Các bài suy niệm CN XV TN B

1. Một Quy Luật Ðơn Sơ

(Ngọc Nga sưu tầm)

Hôm nay 11 tháng 07 Giáo hội tôn kính thánh Bênêđictô, bổn mạng của toàn thể Châu Âu.

Vào cuối thế kỷ thứ 5, đế quốc La Mã bị lung lay vì cuộc xâm lăng của những người mà thế giới Kitô tại Âu Châu gọi là dân man di.

Một người thanh niên thuộc dòng dõi quý tộc tại miền trung nước Italia muốn trốn thoát khỏi cuộc loạn nhiễu nhương ấy, cho nên đã leo lên ngọn núi Subiaco để dìm mình trong cuộc sống ẩn dật. Chính giữa nơi thanh tịnh thoát tục ấy mà chàng đã nghe được tiếng Chúa phán trong tâm hồn: có nhiều giá trị của đế quốc La Mã cần phải được bảo tồn. Càng ra sức làm việc để đem lại sự thống nhất và văn minh cho các dân xâm lược ấy.

Lấy những thôi thúc ấy làm lý tưởng cho cuộc sống, Bênêđictô, người thanh niên quý tộc ấy đã quy tụ xung quanh mình một số người đồng chí hướng và thiết lập tu viện đầu tiên tại Montecassino.

Chàng đã nói với Mauro, Placido và những người môn đệ đầu tiên như sau: "Chúng ta giam mình trong bốn bức tường kiên cố không phải là để xa cách những người khác, nhưng là để tiếp nhận từ trên cao ánh sáng của Chúa và thông đạt cho thế giới, để học hỏi một cách sâu xa hơn nền văn minh vừa Kitô giáo vừa nhân bản và làm cho nền văn minh ấy chiếu sáng giữa những người anh em của chúng ta. Tôn chỉ của chúng ta là thập giá và cái cày, bởi vì một dân tộc chỉ có thể phát sinh và lớn lên với sự cầu nguyện, nghiên cứu học hỏi và lao động".

Những điểm chính trong quy luật của chúng ta là: Hát bảy lần một ngày để ca tụng Chúa và làm cho màn đêm tăm tối cũng được ấm cúng với lời ca tụng này. Thứ đến, mỗi ngày bỏ ra nhiều giờ để lao động ngoài đồng áng, học hỏi những sự trên trời và dịch lại những tác phẩm cổ điển. Sau cùng, phục vụ nhau như những người anh em của nhau, nhất là tại bàn ăn, là nơi vừa nghe đọc sách vừa thưởng thức chút rượu.

Vị thánh đã đưa ra chút quy luật đơn sơ trên đây đã được chọn làm bổn mạng của toàn thể Âu Châu, bởi vì nền văn minh của Kitô giáo hiện nay, nền văn minh nhân bản của thế giới ngày nay đã phát sinh từ chính lý tưởng cao quý ấy, sống chung trong yêu thương để ca tụng Chúa và phục vụ con người.

Giữa cơn khủng hoảng của đời sống tu trì như người ta đang chứng kiến hiện nay tại hầu hết các nước Tây phương, người ta lại thấy một dấu hiệu đầy hy vọng: các tu viện sống đời chiêm niệm vẫn tiếp tục thu hút thanh niên thiếu nữ. Giữa một thế giới dư dật, nhưng trống rỗng, hơn bao giờ hết, người ta càng ngày càng cảm thấy có nhu cầu phải cầu nguyện, phải sống kết hợp với Chúa.

Ðời sống tu trì, dù bất cứ dưới hình thức nào đi nữa, cũng không là một lẩn trốn đầy sợ hãi trước thế gian... Người tu sĩ đích thực xa lánh thế gian, chứ không xa lánh con người. Người tu sĩ đích thực xa lánh sự sa đọa của thế gian, để rồi lại kiến tạo một xã hội nhân bản hơn, dễ thở hơn, dễ sống hơn.

Ðó không chỉ là sứ mệnh của người được Chúa chọn cho cuộc sống chiêm niệm và cầu nguyện, mà cũng là sứ mệnh của mọi người Kitô. Người tín hữu Kitô luôn được mời gọi để thoát tục, để đi ngược lại tinh thần của thế tục, để tiêu diệt nơi mình những sức mạnh của sự dữ, để ra sức kiến tạo một thế giới đáng sống hơn. Sống giữa thế giới, nhưng không thuộc về thế gian: đó là thế đứng của người Kitô. Ơn gọi và sứ mệnh của họ là kiến tạo Nước Chúa nghĩa là xây dựng những giá trị vĩnh cửu ngay trên chính những cái chóng qua ở đời này.

 

2. Những Niềm Vui Nhỏ

(Ngọc Nga sưu tầm)

Biết tận hưởng những niềm vui nhỏ trong cuộc sống: đó là một trong những bí quyết của hạnh phúc.

Người Nhật Bản thường kể câu chuyện như sau: Một người đàn ông nọ đi qua một cánh đồng, thình lình bị cọp đuổi... Anh ta chạy bán sống bán chết mà vẫn không tìm ra chỗ dung thân. Anh chạy mãi để rồi cuối cùng thấy mình đứng bên bờ vực thẳm. Phía sau lưng, con cọp vẫn không buông tha. Không còn biết làm gì nữa, người đàn ông phải lấy sức để đu lên một cành cây bắc qua vực thẳm. Nhìn xuống dưới thung lũng, anh ta lại thấy một con cọp khác cũng đang nằm chờ chực. Người đàn ông đáng thương chỉ còn niềm hy vọng duy nhất: đó là nằm chờ đợi cho đến khi hai thú vật mệt mỏi bỏ đi... Chờ đợi trong lo sợ vẫn là cực hình lớn lao nhất đối với con người.

Giữa lúc anh ta đang phải chiến đấu với sợ hãi và mệt mỏi, thì tình cờ bỗng có hai con chuột bỗng từ đâu xuất hiện trên chính cành cây anh đang đu vào. Hai con vật bắt đầu gặm nhấm lớp vỏ xung quanh cành cây. Bình thường, chuột là một trong những loài thú mà anh gớm ghiếc nhất vì sự dơ bẩn của nó. Tiếng kêu của nó cũng là một âm thanh làm cho lỗ tai anh khó chịu. Thế nhưng, trong cơn sợ hãi tột cùng này, người đàn ông bỗng nhìn thấy hai con chuột thật đáng yêu. Những hàm răng mũm mĩm của chúng trông dễ thương làm sao! Tiếng kêu của hai con vật cũng trở thành một âm thanh êm dịu hơn tiếng gầm thét của hai con cọp.

Giữa lúc anh đang theo dõi từng động tác của hai con chuột, thì một con chim bỗng từ đâu bay lại, thả rớt trên cành cây một trái dâu rừng. Anh đưa tay nhặt lấy trái dâu và thưởng thức hương vị ngọt ngào của trái rừng bỗng nên thơ đáng yêu lạ lùng.

Thiên Chúa tạo dựng con người để được sống hạnh phúc và hạnh phúc ngay từ trên cõi đời này. Do đó, hạnh phúc không chỉ đến trong cuộc sống mai hậu, hạnh phúc không hẳn nằm ở ngoài tầm tay với con người. Kitô giáo không chỉ hướng chúng ta đến hạnh phúc đời sau, nhưng còn mời gọi chúng ta hưởng niềm hạnh phúc ấy trong cõi đời này.

Mang lấy thân phận con người, nhập cuộc vào trần gian này, Chúa Giêsu như mang hạnh phúc Thiên Ðàng đến với con người. Ngài mời gọi chúng ta hưởng niềm hạnh phúc ấy, Ngài nói với chúng ta rằng cuộc sống trần gian này là một cuộc đời đáng sống. Chấp nhận cuộc sống, chấp nhận chính bản thân, chấp nhận ngay cả những nghịch cảnh trong cuộc sống: đó chính là bí quyết của hạnh phúc trên đời này.

Bí quyết của hạnh phúc cũng chính là biết đón nhận những niềm vui nhỏ trong cuộc sống mỗi ngày. Có những ngày tù đày, chúng ta mới thấy được giá trị của hai chữ tự do. Có sống xa gia đình, chúng ta mới nhung nhớ những ngày sống bên những người thân. Có những lúc nằm quằn quại trên giường bệnh, chúng ta mới thấy được giá trị của sức khỏe... Cuộc sống của chúng ta tràn ngập những niềm vui nhỏ mà chỉ khi nào mất đi, chúng ta mới cảm thấy luyến tiếc.

"Hãy quẳng gánh lo đi và vui sống": đó là lời kêu gọi Chúa Giêsu không ngừng nhắn gửi cho chúng ta khi Ngài mời gọi chúng ta chiêm ngắm hoa huệ ngoài đồng và chim chóc trên rừng... Hãy quẳng gánh lo đi và vui sống có nghĩa là đón nhận từng phút giây trong cuộc sống với cảm mến và hân hoan. Hãy quẳng gánh lo đi và vui sống cũng có nghĩa là biết nhìn xuyên qua những mất mát, thua thiệt, và ngay cả tội lỗi, bàn tay quan phòng nâng đỡ của Chúa... Chúa Giêsu không bao giờ loan báo cái chết một cách riêng rẽ, Ngài luôn gắn liền nó với sự Phục Sinh.

 

3. Hành Trang Người Môn Đệ _ CN XV TNB
(ĐTGM. Ngô quang Kiệt)

Ai đi xa cũng phải chuẩn bị hành trang. Chuyến đi càng xa thì hành trang càng nhiều. Chuyến đi càng quan trọng thì hành trang càng phải chọn lựa, tính toán. Hôm nay Đức Giêsu sai các môn đệ đi một chuyến quan trọng: tiếp nối sứ mạng của Người đem Tin Mừng đến khắp các làng mạc xa xôi. Để chuẩn bị cho chuyến đi quan trọng này, Đức Giêsu đã giúp các môn đệ sắp xếp hành trang. Sau khi đã loại bỏ những loại hành trang cồng kềnh không cần thiết, có hại cho nhiệm vụ, Đức Giêsu đã trao cho các môn đệ những hành trang thực sự cần thiết và hữu ích cho sứ vụ Tông đồ.

Hành trang của người môn đệ là sự gắn bó mật thiết với Đức Giêsu. Các môn đệ chỉ được sai đi sau khi đã có một thời gian sống bên cạnh Người. Thời gian sống bên Đức Giêsu cần thiết để các môn đệ hiểu biết, cảm thông và nhất là yêu mến, gắn bó mật thiết với Người. Đây chính là hành trang quan trọng nhất. Người được sai đi phải gắn bó mật thiết với Đấng đã sai mình. Sự gắn bó mật thiết là nguồn mạch, bảo đảm tính trung thực, là chìa khoá thành công của sứ vụ. Đức Giêsu đã nêu gương về điểm này khi luôn gắn bó mật thiết với Đức Chúa Cha, Đấng đã sai Người. Sự gắn bó ấy giúp Người hoàn toàn kết hiệp với Đức Chúa Cha, trở nên một lòng một ý với Đức Chúa Cha, luôn cầu nguyện, luôn từ bỏ ý riêng để làm theo ý Chúa Cha. Chính vì thế, sứ vụ của Người đã thành công tốt đẹp.

Hành trang của người môn đệ là tâm hồn đơn sơ phó thác. Khi chỉ thị cho các môn đệ: “không được mang gì khi đi đường, chỉ trừ cây gậy; không được mang lương thực, bao bị, tiền giắt lưng; được đi dép, nhưng không được mặc hai áo”, Đức Giêsu muốn các ông sống trong cảnh nghèo khó để hoàn toàn tin tưởng phó thác vào Chúa. Tiền của, tiện nghi vật chất dễ tạo ra một thứ an tâm giả tạo, dẫn con người đến chỗ tự mãn, tự kiêu, tự phụ cho rằng mọi thành công là nhờ tài sức riêng mình. Vì thế, dễ tha hoá, làm theo ý mình hơn là làm theo ý Chúa, sắp đặt chương trình cho Chúa hơn là tìm thực hiện chương trình của Chúa. Nghèo khó sẽ giúp người môn đệ ý thức sự nghèo nàn thiếu thốn, sự yếu ớt của mình, ý thức đó sẽ giúp người môn đệ biết khiêm nhường, tin tưởng phó thác cho Chúa. Tôi chỉ là hư vô, là cát bụi. Mọi thành công đều của Chúa, nhờ Chúa. Những thành công do tài sức con người sẽ mau tàn. Chỉ có công trình của Chúa mới bền vững. Vì thế đơn sơ phó thác là một hành trang rất cần thiết cho người môn đệ. Không mang theo gì của loài người, chỉ mang theo niềm tin yêu phó thác vào Thiên Chúa, đó chính là mang theo tất cả.

Hành trang của người môn đệ là tình liên đới. Đức Giêsu không sai các môn đệ đi riêng lẻ, nhưng sai từng hai người một. Người biết khả năng con người yếu kém, cần có tập thể nâng đỡ mới hoàn thành sứ mạng. Lời chứng của một cá nhân chưa đủ sức thuyết phục. Cần có sự đồng tâm nhất trí của một tập thể lời chứng mới thực sự đáng tin. Hơn nữa, Đức Giêsu không sai các môn đệ đi làm việc với giấy tờ hay đất đai, nhưng sai các ngài đến với con người. Các ngài phải sống giữa mọi người, nhờ mọi người giúp đỡ, chia sẻ cuộc sống với họ. Phải liên đới với con người. Tình liên đới không những cần thiết để giúp các ngài làm việc tông đồ một cách hữu hiệu. Chính qua tình liên đới mà Tin Mừng dễ dàng được đón nhận.

Hành trang của người môn đệ là trái tim biết cảm thương. Đức Giêsu sai các môn đệ đến với những người đau yếu bệnh tật, hoang đàng tội lỗi, bị quỷ ma hành hạ. Tức là đến với những người kém may mắn ở đời. Những người nghèo hèn yếu đuối. Những người bị xã hội bỏ quên. Để đến với những người anh em bé nhỏ, người môn đệ phải có trái tim biết cảm thương. Các ngài phải mang trái tim của Thiên Chúa luôn chạnh lòng thương khi nhìn thấy đám đông bơ vơ tất tưởi, túng thiếu, đói khát. Phải sẵn sàng băng rừng vượt suối đi tìm một con chiên lạc. Phải mở rộng vòng tay đón nhận đứa con hoang đàng trở về. Phải sẵn sàng tha thứ cho kẻ tội lỗi thật lòng hối cải ăn năn.

Mỗi người chúng ta đều là môn đệ của Chúa. Khi chúng ta lãnh nhận phép Rửa tội và Thêm sức, Chúa sai chúng ta đi rao giảng Tin Mừng của Người. Tôi thấy anh chị em ở Giáo xứ Cửa Nam rất tích cực trong việc tông đồ. Nhưng có lẽ anh chị em vẫn băn khoăn, không biết làm sao để việc tông đồ có kết quả tốt đẹp. Hôm nay, Đức Giêsu cho ta biết, muốn việc tông đồ có kết quả, ta phải gắn bó mật thiết với Chúa, phó thác mọi sự cho Chúa, đồng thời phải có tình liên đới và nhất là phải biết cảm thương anh chị em đồng loại. Một tay nắm lấy tay Chúa, một tay nắm lấy tay anh em. Một tình yêu anh chị em trong tình yêu mến Chúa. Liên kết mọi người trong tình yêu mến. Với tình yêu mến, chắc chắn việc tông đồ của ta sẽ đi đúng đường hướng của Chúa. Với tình yêu mến, chắc chắn việc tông đồ sẽ có kết quả tốt đẹp.

KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG
1- Chúa sai bạn đi làm tông đồ cho Chúa, bạn có cảm thấy điều đó không?
2- Mỗi khi đi làm việc tông đồ, bạn thường chuẩn bị những loại hành trang nào, những hành trang của bạn quan tâm có giống những hành trang Chúa chuẩn bị cho các môn đệ không?
3- Theo bạn, đâu là phương thế hữu hiệu nhất làm cho những người chung quanh nhận biết Chúa?
4- Đâu là những hành trang cần thiết của người môn đệ Chúa?
 

4. Chúa Sai Tôi Đi _ CN XV TNB

(Lm Anphong Trần Đức Phương)

Mới đây tôi được cùng dâng Thánh Lễ Tạ Ơn của một “Cha mới”, và hôm đó ca đoàn hát những bài rất cảm động và sốt sắng, đặc biệt bài:

“Thần Khí Chúa đã sai tôi đi…
Sai tôi đi loan báo Tin Mừng…
Sai tôi đến với người nghèo khó,
Sai tôi đến với người lao tù…”

 

Rồi sau những ngày vui mừng tạ ơn Chúa cùng với cha mẹ, anh chị em trong gia đình và thân bằng quyến thuộc, hôm nay “Cha mới” đó đã được Chúa sai đi “rao giảng Tin Mừng” ở một nước nghèo khó mãi tận bên Phi Châu. Như tôi được biết, trong năm nay (2009) có tới 35 thanh niên Việt nam đã được lãnh nhận chức Linh Mục tại Hoa kỳ; trong số đó đã có một số được Chúa sai đi truyền giáo ở những nước nghèo khó ở Nam Mỹ, hoặc Phi Châu.

Các Bài Đọc Chúa Nhật hôm nay cho chúng ta thấy việc Chúa chọn một số người trong Cựu Ước cũng như Tân Ước và sai đi làm công việc của Chúa.

Trong Cựu Ước, Chúa chọn một số người làm tiên tri để “đến nói những mệnh lệnh của Chúa cho Dân Chúa.” Trong Tân Ước, chính Chúa Giêsu (Gioan 15:16) cũng chọn một số người làm những Tông đồ để ra đi khắp nơi rao giảng Tin Mừng cho mọi người (Maccô 16:15). Những người Chúa chọn, dù trong thời Cựu Ước hay Tân Ước, đều hoàn toàn do ý Chúa: “Không phải chúng con đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn chúng con!” (Gioan 15:16). Việc ‘Chúa gọi và chọn’ luôn là một mầu nhiệm trong ý định của Thiên Chúa (Ephêsô 1: 8-9). Chính người được chọn nhiều khi cũng bỡ ngỡ, lạ lùng.

Ngoài ra, nhiệm vụ Chúa trao phó cho những người Chúa chọn thường có nhiều khó khăn (Gioan 15:18-25, 16:1-2, 33) đòi buộc những hy sinh, từ bỏ, can đảm và khôn ngoan sáng suốt (Matthêu 10:16). Vì thế, có những người muốn từ chối tiếng Chúa gọi như trường hợp tiên tri Giona đã phải ‘trốn đi tránh mặt Thiên Chúa’ để khỏi làm nhiệm vụ tiên tri cho Chúa; nhưng cuối cùng, Chúa vẫn đòi buộc ông phải ra đi làm nhiệm vụ rao giảng sự thống hối cho dân thành Ninivê. Tiên tri Amos trong bài đọc 1 hôm nay (Amos 7:12-15) cũng bị Tư tế Amasia đe dọa: “Tiên tri ơi, ông hãy đi nơi khác đi, đừng có nói tiên tri ở đây…” và Amos cũng thú nhận mình chỉ là người tầm thường, đi chăn chiên, đi hái trái vả mà thôi, nhưng Chúa cứ bảo “Ngươi hãy đi nói tiên tri cho dân của Ta!”

Trong Bài Phúc Âm (Maccô 6: 7-13), Chúa Giêsu chọn 12 Tông đồ và cũng trao cho nhiệm vụ “ra đi rao giảng sự thống hối.” Nhiệm vụ thật khó khăn và tế nhị (Matthêu 10,16: Thầy sai các con đi như chiên giữa sói rừng…), nên Chúa đã sai các Tông đồ đi từng 2 người để gìn giữ và giúp đỡ lẫn nhau. Chúa Giêsu cũng căn dặn các ông những điều rất thực tế trên đường truyền giáo: sống đơn sơ, khó nghèo…làm sao để luôn xứng đáng những ‘Tông đồ của Chúa’ và can đảm rao giảng Lời Chúa cho mọi người trong mọi hoàn cảnh.

Thánh Phaolô cũng được Chúa chọn một cách kỳ diệu để làm nhiệm vụ rao giảng Tin Mừng cho những người ‘ngoài Do Thái’, và cũng gặp bao khó khăn, thử thách trên bước đường truyền giáo (2 Corintô 1:8; 11:24-29). Trong Bài Đọc II hôm nay (Ephêsô 1: 3-14), Thánh Phaolô nói đến việc Chúa chọn chúng ta ‘từ thuở đời đời’ để làm dân riêng của Chúa; đó là do ‘Thiên Ý nhiệm mầu trong kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa trong Đức Kitô’.

Mỗi người chúng ta, sau khi lãnh nhận Bí tích Rửa Tội và Thêm Sức, chúng ta cũng được Chúa sai đi, đi vào các môi trường sống hàng ngày để loan báo Tin Mừng ơn cứu độ đến cho mỗi người mà chúng ta gặp gỡ trong cuộc sống hàng ngày: nơi gia đình, sở làm, xưởng thợ, trường học… Đó là việc tông đồ giáo dân mà Công Đồng Vatican II đã nhấn mạnh trong Hiến Chế “Tông Đồ Giáo Dân”. Chúng ta đều phải là những chứng nhân của Chúa, đều phải tìm mọi dịp để đem Chúa đến cho mọi người, nhất là bằng đời sống tốt lành, lương thiện của chúng ta.

Trong “Năm Linh Mục”, chúng ta cũng cần ý thức bổn phận vun trồng Ơn Thiên Triệu nơi giới trẻ, và dâng những hãm mình, hy sinh, cầu nguyện xin ơn thánh hóa cho những người đã được Chúa gọi và chọn làm Tông đồ đặc biệt của Chúa trong chức vụ Linh Mục.
 

5. Ra Đi _ CN XV TNB

(Lm Giuse Nguyễn Hữu An)

Hôm nay khai mạc đại hội Truyền giáo tại nhà nguyện dòng Thánh Phaolô. Mình phụ trách phần thuyết trình. Lần đầu tiên trong đời, mình đăng đàn trước một cử toạ có nhiều người tai to mặt lớn như thế. Mình bắt đầu run. Phải hít thật sâu mấy hơi liền mới thấy hết hồi hộp.

Mình chủ trương rằng người truyền giáo phải khởi đầu sự nghiệp bằng việc ra đi. Đi để thấy mình phải làm gì, phải làm thế nào và phải làm tới mức độ nào. Đức Giêsu đã đi và đi không ngừng. Thánh Phaolô cũng thế. Mình trích dẫn lời của Thủ tướng Ben Gourion: "Người lính Do Thái phải tìm hiểu và yêu thương quê hương của mình bằng hai bàn chân”. Người truyền giáo có thể đi bằng phương tiện truyền thông xã hội, nhưng đi bằng chính thân xác của mình, để hiện diện và đối thoại với người lương dân là cách đi hoàn hảo nhất. Mặt đối mặt, lời trao lời mới nảy ra tình yêu. Truyền giáo mà không yêu thương thì không thể là truyền giáo được. Muốn thế thì phải đi, phải đến…

Bài thuyết trình của mình có một ưu điểm là rất ngắn gọn, nên được thính giả vỗ tay hơn thông lệ. Vừa rời giảng đài được chừng ba bước thì chạm trán với thầy Hiến Minh. Thầy siết tay mình thật chặt và khen ngợi bằng một câu rất gọn: " Cậu nói được đấy”.

Thái độ niềm nở và lời khen ngợi của Thầy làm mình phấn khởi và thêm xác tín vào lập trường sắn có: "Người Truyển giáo phải khởi đầu sự nghiệp bằng việc ra đi. Đi để thấy mình phải làm gì, phải làm thế nào và phải làm tới mức độ nào.” ( Lm Piô Phúc Hậu, Nhật ký truyền giáo trang 177).

Truyền giáo là ra đi,đi để mang sứ điệp Tin mừng đến với muôn dân. Sứ vụ sai đi khởi phát từ Chúa Cha ”Như Cha đã sai Thầy,Thầy cũng sai anh em”. Đức Giêsu thực hiện sứ vụ bằng việc ra đi.

Suốt mấy năm ra mặt với đời để hành đạo, Chúa Giêsu không ngừng đi rày đây mai đó. Ngài luôn ngang dọc trên mọi nẻo đường đất nước của Ngài để truyền đạo. Từ hội đường này đến hội đường khác (Mt 4,23) hay ở ngoài trời, ở ngoài đường. Trên một sườn núi cũng có( Mt 5,1), bên một bờ hồ hiu quạnh cũng có (Mc 6,30-34). Có khi ”mệt mỏi vì đường sá”, một mình ngồi trên thành giếng nói chuyện với người phụ nữ đến kín nước (Ga 4,6). Có lúc vì dân chúng chen lấn xung quanh đông đảo quá thì ”Ngài mới lên một chiếc thuyền, thuyền của Simon và xin ông ấy chèo ra xa bờ một tí. Ngài ngồi xuống rồi từ ngoài thuyền nói vào mà giảng dạy dân chúng” (Lc 5,3). Chúa Giêsu thực hiện một cuộc hành trình liên miên. Theo ngôn ngữ của Marcô chương 1: Ngài bỏ Nazareth để đến gặp Gioan bên sông Gio-đan, rồi đến Galilê, dọc theo bờ biển Galilê, và Ngài đi rao giảng trong các hội đường khắp xứ Galilê. Trong chương 2: ít lâu sau, Ngài lại về Capharnaum…Ngài ngang qua đồng lúa …Cứ đi và đi như vậy mãi.

Chính giữa khung cảnh đường dài trời rộng thênh thang ấy mà lời giảng dạy của Ngài bao giờ cũng khởi hứng từ một hoàn cảnh cuộc sống. Các hình ảnh cuộc sống đời thường gần gũi tràn ngập trong lời rao giảng. Cánh huệ mọc ngoài đồng. Đàn chim sẻ đang bay. Một đám ruộng lúa chín vàng mở rộng đến chân trời. Một mẻ cá lớn bên biển hồ. Những hạt giống người nông phu gieo vương vãi trên đường mòn ,giữa bụi gai, trên sỏi đá. Một đàn cừu, dê, người chăn lùa về buổi chiều tối. Từng tảng đá, từng hạt sạn người ta nhặt từ một đống muối để vất đi. Từng con còng người đánh cá nhặt ra bỏ lại bên bờ sau một mẻ cá…

Việc thu thập môn đệ, Ngài cũng vừa đi, vừa gọi, vừa nhận…Như các môn đệ đầu tiên (Mc 1,16-20). Chúa Giêsu không dừng lại, yên nghỉ, hưởng thụ hay cũng cố vị trí người ta dành sẵn cho. Sau một ngày thành công rực rỡ ở Capharnaum chẳng hạn “sáng đến, Ngài ra đi vào nơi hoang vắng. Dân chúng đi tìm Ngài và đến nơi Ngài, họ cố giữ Ngài lại, không để Ngài đi khỏi chỗ họ. Nhưng Ngài bảo họ: Ta còn phải đem tin mừng Nước Thiên Chúa cho các thành khác nữa” ( Lc 4,42-43).

Như thế, quả là suốt đời Đức Giêsu đã không hề có trụ sở, không hề có chỗ trụ trì, không hề có nhà thờ. Ngài đi khắp mọi nẻo đường trên thế giới Ngài sống.

Đức Giêsu bị bắt lúc đang cầu nguyện giữa vườn Ghetsêmani hoang vắng. Bị điệu đến Hanna rồi Caipha. Từ tòa đạo qua tòa đời. Hết bị điệu đến dinh Philatô lại bị gửi qua dinh Hêrôđê, rồi bị đưa trả về cho Philatô. Không đầy một ngày một đêm mà kẻ tử tù đã phải đi không biết bao nhiêu dặm trên con đường “công lý” của loài người.

Bị kết án thập hình. Hai tay dang rộng, bị đóng đinh thập giá. Tảng đá lấp cửa mồ (Mc 14,32 -15,47). ”Lính canh phòng cẩn mật, niêm phong tảng đá lại” (Mt 27,62-66). Thế nhưng, Đức Giêsu đã không dừng chân cả trong cái chết. Ngày thứ ba Ngài sống lại ,vượt cái chết qua sự sống bất diệt.

Sau khi phục sinh, Ngài cũng đi nhiều nơi, đến với với các môn đệ, cũng cố lòng tin và sai họ ra đi loan báo tin mừng.

Hoàn thành sứ mạng, ”Ngài lên trời ngự bên hữu Chúa Cha” (Mc 16,19) và luôn đồng hành cùng Giáo hội “Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế”. (Mt 28,20)

Đức Giêsu lập nên Nhóm mười Hai. Họ được Ngài sai đi rao giảng ( Mc 6,7). Giáo hội tiếp nối sứ vụ được sai đi, ra đi đến với muôn dân.

Hai động từ Gọi - Sai Đi diễn tả rõ rệt ơn gọi của Nhóm Mười Hai. Các Tông Đồ là những người được sai đi. Chúa căn dặn rằng: người được sai đi phải có tinh thần nghèo khó và từ bỏ.

- Nghèo khó về hành trang đi đường: 1 cây gậy, 1 đôi dép, không mang 2 áo. Ý nghĩa ở đây là những kẻ được sai đi phải là những con người thanh thoát, không cồng kềnh nặng nề với của cải vật chất để có thể luôn sẵn sàng lên đường ra đi cho sứ vụ.

- Nghèo khó về phương diện sinh sống: không được mang lương thực, bao bị, tiền bạc. Hành trình như vậy đặt các người được sai đi trong tư thế tuỳ thuộc. Không vướng víu, không”mọc rễ” bất cứ đâu để nhẹ nhàng ra đi nơi đâu Chúa muốn.

Đức Giêsu cũng không dấu giếm họ. Con đường truyền giáo là con đường đầy chông gai, lắm gian khó. Cũng như Ngài, họ đón nhận sự rủi ro bị từ chối, bị xua đuổi. Cần phải hy sinh bản thân. Đó là thân phận kẻ được gọi, được sai đi. Ra đi mà không gì bảo đảm, ra đi mà không mảy may dính bén. Sẵn sàng đến mà cũng sẵn sàng đi. Thành công cũng không thụ hưởng mà thất bại cũng chẳng đắng cay. Bởi lẽ người được sai đi luôn xác tín rằng: “Tôi trồng, Apollô tưới, còn Chúa cho mọc lên”.

Người truyền giáo luôn bị cám dỗ định cư, tìm an toàn bảo đảm bản thân, an nghỉ trong những thành công tạm bợ…và không muốn ra đi. Càng gắn bó, lúc cách xa càng luyến nhớ. Sâu đậm bao nhiêu, lúc giã biệt sẽ nuối tiếc bấy nhiêu. Vì vậy, Chúa muốn các môn đệ luôn sẵn sàng ra đi, lên đường bao giờ cũng đẹp, hạnh phúc chỉ dành cho ai dám lên đường tìm kiếm.

Cuộc đời người Kitô hữu cứ phải ra đi không ngơi nghỉ. Ra khỏi cái cũ và đi tới cái mới. Ra khỏi cái đang có để đi tới cái chưa có. Ra khỏi cái mình đang là để đi tới cái mình phải là. Như thế, hành trình xa xăm nhất lại chính là hành trình của con tim.

Đường đi khó,không khó vì ngăn sông cách núi.
Nhưng khó vì lòng người ngại núi e sông.

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã ra đi từ trời cao xuống đất thấp, mang Tin mừng chiếu soi nhân trần. Xin sai chúng con ra đi nhẹ nhàng và thanh thoát, không chút cậy dựa vào khả năng bản thân hay vào những phương tiện trần thế. Xin giúp chúng con chỉ biết cậy dựa vào Chúa. Chỉ mình Chúa là đủ cho chúng con. Amen.
 

6. Rao Giảng

(Tổng hợp từ R. Veritas)

Trong thời kỳ chiến tranh Triều Tiên, một ngôi làng bị pháo kích nặng nề. Giữa làng có một ngôi nhà thờ, trước nhà thờ có một tượng Đức Giêsu được đặt trên một cái bệ. Nhưng sau khi khói lửa của trận pháo kích tan đi, người ta chỉ còn thấy cái bệ, còn pho tượng thì biến đâu mất. Những người lính đồng minh cố gắng đi tìm và cuối cùng cũng tìm thấy tượng Chúa bị văng khỏi đó một khoảng khá xa. Tuy nhiên hai cánh tay của Chúa đã bị hỏng mất. Họ cung cấp một chiếc máy bay để chở pho tượng về Mỹ cho thợ làm lại hai cánh tay. Nhưng cha xứ từ chối. Cha bảo cứ đặt pho tượng lên bệ như cũ, phía dưới viết thêm hàng chữ: “Các con thân mến, hãy cho ta mượn đôi cánh tay của các con”.
***
Bạn thân mến! Câu chuyện trên giúp ta hiểu sứ điệp của bài Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay: Đức Giêsu kêu gọi các tông đồ tham gia công việc của Ngài. Ngài chia sẻ sứ mạng với họ. Ngài ban cho họ chính quyền năng và uy tín của Ngài. Rồi Ngài sai họ đi loan truyền Tin Mừng. Thực ra, họ chỉ là những người chài lưới, cả tài năng lẫn đức độ đều không có bao nhiêu. Nhưng Ngài vẫn chia sẻ sứ mạng cho họ, vì họ sẽ thi hành sứ mạng không phải bằng sức riêng của họ, mà bằng sức mạnh và ân sủng của Chúa.

Ngày nay, vẫn có những Cha xứ e dè trong việc mời gọi giáo dân chia sẻ công việc của cộng đoàn giáo xứ. Mặt khác, nhiều giáo dân cũng e dè ngại ngùng không dám lãnh nhận trách nhiệm trong cộng đoàn giáo xứ. Cả hai phía đều tính toán thành công và thất bại dựa trên khả năng của con người. Nhưng đó không phải là tính toán của Thiên Chúa.

Lầm lỗi nặng nề nhất của người môn đệ là quá cậy dựa vào tài năng riêng của mình mà quên mất tác động và sự trợ giúp của Chúa, bởi vì không có Chúa, chúng ta không thể làm được gì. Như lời thánh Phaolô xác quyết: “Phaolô trồng, Apollo tưới, nhưng chính Thiên Chúa mới là Đấng đem lại kết quả.

Khi ta lãnh nhận phép Rửa tội và Thêm sức, ta trở thành môn đệ của Chúa. Đó cũng là lúc Chúa sai chúng ta đi rao giảng Tin Mừng của Người. Hôm nay, Đức Giêsu cho ta biết, muốn việc tông đồ có kết quả, ta phải gắn bó mật thiết với Chúa, phó thác mọi sự cho Chúa, đồng thời phải có tình liên đới và nhất là phải biết cảm thương anh chị em đồng loại. Một tay nắm lấy tay Chúa, một tay nắm lấy tay anh em. Một tình yêu anh chị em trong tình yêu mến Chúa. Liên kết mọi người trong tình yêu mến. Với tình yêu mến, chắc chắn việc tông đồ của ta sẽ đi đúng đường hướng của Chúa. Với tình yêu mến, chắc chắn việc tông đồ sẽ có kết quả tốt đẹp theo Ý Chúa muốn.
***
Các con hãy lên đường rao giảng Tin Mừng Nước Trời”.
Lạy Chúa ! Đó là một lời mời gọi, một mệnh lệnh đòi buộc con phải lên đường.
Lên đường như các tông đồ xưa kia là từ bỏ nghề nghiệp cũ, từ bỏ quê hương, từ bỏ những người thân yêu… và ra đi như thế có nghĩa là hy sinh.

Lên đường như các vị thừa sai truyền giáo, như các tu sĩ trong cuộc sống hôm nay… Họ rời xa gia đình, từ bỏ bạn bè…và ra đi như thế cũng có nghĩa là hy sinh.

Nhưng từ bỏ và hy sinh những cái bên ngoài mà thôi thì vẫn chưa phải là lên đường đích thực. Lên đường đích thực chính là từ bỏ chính mình, từ bỏ bản thân, từ bỏ những tập quán và những ý riêng để làm chứng cho Tin Mừng Nước Trời. Đó là cùng đích mà con phải hy sinh tất cả để đi tới.

Lạy Chúa, xin ban ơn giúp sức cho con, để con biết hy sinh từ bỏ để lên đường rao giảng Tin Mừng Nước Trời. Amen
 

7. Paraguay: Truyền Giáo Ở Các Cộng Đồng Đa Văn Hóa

(LM. Trần Xuân Sang, SVD)

Một thoáng suy nghĩ về Năm Linh Mục

Thấm thoát đã gần nửa năm tôi chuyển đến vùng truyền giáo mới mẻ với nhiệm vụ đào tạo cho các nhà truyền giáo tương lai và thêm làm tuyên uý cho một giáo xứ gồm nhiều sắc dân sinh sống. Người đời thường nói thuyền to thì sóng lớn. Một tu sĩ non trẻ thiếu kinh nghiệm như tôi khi chuyển đến vùng đất mới này với những tập tục đa đạng của nhiều sắc dân cộng thêm việc đồng hành với những chủng sinh vùng Nam Mỹ đã làm tôi mất ăn mất ngủ và ảnh hưởng lớn đến cả thể xác lẫn tinh thần. Tôi đã cố gắng vừa học hỏi vừa làm việc trong môi trường mới mẻ này như là một thách đố mới trong sứ vụ dù lắm lúc cũng muốn rút lui và xin làm nhiệm vụ khác.

Paraguay nói riêng và vùng Nam Mỹ nói chung ơn gọi lúc này vô cùng quí hiếm. Phần đông các ứng sinh đến từ các vùng nông thôn nên học vấn rất thấp và đối với họ, gia đình là chính, còn chuyện ơn gọi thuộc hàng thứ yếu. Không giống như những gia đình ở Công giáo Việt Nam nói riêng và vùng Á đông nói chung khi trong gia đình có một người con đi tu thì ai nấy đều vui mừng hãnh diện và vun đắp cho ơn gọi sớm đơm hoa kết trái. Người Paraguay thì khác. Chẳng những gia đình không hề khuyến khích cho con cái mình đi tu mà còn cố ngăn cản, gièm pha hay thậm chí chính những bậc cha mẹ thường điện thoại bảo con cái quay trở về! Bởi thế cách đây 4 năm khi con số tu sĩ khấn tạm của Dòng là 16 mà nay chỉ còn vỏn vẹn 1 khấn sinh thì thử hỏi lấy đâu ra số tu sĩ trẻ để bù lại cho 20 tu sĩ bệnh tật và qua đời trong những năm qua.

Những tháng vừa qua giáo hội công giáo tại Paraguay có những khủng hoảng niềm tin do một số vị giáo sĩ cao cấp đã gây gương mù gương xấu và để lại những hậu quả luân lý không mấy đẹp đẽ khiến từ trẻ đến già đặt ra nhiều nghi vấn. Bởi thế Hội Động Giám Mục Paraguay đã công khai xin lỗi và nhìn nhận những lỗi lầm đáng tiếc do một thiểu số giáo sỹ gây ra và xin mọi người tha thứ và cầu nguyện để vượt qua cơn mây mù giông tố này.

Ngày 19 tháng 6 vừa qua tại nhà thờ Chính Toà của giáo phận nơi tôi đang phục vụ, Đức Giám mục giáo phận đã chủ sự thánh lễ để khai mạc năm thánh linh mục với sự hiện diện đầy đủ các các linh mục trong giáo phận. Đây là một trong những giáo phận lớn nhất của Paraguay với số tín hữu công giáo khoảng 500 ngàn nhưng chỉ có khoảng hơn 40 linh mục mà đa số là linh mục Dòng người ngoại quốc. Nhìn qua đếm lại chỉ thấy hai anh em linh mục Việt Nam xấp sỉ 40 tuổi lại là những người trẻ nhất trong nhóm các linh mục. Có những vị linh mục truyền giáo đã từng làm việc ở đây gần 60 năm và giờ đây đã lụm khụm thấy mà thương. Các linh mục người bản xứ Paraguay lại là thiểu số. Có người hỏi liệu nếu các linh mục nước ngoài không đến đây nữa thì giáo hội Paraguay sẽ ra sao! Dĩ nhiên giáo hội của Chúa sẽ không chết nhưng nếu sống thì sống èo ọt và hiện tại cũng đang èo ọt vì thiếu vắng những tấm tấm lòng quảng đại của những người bản xứ không muốn dấn thân trong cánh đồng truyền giáo. Năm Thánh Linh Mục là thời gian để nhìn lại cuộc sống linh mục với những điều hay, dở và vạch ra những dự định cho tương lai của giáo hội non trẻ này.

Sứ mạng truyền giáo ở các cộng đồng đa văn hoá

Ngoài việc đồng hành với các chủng sinh truyền giáo trong vai trò đào tạo, tôi cũng được bề trên và giám mục giáo phận bổ nhiệm làm tuyên uý cho các cộng đoàn đa sắc dân đang sống trong vùng cực Nam của Paraguay với nhiều văn hoá và tập tục khác nhau. Tôi muốn chia sẻ với anh chị em về sứ mạng truyền giáo đặc biệt này những chuyện dở khóc, dở cười mà tôi đã chứng kiến và thực hiện trong thời gian nửa năm qua.

Lâu nay tôi cứ tưởng rằng những người trí thức là không mê tín hoặc là ít mê tín so với những người kém trí thức. Nhưng khi làm việc với những người trí thức gốc Ấu châu và một số người Nhật hải ngoại mới thấy rằng tôi đã lầm. Có lẽ về phương diện kiến thức xã hội, những người trí thức có bằng kỹ sư, tiến sĩ nhưng về phương diện đức tin họ giống như những đứa trẻ mới chập chững tập đi. Phần đông trong số họ được rửa tội ngay từ nhỏ nhưng không bao giờ họ thực hành niềm tin của họ. Mãi đến khi có chuyện thì họ mới đến linh mục và vặn vẹo đủ điều với những câu hỏi tại sao. Ở vùng đất mà đôi đang làm việc có rất nhiều tôn giáo và giáo phái, trong đó có giáo phái chứng nhân Giê-hô-va đang hoạt động rất mạnh và tranh giành ảnh hưởng nên nhiều người công giáo yếu đức tin đã bị lôi cuốn, thuyết phục. Các giáo phái này có tài lực (tiền bạc, ngân khoản viện trợ từ nhiều nguồn), nhân lực (các mục sư có đôi có cặp) và hoạt động theo từng vùng nên dễ đạt được hiệu quả. Trong khi đó các linh mục công giáo một thân một mình coi sóc nhiều giáo điểm và thiếu sự cộng tác từ nhiều phía nên phần thua là cái chắc. Bản thân tôi nhiều khi cảm thấy lạc lỏng, buồn tẻ và nhụt chí khi những con chiên của mình bị người ta lấy đi mất. Đau xót lắm nhưng biết làm sao vì mỗi người có sự lựa chọn tự do mà.

Một chuyện đau lòng muốn kể ra đây để anh chị em biết rằng những người được gọi là trí thức ấy đã thực hành niềm tin của họ thua cả những người nông dân chất phát quê mùa chỉ biết làm dấu thánh giá và đọc kinh Lạy Cha. Số là mẹ của một anh kỹ sư công giáo người Đức qua đời trong vùng tôi phụ trách. Anh ta đã đến mời tôi cử hành nghi thức an táng cho bà. Tôi đã đến gia đình anh và cử hành nghi thức thật sốt sắng với cả tấm chân tình. Tuy nhiên, khi đưa xác bà ra mộ, anh ta lại mời vị mục sư tin lành để làm phép hạ huyệt và ngày sau đó những người thuộc giáo phái chứng nhân Giê-hô-va đến giảng kinh. Khi biết được chuyện đó, lòng tôi buồn rười rượi và thầm thĩ cầu xin Chúa tha thứ cho họ vì họ không biết việc họ làm.

Rồi mới đây tôi được mời làm phép xác cho một cựu quận trưởng bị mafia ám sát. Người ta nói với tôi rằng ông cựu quận trưởng này rất tốt và sống chính trực. Khi tôi đến Nhà Tang Lễ dành cho những VIP trong chính quyền để cử hành nghi thức an táng, tôi đã thấy nhiều người khóc than và cứ tưởng là thật. Sau khi hoàn tất công việc và tôi hỏi hai người đàn bà đứng bên quan tài là ai thì người ta trả lời với tôi rằng một người là vợ và người kia là người tình và cả hai đang là nghi phạm trong vụ ám sát tình tiền này. Tôi lại bị lừa. Theo cách nói của cha Phêrô Khảm, niềm tin bị đánh cắp!

Một chuyện không biết là vui hay buồn cũng xin tâm sự với anh chị em để biết công việc không mấy dễ dàng mà tôi đang dấn bước để anh chị em hiệp thông cầu nguyện cho tôi. Số là khi tôi chuẩn bị dâng thánh lễ thì có hai phụ nữ Nhật chạy vào để xin tôi làm phép nhà cho họ. Như anh chị em biết người Nhật ở hải ngoại sống rất khép kín, biệt lập và luôn giữ tập tục của họ. Trong vòng 5 phút trước khi tôi dâng thánh lễ, họ vắn tắt kể cho tôi nghe những điều xui xẻo xảy ra với gia đình họ trong thời gian qua mà họ cho rằng có ai trù yểm họ khi quăng một xác sapo (con cóc) hay feto (thai nhi) không có cái đầu vào nhà họ. Họ nói tiếng Tây Ban Nha giọng Nhật nên tôi đã hiểu lầm sapo (con cóc) thành feto (thai nhi). Sau thánh lễ ban tối, tôi tức tốc đến nhà họ với môt nữ tu lớn tuổi người Paraguay để làm phép nhà và cứ đinh ninh rằng đó là thai nhi và hỏi họ đã để thai nhi đó ở đâu. Họ bảo là quăng đi mất rồi nên tôi bảo với họ là hãy cố gắng tìm lại và chôn cất cho tử tế rồi làm tuần cửu nhật cầu nguyện để xin ơn tha thứ. Trên đường về, vị nữ tu Paraguay mới kể với tôi rằng đối với Nhật, con cóc là một điềm xấu và hỏi tôi tại sao tôi bảo họ phải đi tìm con cóc để chôn! Té ra là tôi nhầm chữ nghĩa, một cái nhầm đáng tiếc và ngày hôm sau đó tôi đã nhắn với vị nữ tu này đến giải thích về sự nhầm lẫn đáng tiếc của tôi cho người phụ nữ Nhật kẻo họ cho rằng tôi là linh mục công giáo mà mê tín dị đoan.

Còn biết bao nhiêu chuyện dở khóc, dở cười ở lĩnh vực truyền giáo mới mẻ này. Thật đúng là thuyền lớn thì sóng to. Sống ở vùng đa sắc dân, đa văn hoá này mỗi ngày tôi được học nhiều điều mới mẻ và cũng phải trả những giá khá đắt. Trong Năm Thánh Linh Mục, xin anh chị em cầu nguyện thật nhiều cho vị linh mục yếu đuối và thiếu kinh nghiệm này để tôi có đủ khả năng và đức độ nhằm chống chọi và vượt qua những khó khăn thử thách trong môi trường đa văn hoá.
 

8. Lên Đường Truyền Giáo

(Mathêu VŨ)

    Chúa gọi mười hai Tông Đồ.
Sai đi từng cặp đơn sơ nhiệt thành.
    Lên đường nhẹ gót tênh tênh.
Không tiền không gạo cồng kềnh làm chi.
    Tay cầm chiếc gậy mà đi.
Đừng mặc hai áo chân thì dép thôi.
    Nơi nào tiếp đón hẳn hoi.
Cầu an chúc phúc cho người thiện tâm.
    Ai không đón tiếp ân cần.
Mau ra khỏi đó phủi chân bụi đường.
    Các ông đi khắp bốn phương.
Xức dầu trừ quỉ chữa lành bệnh nhân.
    Chúa cho bài học phòng thân.
Kính thờ Thiên Chúa bụi trần tránh xa.
    Yêu mến Chúa lánh sa hoa.
TÌNH THƯƠNG XÓT CHÚA BÀI CA NGÀN TRÙNG...
 

9. Siêu Thoát Và Phó Thác

(Cao Trí Dũng)

Để rảnh rang nhẹ nhàng khi xuất phát
Ta hạn chế tối đa khi đi xa
Tránh phiền phức và lỉnh kỉnh rầy rà
Vật dụng tuy cần…lắm khi gây cản trở

Không tiền bạc hay bao bị giỏ xách
Chúa sai đi đồ đệ chả bận tâm
Phó dâng Chúa Đấng Quyền uy Quan phòng
Họ sẽ nhận nhu cầu từ kẻ tiếp đón

Như thế vị thừa sai không bận bịu
Mà rảnh rang nhẹ nhàng khi lên đường
Điều này cần thiết khi rao giảng tình thương
Sứ mệnh Ngôn sứ chuẩn mực là như thế

Họ ra đi Chứng nhân với tiêu chí
Nó quan trọng giảng sám hối ăn năn
Đồ đệ đi không lương thực gạo tiền
Được thanh thản khỏi lắng lo…phó thác

Trong quan phòng của Thiên Chúa Quyền phép
Chính điều cần ở nơi vị Thừa sai
Để sứ mệnh Đồ đệ của chính Ngài
Các Vị trao dâng hoàn toàn cho Chúa

Mỗi chúng ta… có lẽ sẽ tự hỏi
Tại sao cần phải siêu thoát phó dâng
Là Ngôn Sứ có cần phải thế không
Cần… Hẹn mai sau một cuộc sống sung mãn
 

10. Tình Ca Nhân Chứng

(Mặc Trầm Cung)

Chúa gọi con đi làm nhân chứng,
Loan Tin Mừng giữa những gian nan.
Niềm tin phó thác lên đàng,
Chẳng mang tiền bạc chẳng màng bánh cơm.

Dựa vào Chúa hoa đơm kết trái,
Dẫu bấp bênh chẳng ngại ra đi.
Hành trang ơn Chúa phù trì,
Mật thiết cầu nguyện sợ gì khó khăn.

Nhờ ơn Chúa chúc lành ban phước,
Sống khó nghèo, khiêm nhượng, đơn sơ.
Sóng con lướt nhẹ vào bờ,
Đời con tín thác nương nhờ Chúa thôi.

Đời nhân chứng bồi hồi cảm xúc,
Cảnh đói nghèo, tủi nhục tha nhân.
Đón người chẳng chốn nương thân,
Cảm thông chia sẻ tình thân với đời.

Nêu gương sáng rạng ngời cuộc sống,
Là chứng nhân sống động trung kiên.
Anh em liên đới mọi miền,
Sáng Danh Thiên Chúa diệu huyền lời ca.

Hân hoan vui bước đường xa.