích thực của hòa bình, với sứ mạng lịch sự và ngôn sứ. Thực vậy tự do tôn giáo đề cao giá trị và làm cho những phẩm tính và tiềm năng sâu xa nhất của con người được kết quả, có khả năng thay đổi và cải tiến thế giới. Tự do tôn giáo giúp nuôi dưỡng hy vọng một tương lai công lý và hòa bình, cả khi đứng trước những bất công trầm trọng và những lầm than về vật chất và tinh thần. Ước gì tất cả mọi người và mọi xã hội ở mọi cấp độ và ở mọi nơi trên trái đất sớm được cảm nghiệm tự do tôn giáo, con đường dẫn đến hòa bình!

Vatican ngày 8 tháng 12 năm 2010
Biển Đức 16, Giáo Hoàng


G. Trần Đức Anh OP (chuyển ý từ bản tiếng Ý và Pháp)

-----------

Chú thích:
1. Xc. Biển Đức 16, Thông điệp Caritas in veritate, 29.55-57
2. Xc. Công đồng Vatican 2, Dignitatis humanae, 2.
3. Xc. Biển Đức 16, Thông điệp Caritas in veritate, 78
4. Xc. Công đồng Vatican2, Nostra aetate, 1.
5. Id,. Dignitatis humanae, 7
6. Biển Đức 16, Diễn văn tại LHQ ngày 18-4-2008: AAS 100 (2008), 337
7. Xc. Dignitatis humanae, 2.
8. Gioan Phaolô 2, Diễn văn tại Nghị viện của tổ chức OSCE, 10-10-2003, 1: AAS 96 (2004), 111.
9. Xc Biển Đức 16, Caritas in veritate, 11.
10. Xc. Id., Dignitatis humanae, 1.
11. Xc. Cicerone, De inventione, II, 160.
12. Xc Biển Đức 16, Diễn văn với các Đại diện tôn giáo khác ở Anh quốc (17-9-2010): L'Osservatore Romano, 18-9-2010, p.12.
13. Nostra aetate, 2.
14. ibidem.
15. Super evangelium Joannis, I,3.
16. Xc. Biển Đức 16, Diễn văn trước chính quyền và ngoại giao đoàn tại Cipro (5-6-2010): L'Osservatore Romano (6-6-2010), p.8; Ủy ban Thần Học Quốc Tế, tìm kiếm một nền luân lý đạo đức phổ quát: một cái nhìn về luật tự nhiên, Città del Vaticano 2009.
17. Phaolô 6, Sứ điệp nhân Ngày Hòa bình thế giới 1976: AAS 67 (1975), 671.
18. Ibid., p.668

Nguồn: 
vietvatican